1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Quản trị kinh doanh >

Những hạn chế của quá trình đào tạo theo nhu cầu

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (279.75 KB, 42 trang )


cung tăng khoảng 30, thì nhu cầu nguồn lao động lại tăng đến 142 so với quý trước. Theo kết quả khảo sát của Ngân hàng Thế giới năm 2007thì tại
Việt Nam, khoảng 60 lao động trẻ tốt nghiệp từ các trường dạy nghề và trường cao đẳng cần được đào tạo lại ngay sau khi tuyển dụng. Một số doanh
nghiệp phần mềm cần đào tạo lại ít nhất 1 năm cho khoảng 80-90 sinh viên tốt nghiệp vừa được tuyển dụng
TS Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Phòng Thương mại và Cơng nghiệp VN lý giải: “Bán cái khách hàng cần, thay vì bán cái mình có” là câu châm ngơn tưởng
như đơn giản nhưng khơng phải dễ thực hiện. Bản chất của nó là các đơn vị đào tạo phải xuất phát từ phân tích nhu cầu của khách hàng trước khi bắt tay vào
“sản xuất”. Và chất lượng của “sản phẩm” cũng do khách hàng đánh giá và quyết định Thiết kế nội dung đào tạo hiện nay vẫn đang gặp nhiều trở ngại do
thiếu tư duy “định hướng khách hàng” và do đó, chất lượng đào tạo cũng đương nhiên chưa đáp ứng tốt yêu cầu của khách hàng.

1. Những hạn chế của q trình đào tạo theo nhu cầu


a Từ phía nhà trường và người học Thứ nhất: Nhận thức của các trường cũng như của người dân về đạo tạo
theo nhu cầu xã hội còn hạn chế. Nhiều trường đã đánh đồng quan điểm đào tạo theo nhu cầu là đào tạo những ngày đang “nóng”. Đây chỉ là giảI pháp tạm thờI
cho nhu cầu hiện tạI chứ không phảI là cốt lõi của vấn đề đào tạo theo nhu cầu. kết quả là nếu như những năm trước, các thí sinh chen chúc đua tranh “nhất y,
nhì dược, tạm được bách khoa…” rồi lại “nhất kinh, nhì thương,…” thì nay ưu tiên số 1 được chuyển qua các ngành “thị trường chứng khoán”, “đầu tư chứng
khoán”. Và “sàn” tuyển sinh năm nay dưới áp lực của “sàn chứng khoán” đã chuyển hướng qua “nguyện vọng cổ phiếu” với mong muốn… đáp ứng nhu cầu
xã hội. Khi dân tình nơ nức “lên sàn” thì các cơ sở đào tạo cũng vội vã trưng biển, dán thông báo đào tạo “cấp tốc” để sau 8 tuần học… là có thể đầu tư
chứng khốn có lãi
21
Và dưới sức “nóng” này, trong những chương trình tư vấn tuyển sinh vừa qua, các trường ĐH, CĐ bỗng giật mình lo ngại một mùa hướng nghiệp mất cân
đối khi số học sinh hỏi về ngành chứng khốn nhiều hơn các ngành học khác. Còn nhớ 5-7 năm về trước, một số trường kinh tế với quan điểm “đi tắt, đón
đầu” đã cho mở các chuyên ngành đào tạo chứng khoán, song ngay lập tức bị xếp vào hạng “kém hấp dẫn” và phải “khớp lệnh đóng” vì khơng có hoặc có rất
ít người học. Nhưng giờ gió đã chuyển hướng, thổi phấp phới cái tam giác màu xanh
trên “sàn giao dịch”. Và các trường – không có một sách lược nhất quán từ nhiều năm trước – đã “thức thời” mở ngay chuyên ngành này dù giảng viên vừa
thiếu lại vừa yếu. Thế nhưng liệu cảnh đua chen thi vào ngành chứng khốn có kịp bổ khuyết nguồn nhân lực đang bị hụt hẫng? PGS-TS Trần Hoàng Ngân,
