1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Quản trị kinh doanh >

Các yếu tố ảnh hưởng đến việc đào tạo theo nhu cầu của các trường Kinh nghiệm

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (279.75 KB, 42 trang )


5. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc đào tạo theo nhu cầu của các trường


Việc đào tạo theo nhu cầu là rất quan trọng tuy nhiên có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng làm cho kết quả của quá trình đào tạo có thể hoặc khơng thể theo ý
muốn chủ quan của người đào tạo và người sử dụng sản phẩm qua đào tạo. Trong đó bao gồm cả những nhân tố tích cực và những nhân tố tiêu cực
- Những nhân tố tích cực: + Có nhiều chính sách, chương trình, dự án của Nhà nước khuyến khích
các trường học, cơ sở đào tạo tiến hành đào tạo theo nhu cầu của xã hội như: tăng nguồn vốn cấp phát cho các trường, cơ sở đào tạo đầu tư các trang thiết bị
hiện đại phục vụ cho dạy và học, tăng cường liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp …
+ Nhận thức của người dân về nhu cầu học của cá nhân ngày càng theo hường đáp ứng nhu cầu của xã hội hơn là chạy theo thị hiếu
+ Ngày càng có nhiều loại hình, phương tiện giảng dạy mới giúp học sinh, sinh viên nhanh chóng tiếp cận các kiến thức, công nghệ hiện đại như:
giảng dạy bằng máy chiếu, phương pháp trao đổI thông tin qua mạng … - Những nhân tố tiêu cực:
+ Tài chính Nhà nước cấp cho các trường và khoản thu của nhà trường học phí và các khoản thu khác có tăng qua từng năm nhưng vẫn là q ít so
với nhu cầu của một nền kinh tế đang phát triển nhanh chóng. + Sự can thiệp, chỉ đạo chưa hợp lý của Bộ GD - ĐT
+ Cơ sở vật chất cho giảng dạy còn nhiều hạn chế nhất là các ngành thuộc khối kỹ thuật do đầu tư vào trang thiết bị quá tốn kém
+ Nội dung giáo trình còn lạc hậu so với thế giới
11

