1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Khoa học tự nhiên >

Nuôi cấy mô phân sinh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1015.25 KB, 50 trang )


được kết hợp với việc sử dụng những chất điều hòa sinh trưởng thực vật như kinetin và β-indolylacetic acid IAA đã được thực hiện bởi Abou-Mandour và cộng sự 1979.
Phương pháp cho tần số cây C.roseus tái sinh cao bằng cách là tạo phôi soma đã được mô tả bởi Kin và cộng sự 1994. Tác giả thu được những mô sẹo từ bao phấn của
cây C.roseus sử dụng môi trường MS rắn bổ sung NAA 1.0 mgl và kinetin 0.1 mgl MSNK. Những phơi soma được hình thành sau khi chuyển những mô sẹo này vào môi
trường MSNK lỏng. Những cây được trồng như vậy sẽ có cùng số nhiễm sắc thể như là cây trồng từ hạt 2n=16.
Pietrosiuk và cộng sự 1999 đã thành lập hai dòng mơ sẹo C.roseus trắng và xanh hình 17d, e trên môi trường Gamborg rắn bổ sung với 0.1 mgl kinetin và 1.0 mgl
IAA. Mô sẹo được lấy từ những đoạn trụ dưới lá mầm của cây C.roseus giống. Dòng mơ sẹo trắng đã được chọn từ những mô xanh phát triển trong pha tĩnh. Trái ngược với
sự rắn chắc của dòng mơ sẹo màu xanh, dòng màu trắng lại mịn và mềm. Phương pháp HPLC đã phân tích các chất chiết từ mơ sẹo của cả hai dòng mơ sẹo xanh và mô sẹo
trắng chỉ cho thấy các indole alkaloid tồn tại ở dạng vết nhưng khơng có dược tính. 4.2.3 Nuôi hạt nhân tạo
Krueger và cộng sự 1982 đã tạo ra được cây có lá ni cấy từ hạt C.roseus nảy mầm vô trùng trên môi trường Murashige và Skoogs Revised Tobacco MS RT có bổ
sung benzyladenine BA, với đặc điểm là nhân giống nhanh chóng và sản xuất được các alkaloid như vindoline, ajmalicine, sitsiriline, tetrahydroalstonine và serpentine. Q
trình ni cấy cho thấy sự phát triển và sản xuất vindole nhanh chóng và rất nhiều hỗn hợp alkaloid khác, bao gồm cả những alkaloid khơng được tìm thấy ở cây nguyên vẹn.
Miura và cộng sự 1988 đã cô lập đựơc vinblastine từ những chồi non C.roseus nuôi cấy được lấy từ những cây con nảy mầm từ hạt. Lượng vinblastine thu đựơc là
15μgg chất khô và cao hơn trong mô sẹo Miura et al. 1987. Kết quả này cho thấy rằng là sự sản xuất vinblastine thì liên quan đến sự hình thành chồi.

4.2.4 Ni cấy mơ phân sinh


Sự nhân giống cây từ những mô phân sinh hiện nay là một phương pháp hữu ích để sản xuất nhanh sinh khối phục vụ cho y học. Nó cho phép khả năng tái tạo một kiểu
gen ổn định và không thay đổi. Alen và cộng sự 1995 đã đề xướng việc nhân giống in vitro C.roseus bằng cách
nuôi dưỡng mô phân sinh ngọn và chồi nách từ những cây được ni trong nhà kính. Các tác giả đã sử dụng mơi trường MS cơ bản có bổ sung BA và 2,4-D ở nồng độ thấp.
Những chồi nách này sẽ hình thành chồi ngọn sau 4-5 tuần ni cấy. Một phần những cành đã nhân giống được chuyển vào ni cấy tiếp trong mơi trường tự do. Sau đó
chúng được cắt và cho tạo rễ in vitro trong môi trường MS được bổ sung với NAA và phát triển trong nhà kính với độ ẩm tương đối 100. Trong cả 2 trường hợp đều thành
công.
Furmanowa và cộng sự 1991, 1994 đã thành công trong việc áp dụng phương pháp này cho sự nhân giống cây C.roseus. Tác giả đã tái sinh những cây con từ chồi
ngọn và chồi nách. Những chồi ngọn đã được cắt từ những cây con 7 ngày tuổi và nuôi
41
trong môi trường rắn Nitsch và Nitsch NN Nitsch và Nitsch 1969 được bổ sung thêm kinetin, bezyladenine, indole-3-butyric acid IBA và IAA kết hợp với nhau. Sau 2 tháng
ni cấy những cây con có rễ được cắt và chuyển vào môi trường mới. Những cây này phải gồm có chồi ngọn hoặc chồi nách. Khoảng 200 cây con đang mọc rễ hình 17a, b
đã được thu từ một cây con. Sau đó chúng sẽ phát triển trong nhà mái vòng bằng nhựa và trong nhà kính hình 1c. Sau 5 tháng sinh trưởng chúng được thu nhận, sấy và cân.
Việc phân tích thành phần hóa học của lá được thực hiện. Vindoline và catharanthine chiếm ưu thế trong giai đoạn còn non của cây trước khi ra hoa. Hàm lượng alkaloid
tổng trong lá của những cây được nuôi cấy in vitro rồi mới chuyển sang mơi trường đất thì cao hơn những cây trồng chỉ trong đất.
Hình 18: Sản phẩm mơ sẹo và cây mọc từ hạt nhân tạo
a Cây C.roseus đã mọc rễ phát triển từ mô phân sinh ngọn trên môi trường NN bổ sung với 0.1 mgl kinetin và 0.5 mgl IBA sau 1 tuần nuôi cấy.
b Cây C.roseus đang ra hoa phát triển từ mô phân sinh ngọn trên môi trường NN bổ sung với 0.1 mgl kinetin và 0.5 mgl IBA sau 6 ngày chuyển qua.
c Cây C.roseus đang ra hoa trong nhà kính được nhân giống in vitro từ mơ phân sinh ngọn.
d Dòng mơ sẹo màu trắng nuôi cấy trên môi trường B5 bổ sung với 0.5 mgl kinetin và 1.0 mgl IAA sau 96 ngày chuyển qua.
e Dòng mơ sẹo màu xanh ni cấy trên mơi trường B5 có bổ sung 0.1 mgl kinetin và 1.0 mgl IAA sau 96 ngày chuyển qua

4.2.5 Nuôi cấy rễ tơ


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (50 trang)

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×