1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Khoa học tự nhiên >

KHẢ NĂNG XÂM NHIỄM SALMONELLA VÀO CÁC CƠ QUAN CỦA HỆ TIÊU HÓA CHUỘT

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (949.86 KB, 44 trang )


32

4.3. KHẢ NĂNG XÂM NHIỄM SALMONELLA VÀO CÁC CƠ QUAN CỦA HỆ TIÊU HÓA CHUỘT


4.3.1. Khả năng xâm nhiễm vào các cơ quan của hệ tiêu hóa chuột ở chủng Salmonella khi nuôi cấy trên môi trƣờng nhân tạo
4.3.1.1. Khả năng xâm nhiễm vào các cơ quan thuộc hệ tiêu hóa chuột của chủng Salmonella có nguồn gốc từ bệnh phẩm
Các đối tượng được khảo sát trong nghiên cứu này gồm: dạ dày, ruột non, ruột già, gan và lách chuột. Thí nghiệm này được thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khả
năng chống lại các rào cản của cơ thể vật chủ của Salmonella sau khi chúng được đưa vào cơ thể chuột bằng con đường tiêu hóa. Chủng được chọn trong khảo sát này là S.
enteritidis 99.303 có nguồn gốc từ bệnh phẩm người do Viện Pasteur TP. Hồ Chí Minh cung cấp. Sở dĩ chủng này được chọn vì chúng có độc lực cao nhất trong số các chủng
đã khảo sát ở trên. Thí nghiệm cũng được thực hiện với đối chứng là những chuột không gây nhiễm Salmonella. Kết quả khảo sát trên đối chứng cho thấy không phát
hiện được Salmonella trong các cơ quan đã khảo sát. Kết quả khảo sát ở các chuột bị
gây nhiễm được thể hiện ở Bảng 4.5 và Biểu đồ 4.1. Bảng 4.5. Mật độ xâm nhiễm vào các cơ quan thuộc hệ tiêu hóa chuột đối với
chủng S. enteritidis 99.303
Mật độ nhiễm CFUml
Thời gian sau khi nhiễm
Mật độ Salmonella CFUg Gan
Lách Dạ dày
Ruột non Ruột già
1,2 x 10
9
15 phút 4,6 x 10
3
8,9 x 10
3
2,9 x 10
4
2 giờ 8,9 x 10
3
1,5 x 10
4
2,7 x 10
3
2 ngày 1,9 x 10
2
4,0 x 10
2
4 ngày 3,1 x 10
3
1,4 x 10
3
6,0 x 10
2
8,3 x 10
1
6 ngày 1,4 x 10
3
3,7 x 10
3
2,8 x 10
2
8 ngày 3,9 x 10
4
2,9 x 10
5
9,9 x 10
1
9 ngày 2,3 x 10
3
9,7 x 10
3
11 ngày 2,4 x 10
3
8,7 x 10
3
13 ngày 7,5 x10
3
6,6 x 10
4
2,5 x 10
2
14 ngày 1,1 x 10
3
9,5 x 10
3
33
0,00 0,50
1,00 1,50
2,00 2,50
3,00 3,50
4,00 4,50
5,00 5,50
6,00
15 2h
2 4
6 8
9 11
13 14
NGÀY M
Ậ T
Đ Ộ
X Â
M N
H IỄ
M lo
gN
Gan Lách
Dạ dày Ruột non
Ruột già
Biểu đồ 4.1. Biểu diễn khả năng xâm nhiễm của S. enteritidis 99.303 vào các cơ quan của hệ tiêu hóa
Kết quả ở Bảng 4.5 và Biểu đồ 4.1 cho thấy chủng S. enteritidis 99.303 có khả
năng xâm nhiễm vào gan và lách tương đối sớm, chỉ sau 15 phút gây nhiễm đã phát hiện được Salmonella trong các cơ quan này, mật độ xâm nhiễm tương đối cao, từ 4,6
x 10
3
– 8,9 x 10
3
CFUg và chúng duy trì trong suốt 14 ngày sau khi xâm nhiễm. Mật độ duy trì trong gan và lách trung bình trong khoảng từ 10
2
- 10
5
CFUg. Ở dạ dày mật độ Salmonella được tìm thấy cao nhất trong khoảng 2 giờ sau khi xâm nhiễm và chúng
giảm dần theo thời gian. Đến ngày thứ 13 thì mật độ Salmonella ở dạ dày còn lại cao nhất là 250 CFUg. Ở ruột non chỉ tìm thấy Salmonella ở ngày thứ 4 - 6 sau khi gây
nhiễm. Mật độ Salmonella được tìm thấy ở cơ quan này trong khoảng 80 – 280 CFUg, sau đó chúng bị đào thải hoàn toàn ra khỏi ống tiêu hóa. Chúng tơi hồn tồn khơng