6. Kinh nghiệm


Sự tăng trưởng của khu vực Đông Á trong những thập kỷ qua là kết quả của nhiều nhân tố khác nhau, trong đó khơng thể khơng kể đến chiến lực phát
triển nguồn nhân lực thông qua GD – ĐT nhằm mục tiêu đưa đất nước thốt khỏi đói nghèo, trở thành nước công nghiệp sánh vai cùng các nước phát triển
trên thế giới như Anh, Mỹ, Đức… là mục tiêu hàng đầu và phải kiên quyết thực hiện. Cho đến nay, sau những chặng đường dài của sự phát triển thì những
thành tựu phát triển kinh tế của các nước trong khu vực Đơng Á có được từ chính sách phát triển chú trọng phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục và
đào tạo của họ vẫn là những bài học quý giá mà chúng ta cần học tập mặc dù việc thực hiện chính sách này ở nước ta là muộn so với nhu cầu thực tại của đất
nước. Ngay từ thời kỳ đầu bước vào cơng nghiệp hố CNH, các nền kinh tế
Đông Á đã nhận thức một cách sâu sắc rằng con người là vốn quý nhất của xã hội, là yếu tố quyết định của quá trình sản xuất. Điều đáng lưu ý là nhận thức
này khơng chỉ của Chính phủ mà đã trở thành nhận thức chung, thống nhất của cả chính quyền các cấp lẫn người dân và các tầng lớp với các giới có liên quan.
Ở các nền kinh tế Đơng Á, chiến lược phát triển nguồn nhân lực thông qua GD – ĐT với chiến lược CNH có tính bổ xung và phù hợp khá cao. Hai loại
chính sách này khơng thể thành cơng được nếu như chính sách phát triển NNL thông qua GD – ĐT không được hoạch định nhằm đáp ứng các mục tiêu cụ thể
đặt ra cho mỗi giai đoạn của CNH. Cụ thể là vào thời kỳ chuẩn bị cất cánh công nghiệp, các nền kinh tế Đông Á ngay cả Nhật Bản thường bị lạc vào tụt hậu xa
so với các nền kinh tế Tây Âu và Mỹ. Các nền nước ở Đông Á có nguồn nhân lực dồi dào và rẻ mạt song lại rất thiếu các nguồn lực để có thể cùng mọt lúc
đáp ứng được rất nhiều nhu cầu cấp bách. Để có thể sớm rút ngắn khoảng cách đó và đuổi kịp các nước phát triển, các nước Đông Á khơng có cách nào khác
để tiến hành thành cơng CNH là phải tiến hành tiếp thu cơng nghiệp nước ngồi. Muồn làm được điều này, các nước này cần phải nhanh chóng nâng cao
12
trình độ dân chúng và tạo ra được một đội ngũ lao động có trình độ đồng đều và phù hợp để có thể tiếp thu và cải tiến được các cơng nghệ nhập khẩu. Trong tình
thế đó do nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục tiểu học, nên các nền kinh tế này đã ưu tiên đầu tư cao nhất cho giáo dục tiểu học. Nhiều nền kinh tế
trong khu vực đã giành một nửa kinh phí giáo dục cho giáo dục tiểu học. Nhờ đó, hầu hết các nền kinh tế này đã sớm thực hiện thành cơng q trình phổ cập
giáo dục tiểu học, tạo nền tảng quan trọng cho việc chuyển dịch trôi chảy lao động giản đơn từ nông nghiệp sang công nghiệp cũng nhơ cho việc xây dựng và
phát triển thành công các ngành công nghiệp xuất khẩu sử dụng nhiều lao động. Đó thực sự là một chuyển đổi thành cơng từ sự gia tăng trình độ giáo dục sang
sự gia tăng năng xuất lao động xã hội và sự gia tăng mức độ CNH của nền kinh tế.
Vào thời kỳ chuyển dịch cơ cầu công nghiệp từ các hoạt động giá trị gia tăng thấp lên các hoạt động có giá trị gia tăng cao, nhu cầu nhân lực lúc này
không chỉ là lao động giản đơn tốt nghiệp tiểu học nhơ giai đoạn trước nữa mà đòi hỏi lao động phải có trình độ cao hơn. Do đó ngay sau khi đạt được phổ cập
giáo dục tiểu học, các nền kinh tế Đông Á đã chuyển sang mở rộng giáo dục trung học, ban hành chính sách phổ cập giáo dục trung học và ưu tiên đầu tư
cho cấp học này. Nhật Bản và các nước công nghiệp đã rất thành công trong việc thực hiện chính sách mới này là do họ đã có chính sách mở rộng và ưu tiên
đầu tư thích hợp khiến quy mô mở rộng giáo dục trung học đủ lớn; đồng thời chính sách CNH thích hợp được đưa ra sau khi các nền kinh tế này thực hiện
thành công phổ cập giáo dục tiểu học, đã thu hút được hầu hết lực lực lượng lap
động vào quá trình sản xuất, do vậy đã giúp nền kinh tế nhanh chóng chuyển sang hoạt động cơng nghiệp có giá trị giá tăng cao. Trong những năm 1970,