Trưởng khoa Ngân hàng Trường ĐH Kinh tế TPHCM cho rằng chỉ trong 3 năm nữa, các công ty chứng khoán sẽ đủ nhân lực, nhu cầu sẽ chững lại. Bây giờ là
“sốt” nhưng sau đó rất có thể xuất hiện tình trạng “thừa ảo” nhân lực. Và điều này cũng từng xảy ra đối với các ngành “nóng” một thời như
quản trị kinh doanh, công nghệ thông tin, cơng nghệ sinh học… dẫn đến kết cục bão hòa thị trường nhân lực. Theo đuổi ngành công nghệ sinh học trên cơ sở kỹ
thuật hạt nhân, TS Lê Xuân Thám cho rằng, cái sự “làng nhàng” của cử nhân lãnh vực sinh học hiện giờ là bởi có độ vênh giữa kiến thức thu nhận và thực
tiễn phải cập nhật khi mà chúng ta chỉ lo phần “ngọn” với sự nhồi nhét, chồng chất thông tin trong khi phần “gốc” là khả năng tiếp cận, ứng dụng trong cuộc
sống lại gần như khơng có. Đó cũng chính là cách lấy lượng đè chất và hậu quả là nguồn nhân lực thừa thì vẫn thừa mà thiếu vẫn hồn thiếu: Nhân lực chất
lượng cao thì thiếu trong khi dạng “bình dân” lại quá dư thừa. Hiện nay còn tồn tại một xu hướng nữa làm mất cân bằng giữa thầy và
thợ đó là tình trạng sính bằng ĐH, nhà nhà, người người đua nhau cho con đi học ĐH để mong con mình đổi đời. Người ta rất sợ làm nghề vì lương thợ trung
22
cấp q thấp trong khi đó nước ngồi trả lương thợ có tay nghề nhiều khi cao hơn lương ĐH chỉ biết lý thuyết và nghiên cứu
Vì vậy ít người nghèo thích vào học trường nghề, mà chỉ muốn đi thẳng lên ĐH. Trong khi đó, phát triển kinh tế địa phương rất cần nguồn nhân lực có
tay nghề, kỹ năng hiện đại trong sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp, các loại dịch vụ và chuẩn bị lao động xuất khẩu.
Trong thời đại WTO, nhu cầu nguồn nhân lực tay nghề này quan trọng gấp nhiều lần hơn nguồn lao động lý thuyết hàn lâm từ các ĐH mà phải mất ít
nhất 4 năm mới đào tạo được một ít phần trăm lao động ở mỗi địa phương. Do đó, chúng ta nên nhanh chóng điều chỉnh hành vi của con người để hướng con
người đến với nhu cầu thực tế của nền kinh tế chứ không phải hư danh.
Thứ hai: Nguồn nhân lực sau đào tạo tuy có dồi dào song chất lượng còn
cách xa so với nhu cầu của các doanh nghiệp Sinh viên của chúng ta mặc dù phải học rất nhiều thứ nhưng ít được thực
hành nên khi đi làm “đụng” đến công việc đều phải “học” lại cái lẽ ra phải được chuẩn bị từ trong trường ĐH. Nghĩa là, khi hỏi vấn đề gì thì tất cả đều trả lời rất
chuẩn bằng những… khái niệm và định nghĩa có sẵn trong giáo trình. Và đều dừng lại ở mức đó. Thêm nữa là họ rất rụt rè khi phải phát biểu, trình bày kế
hoạch. Thêm nữa là khi đi thi tuyển trong túi hồ sơ của ai cũng có 2-3 chứng chỉ về trình độ vi tính và bằng C tiếng Anh nhưng sau khi kiểm tra thì số “tạm
tuyển” chỉ đạt chưa tới 10 Còn về các kỹ năng như soạn thảo văn bản, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tổ chức không gian làm việc, kỹ năng viết báo cáo, kỹ
năng đàm phán và thuyết phục… thì lại rất kém và chỉ có mỗi cái tạm được là sức khỏe tốt.
