Tải bản đầy đủ - 21 (trang)
Kết quả hoạt động quản lý rừng bền vững 1. Ở cấp Trung ương

Kết quả hoạt động quản lý rừng bền vững 1. Ở cấp Trung ương

Tải bản đầy đủ - 21trang

8
- Chưa có chính sách đào tạo, giáo dục và phổ cập về quản lý rừng bền vững cho học sinh, sinh viên. Nên cán bộ sau khi tốt nghiệp đại học lâm nghiệp
hoặc các chuyên ngành liên quan chưa được giới thiệu về quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng, chưa biết lập kế hoạch quản lý rừng bền vững, chưa biết xây
dựng cơ sở dữ liệu, công tác giám sát và đánh giá….
- Thực tế cho thấy, tại các cơ quan lâm nghiệp ở trung ương và địa phương phần lớn 68 số người được phỏng vấn cho rằng khung chính sách hiện nay
chưa phù hợp với yêu cầu của quản lý rừng bền vững; chỉ có rất ít 32 số người được phỏng vấn nói là khá phù hợp Kết quả điều tra đánh giá nhu cầu đào tạo về
quản lý rừng bền vững do ORGUT thực hiện vào tháng 92007.
Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng thiếu hiểu biết về quản lý rừng bền vững nêu trên là do:
- Thiếu các văn bản quy phạm pháp luật lâm nghiệp mà trong đó đưa ra các tiêu chí để quản lý rừng bền vững; các hướng dẫn kỹ thuật để thực hiện các hoạt
động liên quan đến quản lý rừng bền vững. - Các nhà hoạch định chính sách lâm nghiệp chưa đề ra các giải pháp cụ thể
và mạnh mẽ để chuyển đổi từ quản lý rừng truyền thống sang quản lý rừng bền vững; thiếu sự học hỏi kinh nghiệm các nước, nhất là các nước trong khu vực
Châu Á-Thái Bình Dương.
- Các trường đại học lâm nghiệp hoặc đại học nông lâm chưa đổi mới kịp thời giáo trình cho phù hợp với phương pháp tiếp cận tiên tiến trong quản lý rừng
nên trong chương trình giảng dạy của nhà trường chưa coi Quản lý rừng bền vững là môn học độc lập mà thường được lồng ghép với các môn chuyên môn khác như:
Quy hoạch sử dụng đất; Thiết kế kinh doanh rừng; Trồng rừng và Khai thác rừng....
- Ngành lâm nghiệp chưa đưa ra được lộ trình của quá trình đạt được quản lý rừng bền vững đối với các loại rừng, mà trước mắt là hơn 10 triệu ha rừng được
quy hoạch là lâm phận ổn định quốc gia. Nhưng lại ít chú trọng và đầu tư xây dựng mơ hình quản lý rừng bền vững để rút kinh nghiệm.
Vì vậy, việc xây dựng và bổ sung để hồn thiện khn khổ chính sách và các quy định về kỹ thuật liên quan đến quản lý rừng bền vững đang là u cầu cấp
bách hiện nay. Chỉ có như thế thì chủ trương quản lý rừng bền vững trong sản xuất kinh doanh lâm nghiệp mới trở thành hiện thực.
4. Kết quả hoạt động quản lý rừng bền vững 4.1. Ở cấp Trung ương
4.1.1. Tuyên truyền, tập huấn đào tạo về quản lý rừng bền vững: Ở Việt Nam, công tác tuyên truyền về quản lý rừng bền vững bắt đầu được tiến hành từ đầu
năm 1998 chủ yếu do Tổ công tác quốc gia thực hiện với sự hỗ trợ của các tổ chức như: Quỹ rừng nhiệt đới TFT, Dự án cải cách hành chính REFAS của GTZ,
9
WWF Đơng dương…Hình thức phổ cập về quản lý rừng bền vững rất phong phú, gồm: hội nghị, hội thảo quốc gia, vùng, tỉnh; giảng dạy, tập huấn và phổ cập kiến
thức 4.1.2. Xây dựng kế hoạch chiến lược và các hoạt động quản lý rừng bền vững, bao