giáo dục trung học trong các nền kinh tế này đã nhận được phần đầu tư đáng kể trong các khoản đầu tư cho 3 cấp giáo dục : tiểu học, trung học,
đại
học. Đồng thời chính sách mở rộng giáo dục trung học đã nhấn mạnh khơng chỉ khía cạnh
13
văn hố của giáo dục trung học mà còn cả khía cạnh giáo dục nghề nghiệp cấp trung học.
Trong khi đó ở các nước ASEAN, việc mở rộng hệ thống giáo dục trung học lại không theo sát quá trình CNH đã gây ra một vài rối loạn trên thị trường
lao động. Philippin mở rộng giáo dục vượt quá nhu cầu của CNH, hay không đi kèm với sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ đã gây ra tình trạng thất nghiệp có học
lớn. Do đó trên thực tế Philippin đã phải chọn giải pháp xuất khẩu lao động để
giải quyết việc làm cho số lao động dư thừa. Ngược lại, ở một cực khác các nước như Thái Lan, Indonexia, Malayxia giáo dục trung học lại không đáp ứng
được nhu cầu về lao động có kỹ năng ngày càng cao của nền kinh tế. Như vậy, điểm mấu chốt khiến cho chính sách mở rộng giáo dục trung
học của Nhật Bản và các nước công nghiệp mới hiệu quả hơn các nước ASEAN là họ đã kịp thời nhận thấy được nhu cầu về lao động có kỹ năng cao ngày càng
tăng cho phát triển và nhanh chóng có những đổi mới trong quá trình đào tạo để tạo ra những con người đáp ứng các nhu cầu đó.
Từ những năm 1980, do tồn cầu hoá kinh tế ngày càng trở thành một xu thế nổi trội và do sự xuất hiện của nền kinh tế tri thức, nên khối lượng kiến thức
được sản sinh ra ngày càng nhiều và đổi mới ngày càng nhanh, đồng thời tính cạnh tranh giữa các nền kinh tế và các doanh nghiệp ngày càng quyết liệt. Thực
tế này đòi hỏi các nền kinh tế phải chuẩn bị được nguồn nhân lực chất lượng cao không chỉ nắm vững các kiến thức cơ bản mà còn phải cập nhập thường
xuyên các thành tựu khao học và có đầu óc sáng tạo, linh hoạt, dám nghĩ dám làm, năng động, chấp nhận mạo hiểm. Trước những yêu cầu đòi hỏi đó các nền
kinh tế Đơng Á đã tập trung nguồn lực tiến hành cải cách mạnh mẽ hệ thồng giáo dục và đào tạo cả về cơ cấu, nội dung giảng dạy, tạo điều kiện tốt nhất cho
mọi người tham gia học tập và đổi mới kiến thức suốt đời. Bên cạnh vấn đề giáo dục phổ thơng, thì các nước trong khu vực Đơng Á
còn quan tâm đến giáo dục nghề ban đầu, Các nước này cho rằng lực lượng lao động có tay nghề là cầu nối giữa các nhà khoa học và sản xuất, là lực lượng chủ
14
chốt cho sản xuất. Các nước này thường kết hợp giáo dục nghề nghiẹp ban đầu ở các cấp trung học, lẫn sau trung học. Trong các phương thức đào tạo nghề ở
các nước Đơng Á thì phương thức nổi trọi nhất là đào tạo nghề ngay tại nơi làm việc phát triển nhất ở Đài Loan, Nhật bản, Hàn Quốc. Phương thức đào tạo
này đảm bảo được nguyên tắc gắn học với hành và hầu như khơng có sự bất cập giữa cung và cầu lao động được đào tạo vì các cơng ty thực hiện đào tạo chủ
yếu cho và từ nhu cầu của chính mình. Gần đây, Nhật Bản đã đẩy mạnh cải cách giáo dục nhằm đào tạo ra
những con người năng động, sáng tạo hơn, đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học và công nghệ của đất nước trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu. Những hướng
cải cách chủ yếu là loại bỏ dần tính thống nhất và bình đẳng thái q trong giáo dục; giảm thiểu kiến thức, nhất là phần lý thuyết suông trong các trường phổ
thông và tăng thêm phần thực hành; chuyển cách dạy và học từ chỗ nặng về thày dạy, trò ghi nhớ một cách máy móc sang chỗ thày chủ yếu khơi gợi vấn
đề, trò chủ động tham gia thảo luận; giảm dần sự can thiệp quá mức của Nhà nước, đề cao tính chủ động và tự quản của các địa phương, các nhà trường trong
các vấn đề giáo dục; và đa dạng hoá các loại hình trường lớp, linh hoạt hố các chương trình giảng dạy để tạo cho mọi người có thể chủ động tham gia vào quá
trình học tập bất cứ lúc nào trong đời. Để khắc phục sự chậm trễ của mình trong cơng nghệ thơng tin và cũng để