tìm thấy Salmonella bám vào trong thành ruột già trong suốt 14 ngày khảo sát.
4.3.1.2. Khả năng xâm nhiễm vào các cơ quan thuộc hệ tiêu hóa chuột của chủng Salmonella có nguồn gốc từ thực phẩm
Thí nghiệm cũng được tiến hành tương tự với chủng bệnh phẩm. Chủng được chọn trong thí nghiệm này là Salmonella SP1a. Sở dĩ chọn chủng này để đại diện cho
nhóm Salmonella khơng có khả năng biểu hiện bệnh trên chuột. Kết quả khảo sát được
thể hiện trên Bảng 4.6 và Biểu đồ 4.2.
34
Bảng 4.6. Mật độ xâm nhiễm vào các cơ quan thuộc hệ tiêu hóa chuột của chủng Salmonella SP1a
Mật độ gây nhiễm CFUml
Thời gian sau gây nhiễm
Mật độ Salmonella CFUg Gan
Lách Dạ dày
Ruột non Ruột già
1,7 x 10
10
15 phút 5,5 x 10
2
6,8 x 10
3
8,8 x 10
3
2 giờ 8,3 x 10
1
4,0 x 10
3
4,0 x 10
3
2 ngày 1,0 x 10
2
3 ngày 2,2 x 10
3
2,2 x 10
3
4 ngày 4,4 x 10
2
5 ngày 2,4 x 10
3
2,8 x 10
3
2,1 x 10
2
7 ngày 1,5 x 10
2
8 ngày 10 ngày
12 ngày 14 ngày
0,00 0,50
1,00 1,50
2,00 2,50
3,00 3,50
4,00
15 2h
2 3
4 5
7 8
10 12
14
NGÀY M
Ậ T
Đ Ộ
X Â
M N
H IỄ
M lo
gN
Gan Lách
Dạ dày Ruột non
Ruột già
Biểu đồ 4.2. Biểu diễn khả năng xâm nhiễm của Salmonella SP1a vào các cơ quan thuộc hệ tiêu hóa
35
Kết quả ở Bảng 4.6 và Biểu đồ 4.2 cho thấy Salmonella SP1a được tìm thấy
trong gan và lách ở giai đoạn rất sớm sau 15 phút gây nhiễm và chúng duy trì trong các cơ quan này đến ngày thứ 7, sau đó chúng bị đào thải hồn tồn ra ngồi cơ thể. Ở
dạ dày, vi sinh vật này được tìm thấy đến ngày thứ 4 với mật độ 440 CFUg. Ở ruột non, chúng được tìm thấy ở ngày thứ 6. Riêng ở ruột già khơng tìm thấy vi sinh vật
này sau 14 ngày gây nhiễm. Kết quả thí nghiệm này cho thấy chủng Salmonella SP1a có nguồn gốc thực phẩm cũng có khả năng xâm nhiễm vào các nội tạng gan và lách
chuột nhưng chúng khơng có khả năng biểu hiện bệnh vì độc lực kém, chỉ sau 7 ngày xâm nhiễm chúng đã bị cơ thể chuột loại thải hoàn toàn ra ngồi cơ thể. Kết quả thí
nghiệm này cũng giải thích tại sao sau 14 ngày theo dõi sau khi gây nhiễm lại không phát hiện được Salmonella này trong gan và lách chuột như kết quả ở mục 4.1.2 và
4.2.2.
4.3.1.3. So sánh khả năng xâm nhiễm vào các cơ quan thuộc hệ tiêu hóa chuột giữa chủng bệnh phẩm và chủng từ thực phẩm
So sánh giữa hai kết quả ở mục 4.3.1.1 và 4.3.1.2 cho thấy chủng S. enteritidis 99.303 có nguồn gốc từ bệnh phẩm có khả năng xâm nhiễm vào gan, lách cao hơn và
thời gian tồn tại cũng lâu hơn so với chủng Salmonella SP1a có nguồn gốc từ thực phẩm. Chủng từ bệnh phẩm S. enteritidis 99.303 có thể tồn tại sau 14 ngày trong gan
và lách chuột, mật độ của chúng trong các cơ quan này vẫn chưa có chiều hướng giảm. Trong khi đó chủng từ thực phẩm Salmonella SP1a sau 8 ngày đã bị loại thải hoàn
toàn ra khỏi các cơ quan này. Còn tại ruột non và ruột già thì cả chủng có nguồn gốc từ bệnh phẩm hay thực phẩm đều khơng có khả năng xâm nhiễm hay có xâm nhiễm
nhưng với mật độ rất thấp và hầu như chúng không tồn tại lâu trong ống tiêu hóa. Ngồi ra các kết quả trên cũng cho ta thấy dường như khơng có mối liên hệ giữa tính
gây bệnh với khả năng xâm nhiễm vào các cơ quan thuộc ống tiêu hóa của Salmonella.