Còn riêng khoản “sinh ngữ” thì “hết nói”. Ngay như ơng giám đốc Cơng ty Saigontourist cũng phải than vãn có tới 70 số sinh viên tốt nghiệp khoa
ngoại ngữ… chỉ được cái giỏi nói tiếng Việt. Theo kết quả một cuộc điều tra của Trung tâm Khảo thí và Đánh giá chất lượng đào tạo thuộc ĐHQG TPHCM
23
thì - mặt bằng trình độ sinh viên bắt đầu năm thứ 3 chỉ mới đạt trong khoảng 360 - 370 điểm TOEFL hoặc 3,5 điểm IELTS - đây là số điểm ở trình độ rất
thấp so với thế giới. Và ở mức “sơ khởi” này, sinh viên chưa thể tham gia vào các cuộc trao đổi ý kiến mà chỉ tiếp nhận thông tin đơn giản.
Đấy là nguồn nhân lực có được từ các trường ĐH, CĐ, TCCN; còn ở tầm lao động giản đơn tình thế khơng có gì là khả quan. Ví dụ như: Đầu năm 2007,
các KCN – KCX thành phố cần tuyển 10.000 lao động phổ thông cho các ngành dệt – may, cơ khí, lắp ráp điện tử với mức lương khởi điểm 1 triệu
đồngngườitháng, song tìm đỏ mắt cũng mới kiếm ra 20 số lao động đáp ứng được yêu cầu đặt ra. Với chất lượng cũng vậy, nguồn nhân lực Việt Nam khó có
sức “bơi” được tới con tàu “WTO” Trong một kỳ thi sát hạch CNTT của Hội đồng Sát hạch CNTT của các
nước Châu Á ITPEC được tổ chức tại 7 nước Nhật Bản, Malaysia, Mông Cổ, Myanmar, Thái Lan, Philipins và Việt Nam mới đây cho thấy, cùng với độ khó
của đề thi, tỷ lệ đạt của sinh viên các trường dạy nghề CNTT của Nhật Bản có thể đạt đến 70-80, còn sinh viên các trường dạy nghề của Việt Nam chỉ có tỷ
lệ đạt dưới mức 3. Nguyên nhân của tình trạng trên là độ vênh còn quá lớn giữa hệ thống đào tạo và nhu cầu của ngành. Có thể thống kê một loạt những
bất cập trong đào tạo, giáo dục CNTT hiện nay như: Phương thức, chương trình đào tạo chậm đổi mới, không phù hợp với yêu cầu, đặc thù ngành CNTT; Đào
tạo chính quy có mức xã hội hố thấp, không khai thông được nguồn lực đầu tư từ xã hội và tạo được động lực thúc đẩy sự đổi mới trong đào tạo... Tuy nhiên
đây không phảI là những bất cập chỉ có trong đào tạo CNTT mà nó là bất cập chung của nền giáo dục nước ta hiện nay.
Thứ ba: Cơ sở đào tạo
Các nhà doanh nghiệp than thở trang thiết bị dạy học ở một số trường, một số phòng thí nghiệm vừa thiếu, vừa lạc hậu so với trình độ hiện tại. Họ nói:
“Hàng ngày chúng tôi phải đọc hàng chục tờ báo, tạp chí tiếng Việt và tiếng nước ngồi, phải truy cập Internet để thu thập thông tin về tiến bộ kỹ thuật,
24
những phát minh, sáng chế mới v.v... phải tổng hợp, phân tích các dữ liệu, chọn lọc để ứng dụng vào công việc.
Thế nhưng, ở nhiều trường, chúng tôi thấy có ngành sinh viên thực hành trên thiết bị được sản xuất cách đây 30 - 40 năm. Còn các loại dụng cụ, vật liệu
dùng cho nghiên cứu, thực nghiệm cũng đều là những loại mà các nước tiên tiến đã bỏ từ lâu... Tài liệu nghiên cứu, tham khảo thì được biên dịch từ sách báo thế
giới cũng từ nhiều năm trước, thiếu cập nhật, thông tin đã lỗi thời Một số giáo trình, giáo án được soạn thảo và sử dụng từ nhiều năm, trong khi tiến bộ về
khoa học kỹ thuật, khoa học quản lý biến đổi rất nhanh lại không được cập nhật, hiệu chỉnh, bổ sung hàng năm, thậm chí có loại cần phải nhanh hơn nữa. Đó là
chưa kể, do kinh phí eo hẹp, ở nhiều trường, các thầy cơ ít có điều kiện ra nước ngoài tham quan, trao đổi học tập để nắm những thông tin khoa học hiện đại”.