gồm:
a. Trong Chiến lược phát triển lâm nghiệp, giai đoạn 2006-2020 có 5 chương trình trọng điểm là:
1 Quản lý và phát triển rừng bền vững 2 Bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển dịch vụ môi trường
3 Chế biến thuwong mại lâm sản 4 Nghiên cứu, giáo dục, đào tạo và khuyến lâm
5 Đổi mới thể chế, chính sách, kế hoạch, giám sát ngành Trong đó, chương trình quản lý rừng bền vững là trọng tâm với 3 nội dung
chính của chương trình là: 1 Xây dựng và hồn thiện các điều kiện cần thiết để quản lý rừng bền
vững; như: i Thiết lập lâm phận ổn định trên cơ sở quy hoạch 3 loại rừng; ii Hoàn thiện hệ thống đánh giá tài nguyên rừng, cơ sở dữ liệu; iii Cải cách quyền
sở hữu, quyền sử dụng rừng bằng giao khốn, cho th; iv Hồn thiện các tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững, lâm sinh, sử dụng rừng.
2 Thực hiện quản lý bền vững rừng tự nhiên; gồm: i Xây dựng và thực hiện phương án điều chế rừng Kế hoạch quản lý rừng; ii chứng chỉ rừng.
3 Thực hiện quản lý rừng bền vững cho rừng trồng; gồm: i Quy hoạch rừng nguyên liệu gắn kết với chế biến trong mọi thành phần kinh tế; ii Cải thiện
giống, phương thức lâm sinh, sản lượng và điều chế rừng; iii Thử nghiệm và mở rộng chứng chỉ rừng trồng mọi quy mô, mọi thành phần kinh tế.
Một chương trình quan trọng khác của Chiến lược đã được tập trung vào là: Bảo vệ, bảo tồn rừng và cung cấp dịch vụ mơi trường. Chương trình này được kết
nối chặt chẽ với chương trình quản rừng bền vững; vì cả hai chương trình sẽ rất cần thiết trong việc đạt được quản lý bền vững đối với tất cả các loại rừng ở Việt
Nam. 4.1.3. Xây Xây dựng lộ trình thực hiện quản lý rừng bền vững: Theo đề xuất của
Viện Quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng thì sẽ có hai giai đoạn: Giai đoạn 1 2006-2010: Xây dựng các điều kiện cần và đủ để tiến hành quản lý bền vững
rừng tự nhiên và rừng trồng. Giai đoạn 2 sau năm 2010: Tiến hành quản lý rừng bền vững.
4.1.4. Xây dựng các điều kiện để quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng
10
- Ở Việt Nam hiện nay, do diện tích lâm phận ổn định chưa được xác định trên thực địa, quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp chưa hoàn chỉnh; chất lượng rừng
thấp; độ che phủ rừng thấp…Vì vậy, để tiến hành quản lý bền vững rừng tự nhiên và rừng trồng; trước mắt cần xây dựng “các điều kiện cần và đủ”; việc làm này
được thực hiện trong giai đoạn 2006-2010; với các hoạt động sau: i Tiếp tục dự án 661 để có đủ diện tích rừng phòng hộ và rừng sản xuất. ii Rà soát và quy
hoạch lại 3 loại rừng rừng phòng hộ và rừng sản xuất và rừng đặc dụng. iii Quy hoạch sử dụng đất vĩ mô
- Đồng thời với việc “xây dựng các điều kiện cần và đủ”, tại những khu rừng đã có đủ điều kiện như: có quy hoạch sử dụng đất lâu dài đã hợp lý, có diện
tích và ranh giới rừng ổn định thì vẫn tiến hành việc quản lý rừng bền vững. 4.1.5. Thực hiện chứng chỉ rừng:
- Hiện nay, Viện Quản lý rừng bền vững và Chứng chỉ rừng thuộc Hội KH-KT Lâm nghiệp Việt Nam đã dự thảo xong Tiêu chuẩn cấp chứng chỉ rừng,