4.3.2. Khả năng tái xâm nhiễm của các chủng Salmonella


Mục đích của thí nghiệm này là nghiên cứu sự thay đổi độc lực sau khi Salmonella đã qua quá trình xâm nhiễm vào vật chủ.
4.3.2.1. Khả năng tái nhiễm vào các cơ quan của hệ tiêu hóa chuột ở chủng Salmonella từ bệnh phẩm
Chủng S. enteritidis 99.303 được gây nhiễm vào cơ thể chuột, nuôi chuột bị
nhiễm trong khoảng 4 - 5 ngày. Dịch gan của chuột bị nhiễm được xác định mật độ
36 Salmonella và được sử dụng để gây nhiễm trở lại vào chuột khỏe mạnh. Thí nghiệm
được tái gây nhiễm vào 4 chuột, mổ chuột theo từng khoảng thời gian, quan sát từng cơ quan của hệ tiêu hóa và định lượng mật độ Salmonella trong các cơ quan này. Kết
quả thí nghiệm được thể hiện ở Bảng 4.7. Bảng 4.7.
Mật độ S. enteritidis 99.303 trong dịch gan tái xâm nhiễm vào các cơ quan của hệ tiêu hóa theo thời gian
Mật độ gây nhiễm
CFUml Thời gian
sau khi nhiễm
Mật độ Salmonella CFUg Gan
Lách Dạ dày
Ruột non Ruột già
1,9 x 10
3
3 ngày 6,3 x 10
2
6 ngày 3,3 x 10
2
4,5 x 10
2
1,4 x 10
2
4,4 x 10
2
10 ngày 2,0 x 10
3
5,2 x 10
3
2,1 x 10
2
7,2 x 10
2
58 x 10
2
14 ngày 3,9 x 10
2
3,5 x 10
2
8,0 x 10
1
4,1 x 10
2
8,0 x 10
1
0,00 0,50
1,00 1,50
2,00 2,50
3,00 3,50
4,00
3 6
10 14
NGÀY
M Ậ
T Đ Ộ
X Â
M N
H IỄM
l ogN
Gan Lách
Dạ dày Ruột non
Ruột già
Biểu đồ 4.3. Khả năng tái xâm nhiễm của chủng S. enteritidis 99.303 từ dịch gan vào hệ tiêu hóa chuột
Kết quả ở Bảng 4.7 và Biểu đồ 4.3 cho thấy chủng S. enteritidis 99.303 có khả
năng tái xâm nhiễm xuyên qua ống tiêu hóa khi mật độ gây nhiễm thấp, chỉ 1,9 x 10
3
37 CFUg từ dịch gan chuột. Sau khi tái xâm nhiễm chúng có khả năng duy trì trong dạ
dày đến 14 ngày. Sau 6 ngày có thể tìm thấy vi sinh vật này nhiễm trong khắp các cơ quan đã khảo sát như gan, lách, dạ dày, ruột non và ruột già. Chúng không bị đào thải
trong suốt 14 ngày theo dõi. Mật độ chúng nhiễm vào các cơ quan này cao hơn so với khi nuôi cấy trong môi trường nhân tạo BHI. Mật độ Salmonella tái nhiễm trong gan
và lách cao hơn với mật độ tế bào gây nhiễm vào ban đầu, chứng tỏ Salmonella đã tăng trưởng lên sau khi xâm nhiễm vào các cơ quan này. Từ các kết quả trên có thể kết
luận rằng chủng S. enteritidis 99.303 khi phát triển trong môi trường in vivo có khả năng xâm nhiễm và gây bệnh mạnh hơn so với khi nuôi cấy chúng trên môi trường