Với những cơ sở vật chất giảng dạy như vậy đã làm cho ngườI học ít được tiếp cận với thành tựu khoa học mới nên khi đi làm tiếp cận với các cơng
nghệ mớI họ ln gặp nhiều khó khăn. Để việc cải tạo, mua trang thiết bị học và dạy mớI, các trường phải có một nguồn lực tài chính rất dồi dào trong khi đó
kinh phí do nhà nước cấp lại rất hạn chế, các khoản thu từ học phí còn q ít nên các trướng có xu hướng đào tạo những ngành nghề vớI chi phí thấp, ít phải
đầu tư máy móc, thiết bị, phòng thí nghiệm, nhà xưởng như Kinh tế, Kế tốn, , Tin học văn phòng, Ngoại ngữ… chiếm 40 đến 50 quy mô đào tạo tồn quốc.
Còn những ngành kĩ thuật và cơng nghiệp đòi hỏi đầu tư với chi phí lớn về thiết bị, nhà xưởng như khoa học vật liệu, kĩ thuật cơ khí, kĩ thuật điện, kĩ thuật khai
thác mỏ, dầu khí … ít được mở thêm. Điều này làm giảm khả năng tìm việc làm của sinh viên sau khi ra trường, hạn chế khả năng sáng nghiệp, tăng tỷ lệ thất
nghiệp do không đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động. Như vậy các trường mới chỉ tập trung đào tạo những gì mình có chứ chưa đào tạo theo nhu cầu
Thứ tư: Nội dung chương trình đào tạo hiện nay còn nặng về lý thuyết ít
thực hành thậm chí khơng có vì khơng đủ điều kiện, chưa dựa trên kết quả khảo sát thị trường lao động, chưa phân tích nhu cầu đào tạo và tiêu chuẩn năng lực
nghề nghiệp.
25
Chương trình đào tạo trong các trường ĐH của chúng ta hiện nay không khác mấy so với nội dung, chương trình của mấy chục năm trước. Điểm khác
biệt căn bản chỉ ở chỗ đã có bổ sung, điều chỉnh chút ít chứ chưa phải là chương trình được xây dựng để thích hợp với những đòi hỏi của tình hình phát triển
hiện nay. Bên cạnh đó thì việc xây dựng chương trình đào tạo, đánh giá chương trình đào tạo với sự tham gia của các nhà tuyển dụng và doanh nghiệp chưa
được phổ biến nhân rộng. Nhiều cơ sở đào tạo vẫn thực hiện chương trình cũ thiếu gắn kết với nhu cầu xã hội. Ngoài ra các trường mới thành lập, các ngành
mới mở chỉ là sao chép chương trình đào tạo của một số cơ sở nào đó đã có sẵn, ít khi được xây dựng thích ứng với đặc điểm của trường, của ngành, của địa
phương và trên cơ sở khảo sát phân tích nhu cầu lao động. Thêm vào đó thời gian giành cho các mơn chun ngành còn q ít dẫn
đến tình trạng sinh viên sau khi ra trường cái gì cũng biết nhưng chẳng có gì là sâu sắc cả. Ví dụ như ngành Công nghệ thông tin Trường ĐH Công nghiệp
TPHCM, thờI gian đào tạo đã bị mất phân nửa cho những môn học không liên quan đến chuyên ngành nên sinh viên không được đào tạo sâu, chỉ được học
những kiến thức nền tảng.
