Tải bản đầy đủ - 92 (trang)
Đường cao vị trí là một đường tổng hợp. Gradien của đường cao vị trí.

Đường cao vị trí là một đường tổng hợp. Gradien của đường cao vị trí.

Tải bản đầy đủ - 92trang

SinA = Cosδ.Sint
L
.Cosecz Hệ công thức này không phải xét dấu.
2. Các tính chất của đường cao vị trí. 2.1 Tính chất gần đúng.
Hình chiếu của vòng đẳng cao lên hải đồ Mercator là một đường cong phức tạp. Ta lại thay thế một phần của đường cong đó bằng một đoạn thẳng tiếp tuyến, tức là đường cao
vị trí. Như vậy, rõ ràng là khơng có một sự chính xác tuyệt đối. Sai số đó sẽ càng lớn nếu vị trí dự đốn càng cách xa vị trí thực của tàu. Trong thực tiễn hàng hải sai số cho phép trong vị trí
dự đốn phải nằm trong giới hạn 30 hải lý. Vậy đường cao vị trí là gần đúng. 2.2 Đường cao vị trí khơng phụ thuộc vào vị trí dự đốn.
Về mặt ngun tắc của phương pháp Marc St Hilaire thì để tính tốn các yếu tố của đường cao vị trí ta có thể thừa nhận bất cứ điểm nào trên bề mặt Trái đất mà khơng nhất
thiết phải là vị trí dự đốn. Nhưng vì tính chất gần đúng của đường cao vị trí mà khoảng cách xa của điểm được thừa nhận đó so với vòng đẳng cao khơng được vượt q 0
5. Một khi đã nằm trong giới hạn cho phép này thì ta có thể thừa nhận bất kỳ điểm nào làm vị trí
dự đốn cũng được. Trên Hình 7.2, nếu thay đổi vị trí dự đốn
M
C
thì thiên đỉnh Z
C
cũng thay đổi theo tương ứng và do đó sẽ hình thành tam giác thị sai mới.
Tuy nhiên, ở cùng thời điểm đó, vị trí của vòng đẳng cao nhận được bằng độ cao quan trắc h
sẽ giữ nguyên không đổi. Điều này có nghĩa là: khi
tính các yếu tố của đường cao vị trí từ các tam giác được hình thành từ các vị trí dự đốn khác
nhau, nhưng có cùng các giá trị h
, t
G
và δ, thì ta sẽ nhận được các giá trị khác nhau của n = h
- h
C
và phương vị A
C
Hình 7.2 Sự khác nhau của các A
C
này rất không đáng kể với điều kiện khoảng cách giữa vị trí dự đốn và vòng đẳng cao nằm trong giới hạn cho phép nói trên nên bỏ qua. Còn lại các
giá trị của n là khác nhau. Tuynhiên, nếu cuối cùng thao tác các A
C
và n tính được từ tất cả các vị trí dự đốn thì ta sẽ nhận được và chỉ một đường cao vị trí mà thơi.
Lưu :Tính chất này cho phép ta chọn một vị trí có tọa độ chẵn ở gần vị trí dự
đốn của tàu, giúp cho việc tính tốn A
C
và h
C
dễ dàng hơn ví dụ ta có thể bỏ đi phần giây hay phút lẻ của tọa độ vị trí dự đốn.

2.3 Đường cao vị trí là một đường tổng hợp.


Những phương pháp xác định riêng rẽ tọa độ φ hay λ
của vị trí quan trắc là những trường hợp riêng của phép giải phương trình:
Sinh = Sinδ. Sinφ + Cosδ. Cosφ. Cos t
G
± λ
E W
Đối với một độ cao quan trắc của một thiên thể nào đó, trong phương pháp vĩ độ, ta coi kinh độ là đã biết, còn trong việc xác định kinh độ ta coi vĩ độ là đã biết.
Page 57
Giả sử điểm M
C
φ
C

C
là vị trí dự đốn của tàu. Theo phương pháp Marc St Hilaire vạch được đường cao vị trí I I theo những đối số đã biết là h
, δ và t
L
của một thiên thể nào đó.
Bây giờ, nếu giả sử dùng phương pháp vĩ độ, tức là ta cho λ
C
vào công thức một giá trị ta tính được φ’
. Điểm D
1
φ’ ; λ
C
phải nằm trên đường cao vị trí. Nếu thay đổi vị trí dự đốn và thừa nhận kinh độ dự đốn mới là λ’
C
thì từ cơng thức ta sẽ tính được một vĩ độ quan trắc mới là φ”
, và điểm vị trí quan trắc D
2
φ” ; λ’
C
cũng phải nằm trên đường cao vị trí. Vậy, vĩ độ quan trắc của vị trí là vĩ độ của giao điểm của kinh tuyến dự đoán được thừa nhận và đường cao vị trí. Lập luận tương tự cho phương
pháp kinh độ cũng của trường hợp trên.
Như vậy ta có thể kết luận là những bài toán xác định vĩ tuyến của vĩ độ quan trắc và kinh tuyến của kinh độ quan trắc chỉ là những trường hợp riêng của bài tốn chung vạch
đường cao vị trí. Từ Hình 7.3 ta nhận thấy:
- Khi A = 0 180
, tức là khi thiên thể đi qua kinh tuyến người quan sát thì đường cao vị trí trùng
với đường vĩ tuyến, và đây là điều kiện thuận lợi nhất để xác định vĩ độ người quan sát.
- Khi A = 90 270
, tức là khi thiên thể đi qua vòng thẳng đứng gốc thì đường cao vị trí trùng với
đường kinh tuyến và đây là thời điểm thuận lợi nhất để xác định riêng kinh độ người quan sát.