đang trình Tổ chức chứng chỉ rừng của thế giới công nhận. Do vậy, việc cấp chứng chỉ rừng ở Việt Nam chưa được thực hiện mà đang trong q trình thí điểm
cấp chứng chỉ và xây dựng lộ trình để cấp chứng chỉ rừng. Đến năm 2006, ở Việt Nam mới có một đơn vị duy nhất được cấp chứng chỉ rừng của FSC với diện tích
9.904 ha rừng trồng của Cơng ty liên doanh trồng rừng New O.J tại Quy Nhơn Bình Định.
Theo đề xuất của Viện quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng thì lộ trình cấp chứng chỉ rừng từ 2006 đến 2020, như sau:
- Xây dựng bộ tiêu chuẩn Quản lý rừng bền vững quốc gia: Đã hoàn thành dự thảo tiêu chuẩn quốc gia với 10 nguyên tắc, 55 tiêu chí và 158 chỉ số và các
kiểm chứng phản ánh đặc thù về chính sách và tập quản sản xuất lâm nghiệp của Việt nam, đã trình FSC và đang chờ thẩm định.
- Tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức về Chứng chỉ rừng cho các chủ rừng và các bên liên quan, cho cộng đồng dân cư sống trong rừng và gần rừng.
- Đào tạo năng lực về nghiệp vụ cấp chứng chỉ rừng cho cán bộ lâm nghiệp - Đánh giá chất lượng quản lý từng khu rừng do chủ rừng thực hiện 2008-
2010 - Tổ chức mạng lưới các mơ hình Quản lý rừng bền vững tự nguyện 2006-
2015 - Cấp chứng chỉ rừng 2008-2020.
4.6. Các hoạt động khác liên quan đến thực hiện quản lý rừng bền vững: - Hợp pháp hóa lâm nghiệp cộng đồng; ví dụ: giao các quyền sử dụng và
quản lý rừng cho cộng đồng theo Luật Bảo vệ và PTR năm 2004.
11
- Các hoạt động về xây dựng các hướng dẫn, thủ tục, tài liệu đào tạo, chương trình khuyến lâm….hỗ trợ cơng tác quản lý rừng cộng đồng.
- Xây dựng các phương pháp tiếp cận lập kế hoạch quản lý rừng bền vững. - Sự tham gia vào các sáng kiến “Thực thi pháp luật lâm nghiệp và thương
mại gỗ” - FLEGT và nỗ lực để giảm khai thác gỗ và săn bắn bất hợp pháp các loài động vật hoang dã.
4.2. Ở cấp địa phương Một số hoạt động liên quan đến quản lý rừng bền vững đã và đang diễn ra ở cấp
địa phương , bao gồm: 4.2.1. Hiện nay các chủ rừng đang sử dụng “Điều chế rừng” như một công cụ,
một phương pháp truyền thống để quản lý rừng: “Điều chế rừng là xây dựng một kế hoạch tác nghiệp cụ thể, chỉ rõ thời gian và các biện pháp kỹ thuật thích hợp
cho từng khoảnh, tiểu khu rừng, trong một hay nhiều luân kỳ khai thác, để tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều hành và thực thi sản xuất, nhằm đảm bảo cho rừng sản
xuất được lâu dài, liên tục với năng suất, chất lượng cao, bền vững” Điều 2, QĐ 402005QĐ-BNN. Thực chất của Phương án điều chế rừng là xây dựng kế hoạch
tác nghiệp cụ thể, trong đó đưa ra thời gian và các biện pháp kỹ thuật thích hợp cho từng khoảnh, tiểu khu trong một hay nhiều chu ký khai thác.
Tuy nhiên, khi sử dụng “Điều chế rừng” để quản lý rừng cũng bộc lộ nhiều hạn chế nhất định, rõ nét nhất là nội dung phương án điều chế Điều 8 của Quyết
định 40, chủ yếu là xây dựng kế hoạch khai thác, kinh doanh rừng từng năm, 5 năm của đơn vị. Trong khi đó, hàng loạt các hoạt động liên quan đến mục tiêu bảo
vệ môi trường và mục tiêu xã hội lại chưa được Phương án điều chế quy định một cách cụ thể.