nhân tạo in vitro. Nói cách khác là độc lực của nó đã được tăng lên khi chúng được một lần sống sót và thích nghi với các các điều kiện chống cự của cơ thể vật chủ. Hiện
tượng này có thể là do: 1 Chủng Salmonella đã thích nghi với khả năng xâm nhiễm, 2 Môi trường in vivo đã hoạt hóa các gen gây độc ở Salmonella trong khi các gen
này bị kìm hãm khi ni cấy chúng trong môi trường nhân tạo, 3 Chủng S. enteritidis 99.303 gốc có độc lực đã giảm do thời gian bảo quản và cấy chuyền nhiều lần.
4.3.2.2. Khả năng tái xâm nhiễm vào hệ tiêu hóa chuột của chủng Salmonella từ thực phẩm
Cách tiến hành thí nghiệm tương tự như chủng Salmonella từ bệnh phẩm. Chủng Salmonella từ thực phẩm được dùng trong khảo sát là Salmonella SP1a. Chủng
Salmonella này cũng được cho xâm nhiễm vào chuột, nuôi chuột bị nhiễm sau 3 – 4 ngày, dịch gan chuột bị nhiễm được định lượng Salmonella và được tái gây nhiễm vào
chuột . Kết quả thí nghiệm được thể hiện ở Bảng 4.8 và Biểu đồ 4.4. Bảng 4.8. Mật độ Salmonella SP1a tái xâm nhiễm vào hệ tiêu hóa chuột
theo thời gian
Mật độ gây nhiễm CFUml
Thời gian sau khi
nhiễm Mật độ Salmonella CFUg
Gan Lách
Dạ dày Ruột non Ruột già
5,5 x 10
3
3 ngày 2,0 x 10
2
6 ngày 5,5 x 10
1
1,5 x 10
2
90 9 ngày
4,2 x 10
3
9,8 x 10
3
12 ngày
38
0,0 0,5
1,0 1,5
2,0 2,5
3,0 3,5
4,0
3 6
9 12
NGÀY M
Ậ T
Đ Ộ
X Â
M N
H IỄ
M lo
gN
Gan Lách
Dạ dày Ruột non
Ruột già
Biểu đồ 4.4. Khả năng tái xâm nhiễm của chủng Salmonella SP1a từ dịch gan vào hệ tiêu hóa
Qua kết quả thể hiện ở Bảng 4.8 và Biểu đồ 4.4 cho thấy chủng Salmonella
SP1a có khả năng tái nhiễm thì có khả năng sống sót trong dạ dày đến ngày thứ 6 và duy trì trong gan và lách đến ngày thứ 9. Mật độ nhiễm vào gan vào lách cao hơn so
với khi nuôi cấy chúng trong mơi trường nhân tạo BHI, thậm chí cao hơn mật độ tế bào đã nhiễm ban đầu. Như vậy, chúng đã có khả năng tăng trưởng bệnh trong các cơ
quan này. Song chúng vẫn không được tìm thấy trong ruột non và ruột già. Qua 12 ngày, Salmonella xâm nhiễm trong các cơ quan này bị đào thải hoàn toàn. Về biểu
hiện bệnh lý, mặc dù Salmonella được tái nhiễm vào gan và lách mạnh hơn so với ban đầu nhưng vẫn khơng có khả năng biểu hiện bệnh ở chuột. Qua kết quả này cho thấy
rằng, mặc dù chủng Salmonella SP1a đã được trải qua sự thích nghi trong mơi trường vật chủ in vivo nhưng độc lực của chúng cũng rất kém, chúng vẫn bị hệ thống phòng
vệ của vật chủ loại bỏ khỏi cơ thể.
