1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Khoa học tự nhiên >

Vincristine [1] Ứng dụng trong y học .1Vinblastin [1]

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1015.25 KB, 50 trang )


Điều kiện lưu trữ: tủ lạnh từ 36 – 46 F giữa 2,2 – 7,8
C. Thuốc có thể được bảo quản trong 30 ngày kể từ ngày sản xuất.
2.2.5.2 Vincristine [1]
Tên biệt dược: Vincran Dạng bào chế: dung dịch tiêm
Thành phần: Vincristine sulfate
Hình 14: Sản phẩm và cấu trúc hóa học của vincristine sulfate
Vincristine được sự chấp thuận của Food and Drug Administration FDA của Mỹ vào tháng 71963 như Oncovin. Là một trong những thuốc chống ung thư được dùng
rộng rãi nhất, đặc biệt có ích đối với các bệnh ung thư máu, thường được dùng để làm thuyên giảm bệnh bạch cầu lympho cấp.
Nó được dùng trong liệu pháp phối hợp thuốc, là lựa chọn hàng đầu để điều trị bệnh Hodgkin, u bạch huyết không Hodgkin, ung thư biểu mô phổi, u Wilm một loại u
thận phổ biến ở trẻ em, bạch cầu tủy, sarcoma Ewing và sarcoma cơ vân. Phối hợp thuốc chứa vincristine là lựa chọn hàng thứ hai cho ung thư biểu mô vú,
ung thư cổ tử cung, u nguyên bào thần kinh và bệnh bạch cầu lympho mãn tính. Một số chuyên gia ưa dùng vincristine chỉ để làm thuyên giảm và không dùng
trong điều trị duy trì vì việc sử dụng kéo dài sẽ gây độc hại thần kinh. Sự kháng vincristine có thể phát triển trong q trình điều trị. Vincristine gây giảm bạch cầu nên
phải đếm số lượng bạch cầu trước mỗi liều.
 Tác dụng phụ:
Thường bắt đầu với buồn nơn, nơn, táo bón, co cứng cơ bụng, sút cân nhưng sẽ phục hồi nhanh. Thuốc cũng có thể gây những phản ứng chậm phục hồi như rụng tóc và
bệnh thần kinh ngoại biên. Những tai biến nặng về thần kinh có thể xảy ra như mất những phản xạ gân sâu,
viêm đau thần kinh, tê các chi, nhức đầu, mất điều hòa. Những khuyết tật thị giác, liệt nhẹ hoặc bại liệt và teo một số cơ duỗi có thể xảy ra chậm. Liệt những dây thần kinh số
2, 3, 6 và 7 cũng có thể xảy ra. Các tai biến thần kinh có thể kéo dài trong nhiều tháng. Tăng huyết áp nặng, tình trạng kích động hoặc trầm cảm cũng có thể xảy ra nhất thời.
Thuốc gây độc tại chỗ, cần tránh sự tràn thuốc ra ngoài, tốt nhất nên cho dùng thuốc
22
bằng cách tiêm truyền tĩnh mạch. Vincristine được nhanh chóng thải trừ khỏi máu, 70 thuốc được thải trong mật. Trong bệnh vàng da tắc mật, độc tính thuốc lớn hơn và cần
giảm liều. Khoảng 12 thuốc được thải trừ trong nước tiểu. Vincristine không vào trong não, do đó khơng dùng cho bệnh bạch cầu hệ thần kinh trung ương.
Thận trọng lúc dùng: Vincristine gây độc hại cho thai. Ðối với phụ nữ còn khả năng sinh đẻ, cần dùng các biện pháp tránh thai. Phụ nữ đang điều trị với Vincristine
cũng như Vinblastine không được cho con bú. Vinscristine khác với hầu hết các thuốc chống ung thư khác ở chổ sự ức chế tủy xương khơng xảy ra thường xun, do đó nó
được dùng trong các phối hợp thuốc. Tuy vậy có giảm bạch cầu và phải đếm số lượng bạch cầu trước mỗi liều. Việc sử dụng thường bị hạn chế bới tác dụng độc về thần kinh.
 Liều dùng:
Tiêm tĩnh mạch mỗi tuần một lần trong bệnh bạch cầu lymphơ cấp tính của trẻ dưới 12 tuổi, bắt đầu 0,03 - 0,075 mgkg cho trẻ em 10 tuổi và 0,05 - 0,15 mgkg cho trẻ
em 1 tuổi, 1 liều trong tuần đầu,tiếp theo bởi những trị số gia tăng hàng tuần 0,025 mgkg cho tới 1 liều tối đa 0,15mgkg.
Sau đó dùng 1 thuốc khác để duy trì, ở những bệnh nhân từ 12 – 20 tuổi, tiêm tĩnh mạch 1,5 – 4,5mgm
2
diện tích bề mặt cơ thể một lần trong 1 tuần cùng với prednisone uống 40mgm
2
, 1 lần trong mỗi ngày, cho tới khi đạt sự thuyên giảm bệnh. Dùng những thuốc khác để duy trì.
Người lớn: 0,025 – 0,075 mgkg, mỗi tuần 1 lần, tùy theo những tác dụng phụ và hiệu quả điều trị mà điều chỉnh liều khi cần thiết.
Điều kiện lưu trữ: giữ ở 2-8 C, bảo quản lạnh, không làm đông, tránh ánh sáng.

CHƯƠNG 3:


PHƯƠNG PHÁP CHIẾT TÁCH
3.1 Phương pháp chiết tách dùng chất lưu siêu tới hạn 3.1.1 Khái niệm chiết suất siêu tới hạn:
Là quá trình phân tách một hay một số chất từ hỗn hợp dược liệu, hỗn hợp nguyên liệu bằng cách sử dụng chất lỏng CO
2
siêu tới hạn như một dung môi. Khi ở trạng thái này CO
2
có đặc tính về độ tan tương tự như một chất lỏng đồng thời có khả năng khuếch tán và độ nhớt gần với chất khí, nhờ vậy chúng có khả năng khuếch tán và hòa
tan nhanh các hoạt chất trong nguyên liệu. Gore 1891 là người đầu tiên phát hiện ra khả năng hòa tan tốt của Naphtalen và Camphor trong CO
2
lỏng. Sau đó Andrews 1875 đã nghiên cứu về đặc tính của CO
2
ở trạng thái siêu tới hạn. Tuy nhiên, tới đầu những năm 1970 công nghệ chiết xuất các hợp chất tự nhiên bằng dung môi CO
2
siêu tới hạn SC-CO
2
mới thực sự phát triển và đi vào ứng dụng trong công nghiệp thực phẩm, mỹ phẩm, dược phẩm như: loại cafein trong cà phê và chè xanh, chiết xuất dầu vừng
23

Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (50 trang)

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×