2.4 Gradien của đường cao vị trí.


Gradien đường cao vị trí bằng 1. Theo tốn học ta đã có định nghĩa: Gradient
là giới hạn của số gia hàm số trên số Hình 7.
gia đối số, nó chuyển dịch theo hướng vng góc với hướng dịch chuyển của hàm số khi số gia đối số trên tiến dần đến 0.
g =
lim
∆n→0
∆u ∆n
Trong đó Δu = fφ ,λ
- fφ
C

C
= h - h
C
Tức là Δu = Δh. Còn Δn đại lượng dịch chuyển của đối số nó cũng chính bằng Δh.
Như vậy: khi độ cao thiên thể thay đổi 1’ thì đường đẳng cao sẽ dịch chuyển đi 1
hải lý, tức là ta có: g =
lim
∆ h→0
∆h ∆h
= 1. Còn hướng chuyển dời vng góc với đường vị trí có nghĩa là nó trùng với phương
vị thiên thể A
C
từ vị trí dự đốn. Vậy Gradient của đường cao vị trí bằng 1, có nghĩa là khi có sai số trong đường cao
vị trí thì bản thân đường cao vị trí sẽ dịch chuyển tịnh tiến trên phương vị của nó một đoạn chính bằng đại lượng sai số đó.
3. Cách vẽ đường cao vị trí. 3.1 Sự sắp xếp của đường cao vị trí so với vị trí dự đốn Hình 7.4a,b,c.
Page 58
M
C
A
C
n = h
C
- h a
K I
I 90
- h
C
90 - h
h h
h
C
h
C
b n 0
n 0 M
C
A
C
a K
I I
90
- h 90
- h
C
n = h
C
- h h
C
h
C
h h
a M
C
≡ K A
C
a I
I 90
- h 90
- h
C
n = h
C
- h c
n = 0 h
C
≡ h
Hình 7.4
Trong thực tế, vị trí dự đốn của tàu có thể nằm ngồi vòng đẳng cao như hình a hoặc trong vòng đẳng cao như hình b, hoặc thậm chí ngay trên vòng đẳng cao như điểm M’’
C
trên hình c.
Page 59
-
Trong trường hợp a, đại lượng n = h - h
C
sẽ dương vì bán kính của vòng đẳng cao tính
tốn sẽ lớn hơn bán kính vòng đẳng cao quan trắc. Điểm xác định K sẽ nằm về phía cực
chiếu sáng so với vị trí dự đốn M
C
.
-
Trong trường hợp b, n sẽ âm vì bán kính vòng đẳng cao tính tốn nhỏ hơn vòng đẳng cao quan trắc. Điểm xác định K sẽ nằm ở phía rời xa cực chiếu sáng so với vị trí dự
đốn M’
C
.
-
Trong trường hợp c, vị trí dự đốn M
C
’’ nằm ngay trên vòng đẳng cao thì đoạn dịch chuyển n = 0 vì khi đó h
= h
C
, điểm xác định sẽ trùng với điểm vị trí dự đốn M
C
’’.
Trên cơ sở những điều vừa trình bày, có thể rút ra những quy tắc thực hành cần phải tuân thủ khi thao tác đường cao vị trí trong những trường hợp khác nhau.
-
Từ vị trí dự đốn kẻ một phương vị tính tốn A
C
của thiên thể và đánh dấu hướng tới thiên thể bằng một mũi tên.
-
Từ điểm vị trí dự đoán, đặt theo hướng phương vị vừa kẻ một đoạn thẳng bằng khoảng cách dịch chuyển n = h
- h
C
theo hướng về phía thiên thể nếu n 0, theo hướng rời xa thiên thể nếu n 0. Đầu mút của đoạn thẳng vừa đặt là điểm xác định K.
-
Từ điểm xác định K vừa nhận được vạch một đoạn thẳng vng góc với đường phương vị. Đó chính là đường cao vị trí. Nếu n = 0, thì đường cao vị trí vng góc với đường
phương vị và đi qua vị trí dự đốn.

3.2 Cách vẽ đường cao vị trí trên hải đồ Mercator.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Đường cao vị trí là một đường tổng hợp. Gradien của đường cao vị trí.

Tải bản đầy đủ ngay(92 tr)

×