Từ đó dẫn đến phương án điều chế rừng hiện nay của các chủ rừng thường tập trung vào việc đảm bảo mục tiêu kinh tế của rừng, nghĩa là rừng cho nhiều sản
phẩm, có năng suất cao và lâu dài liên tục. Nên các mục tiêu quan trọng khác như môi trường và xã hội lại chưa được chú ý đúng mức đến trong phương án điều chế
rừng của các đơn vị sản xuất.
Khảo sát tình hình tại 5 tỉnh: Hòa Bình, Thái Ngun, Thanh Hóa, Đắc lắc và Ninh Thuận, gần đây cho thấy các đơn vị quản lý cơ sở lâm trường, cơng ty
lâm nghiệp, ban quản lý rừng phòng hộ... chỉ tập trung vào việc lập kế hoạch khai thác hoặc trồng rừng theo các chỉ tiêu kế hoạch được giao từ cấp trên còn các nội
dung xã hội và mơi trường thường làm sơ sài. Nguyên nhân của tình trạng trên là thiếu một văn bản hướng dẫn lập kế hoạch quản lý rừng bền vững trên cả ba
phương diện kinh tế, xã hội và môi trường cho một đơn vị quản lý rừng cấp cơ sở Quy phạm thiết kế kinh doanh rừng năm 84 cũng chỉ hướng dẫn chi tiết về việc
lập các kế hoạch tác nghiệp lâm nghiệp.
12
4.2.2. Thí điểm về quản lý rừng bền vững tại lâm trường: Trong khn khổ hoạt động của “Chương trình sử dụng và quản lý rừng bền vững rừng tự nhiên và tiếp
thị lâm sản” do GTZ tài trợ, thí điểm về quản lý rừng bền vững được thực hiện tại 5 lâm trường thuộc Thanh Hóa, Ninh Thuận, Yên Bái, Hòa Bình và Đắc Lắc.
Ngồi ra, WWF cũng đang thí điểm quản lý rừng bền vững tại 2 lâm trường. 4.2.3. Thí điểm Cấp chứng chỉ rừng “theo nhóm” tại Yên Bái do Viện Quản lý
rừng bền vững và chứng chỉ rừng thực hiện nhằm giúp các chủ rừng quy mô nhỏ tiếp cận được với việc cấp chứng chỉ rừng. Theo thí điểm này, một số tổ chức địa
phương đóng vai trò “trung gian” giữa tổ chức cấp chứng chỉ và những nhà sản xuất gỗ nhỏ để để giúp họ nhận chứng chỉ “theo nhóm”. Cấp chứng chỉ “theo
nhóm” đã được áp dụng thành cơng ở các nước Đông và Tây nước Anh và Papua New Guinea trong khn khổ chương trình sinh thái lâm nghiệp do EU tài trợ.
4.2.4. Quỹ rừng nhiệt đới TFT tại Việt nam đang tiến hành hỗ trợ thực hiện quản lý rừng và chững chỉ rừng cho các đơn vị quản lý rừng sau: Công ty lâm nghiệp
Lơ Ku và Công ty lâm nghiệp Hào Quang tỉnh Đăk Nông; Trạm Lập tỉnh Gia Lai; Công ty lâm nghiệp Long Đại tỉnh Quảng Bình; Cơng ty lâm nghiệp Bảo Yên tỉnh
Lào Cai.
Tóm lại: Mặc dù trong Chiến lược phát triển lâm nghiệp đã được đặt ra là: sử dụng bền vững 8,4 triệu ha rừng sản xuất phấn đấu ít nhất có được 30 diện
tích có chứng chỉ rừng; 5,6 triệu ha rừng phòng hộ và 2,16 triệu ha rừng đặc dụng. Nhưng đến nay vẫn chưa xác định được diện tích lâm phận ổn định quốc gia
nêu trên đế có kế hoạch quản lý rừng bền vững. Cho nên có thể nói một cách tổng quát: Tại các địa phương đến nay chưa có nơi nào tiến hành quản lý rừng bền
vững; chưa có một diện tích rừng nào được quy hoạch và có kế hoạch đưa vào quản lý rừng bền vững.

5. Những khó khăn, trở ngại khi thực hiện quản lý rừng bền vững


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Kết quả hoạt động quản lý rừng bền vững 1. Ở cấp Trung ương

Tải bản đầy đủ ngay(21 tr)

×