4.3.2.3. So sánh khả năng tái xâm nhiễm vào hệ tiêu hóa chuột của S. enteritidis 99.303 và Salmonella SP1a
Căn cứ vào kết quả ở Bảng 4.7 và Bảng 4.8 cho thấy chủng S. enteritidis
99.303 có khả năng xâm nhiễm vào tồn bộ các bộ phận ta khảo sát như gan, lách, dạ
39 dày, ruột non và ruột già với mật độ tương đối cao so với mật độ tế bào đã nhiễm vào
ban đầu. Trong khi đó, chủng Salmonella SP1a chỉ có thể nhiễm vào gan, lách và không có khả năng bám vào thành ruột non, ruột già. Ở dạ dày, chủng S. enteritidis
99.303 từ bệnh phẩm có thời gian tồn tại lâu hơn so với chủng Salmonella SP1a từ thực phẩm. Sau 12 ngày gây nhiễm, chủng Salmonella SP1a bị đào thải hồn tồn.
Trong khi đó chủng S. enteritidis 99.303 vẫn duy trì được mật độ xâm nhiễm cao trong
các cơ quan của hệ tiêu hóa chuột.
Các kết quả trên cho thấy cả 2 chủng Salmonella từ bệnh phẩm và thực phẩm sau khi tái nhiễm đều có khả năng xâm nhiễm vào gan và lách mạnh hơn so với ban
đầu khi nuôi cấy trên môi trường nhân tạo BHI. Từ đó có thể kết luận rằng các chủng Salmonella có nguồn gốc từ mơi trường in vivo có khả năng xâm nhiễm và thích nghi
mạnh hơn so với khi phân lập từ môi trường in vitro.
4.4. SỰ TÁC ĐỘNG CỦA MÔI TRƢỜNG XUNG QUANH ĐẾN CÁC KẾT QUẢ THÍ NGHIỆM
Để khẳng định Salmonella nhiễm và gây bệnh cho chuột có nguồn gốc từ sự gây nhiễm, khơng có sự nhiễm bẩn từ các yếu tố bên ngoài, trong các lơ thí nghiệm
chúng tơi đều tiến hành phân tích Salmonella trong thức ăn và nước uống của chuột. Bên cạnh đó, trong mỗi lơ thí nghiệm đều có chuột dùng làm đối chứng âm, là chuột
được cho uống nước đã hấp vô trùng thay cho dịch vi khuẩn. Chuột dùng làm đối chứng âm được nuôi cách biệt với các chuột được gây nhiễm, các điều kiện và khảo
sát đều được thực hiện tương tự như lơ thí nghiệm. Kết quả cho thấy các yếu tố bên ngoài như thức ăn, nước uống, môi trường nuôi
chuột đều không bị nhiễm Salmonella. Các chuột trong lơ đối chứng âm đều khơng có dấu hiệu bệnh lý, chúng vẫn khỏe mạnh, nhanh nhẹn và tăng trọng. Kết quả khảo sát ở
các cơ quan của hệ tiêu hóa như gan, lách, dạ dày, ruột non và ruột già cũng cho thấy khơng có sự hiện diện của Salmonella. Qua kết quả trên, chúng ta có thể loại bỏ khả
năng xâm nhiễm Salmonella do các yếu tố bên ngoài như thức ăn, nước uống, môi trường xung quanh.
40

Phần 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (44 trang)

×