nhanh chóng phổ cập tin học đến mọi người dân, tháng 12 năm 1999 Chính phủ Nhật Bản đã đưa ra Dự án thiên niên kỷ Millennium Project trong đó có mục
Digitalization of Education số hoá giáo dục nhằm phổ cập máy tính và Internet tại tất cả các cấp học phổ thông, kể cả các trường dành cho người
khuyết tật vào năm tài chính 2001, và chuẩn bị mơi trường và điều kiện để có thể sử dụng được máy tính vào việc dạy và học ở tất cả các trường công lập vào
năm 2005. Đồng thời, chính phủ Nhật Bản cũng đang xúc tiến mở các khoá tiếng
Anh trên khắp cả nước và tăng cường mời các thầy giáo tiếng Anh bản xứ vào
15
dạy học tại các trường Nhật Bản ngay từ tiểu học, phấn đấu tạo cho mọi công dân đều có thể sử dụng thành thạo tiếng Anh vào cơng việc chun mơn của
mình khi đến tuổi trưởng thành trong tương lai không xa. Về lâu dài, tiếng Anh sẽ dần được coi là ngơn ngữ chính thức thứ hai sau tiếng Nhật.
Cùng với việc cải cách hệ thống giáo dục và đào tạo, Nhật Bản cũng tiến hành đổi mới hệ thống quản lý xí nghiệp theo hướng chuyển từ chế độ coi trọng
thâm niên và kinh nghiệm cơng tác, coi trọng tính tập thể và phục tùng cấp trên sang chế độ coi trọng hơn năng lực và thành tích cá nhân, đề cao tính độc lập và
sáng tạo của cơng nhân, khuyến khích mọi người hăng hái học tập để nâng cao trình độ hơn là ỷ lại vào thâm niên phục vụ công ty và kinh nghiệm sống lâu
lên lão làng. Ở châu Âu, các doanh nghiệp thường kết hợp chặt chẽ với ngành giáo
dục để tạo thuận lợi cho các sinh viên từ nhà trường đến làm việc ở các doanh nghiệp. Để phổ cập Internet trong dân chúng, Hội nghị thượng đỉnh EU tại
Lisbon, Bồ Đào Nha 2332000 nhất trí quyết định tăng cường đầu tư đào tạo nhân tài, thúc đẩy cải cách kinh tế xã hội, để EU thích ứng hơn nữa với xã hội
tin học dựa trên cơ sở tri thức và đổi mới. Các nước này đã đặt mục tiêu, trong vòng 10 năm tới, đuổi kịp nền kinh tế Internet Mỹ, xây dựng châu Âu thành khu
khu vực kinh tế có sức sống mạnh nhất, có sức cạnh tranh nhất thế giới, với một số biện pháp cụ thể như hoàn tất khung pháp lý cho thương mại điện tử, tất
cả các trường học đều có thể truy cập Internet; năm 2002, kết nối mạng với tốc độ cao cho tất cả các trường đại học, thư viện và viện nghiên cứu.
Còn ở Trung Quốc thì trong nhiều năm qua, Đảng và chính phủ Trung Quốc đã coi việc hỗ trợ, thu hút và sử dụng nhân tài là một nhiệm vụ chiến lược
quốc gia, trong đó giáo dục được coi là khâu quan trọng nhất. Trung Quốc đã tiến hành cải cách và đổi mới mạnh mẽ quá trình phát triển giáo dục và hướng
giáo dục theo nhu cầu của hiện đại hoá, của thế giới và của tương lai, có nhiều biện pháp để nâng cao chất lượng giáo dục, khuyến khích tinh thần sáng tạo và
khả năng thực tiễn. Ngoài việc cải cách và phát triển giáo dục phổ thơng, Trung
16
Quốc còn đặc biệt chú ý đến việc phát triển giáo dục đại học và coi đó là một biện pháp quan trọng để đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao. Cụ thể,
Trung Quốc đã đưa ra Dự án 21 nhằm nâng cấp 100 trường đại học của mình trong một số lĩnh vực trọng điểm như cơ khí, phát triển nơng thơn và công nghệ
thông tin lên ngang tầm thế giới. Đồng thời, ngoài việc nâng cao chất lượng đào tạo trong nước, Trung Quốc còn có chính sách khuyến khích thanh niên đi du
học và nghiên cứu ở nước ngoài để sau đó trở về xây dựng đất nước. Trên đây là những bài học kinh nghiệm trong việc thực hiện đào tào theo
nhu cầu xã hội ở một số nước trên thế giới. Tuy nhiên không phải mọi bài học đó đều có thể áp dụng vào Việt Nam một cách thành cơng. Vì vậy trong q
trình học hỏi chúng ta phải xác định rõ những bài học nào phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của đất nước ta để vận dụng một cách tốt nhất, tránh tình trạng sao
chép một cách máy móc.
17

Chương II THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO THEO NHU CẦU Ở VIỆT NAM


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (42 trang)

×