Thứ năm: Đội ngũ giảng viên, giáo viên
Cho đến nay tiêu chuẩn về giảng viên, giáo viên chưa được xây dựng thành tiêu chuẩn quốc gia. Việc tuyển chọn, phân loại và đáng giá giảng viên
giáo viên trong các cơ sở đào tạo mới chỉ dựa trên quy định của Luật giáo dục về khung trình độ, chưa có tiêu chuẩn năng lực cụ thể cho việc lựa chọn, đánh
giá, trả lương cho giảng viên, giáo viên.
b Từ phía Nhà nước Thứ nhất: Trong nhiều năm qua, Nhà nước chưa có cơ quan dự báo cấp
quốc gia về nhu cầu xã hội, chưa có mạng lưới các cơ quan thu thập thơng tin, phân tích, đánh giá và dự báo nhu cầu xã hội về số lượng lao động, cơ cấu trình
độ, ngành nghề đạo tạo từ các Bộ ngành Trung ương đến các địa phương. Dự
26
báo nhu cầu xã hội phải được tiến hành ở từng đại phương, từ dưới lên trên và cho từng bộ ngành. Cơ quan dự báo nhu cầu xã hội phải thường xuyên cung cấp
số liệu làm cơ sở cho các trường lập kế hoạch đào tạo và điều chỉnh chiến lược phát triển cho từng giai đoạn
Thứ hai: Sự chồng chéo của các cơ quan quản lý Nhà nước về giáo dục
đã làm cản trở sự chủ động của cơ sở đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội do quán tính của nền hành chính quan liêu để lại. Như cầu đào tạo của doanh nghiệp
xuất hiện và không ngừng thay đổi, nhưng sự đáp ứng của các cơ sở đào tạo, đặc biệt là các cơ sở cơng lập với các nhu cầu đó rất chậm chạp do phải mất thời
gian thực hiện các thủ tục rườm rà.
Thứ ba: Sự bất cập về cơ cầu hệ thống giáo dục, về thời gian đào tạo giữa
cao đảng và TCCN, về khung trình độ như cao đẳng và cao đẳng nghề nghiệp, TCCN và trung cấp nghề, các loại trường lớp, học viện, văn bằng chứng chỉ…
tạo nên sự chồng chéo, trùng lặp trong đào là một trong những nguyên nhân của viậc thièu gắn kết giữa đào tạo và nhu cầu xã hội, gắn kết giữa đào tạo ban đầu
và đào tạo thường xuyên, đào tạo nâng cao và đào tạo chuyên sâu.
Thứ tư: Việc tổ chức đánh giá chương trình đào tạo với sự tham gia của
doanh nghiệp, cựu sinh viên, hội nghề nghiệp … không được thực hiện thường xuyên để điều chỉnh chương trình. Hội đồng trường với chức năng nhiệm vụ
được quy định trong Luật Giáo dục và Quyết định 1532003QĐ-TTg của Thủ tướng Chính Phủ về việc ban hành “Điều lệ trường Đại học” có tầm quan trọng
để giúp nhà trường hoạch định chính sách đào tạo gắn với nhu cầu xã hội, nhưng vẫn chưa được sự hưởng ứng của các trường. Hiện nay mới chỉ có 3
trường là Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Đại học Thái Nguyên, Đại học Giao thong Vận tải đã thành lập hội đồng trường. Hai trường là trường Đại học
Sư phạm Kỹ thuật Tp. HCM và trường Đại học Xây Dựng đang trong giai đoạn thẩm định hồ sơ đăng ký.
Thứ năm: Các loại hình như trung tâm hướng nghiệp, trung tâm trợ giúp
và theo dõi việc làm, trung tâm quan hệ doanh nghiệp, trung tâm huấn luyện và bồi dưỡng giáo viên được thành lập nhằm phát triển năng lực chuyên môn tiếp
27
cận với nhu cầu xã hội đang được nhiều trường thực hiện. Tuy nhiên đa số các trường chưa xây dựng được chiến lược và chưa tạo lập mối quan hệ với doanh
nghiệp trong trao đổi thông tin, nắm bắt nhu cầu đào tạo vè số lượng theo trình độ đào tạo.
Thứ sáu: Kinh phí đầu tư cho giáo dục còn q ít
Mặc dù hàng năm ngân sách cấp cho giáo dục có tăng lên chiếm khoảng 15 – 16 ngân sách nhà nước nhưng nó vẫn còn là rất nhỏ so vớI nhu cầu của
ngành giáo dục nhất là khi khoa học ngày càng phát triển, trang thiết bị cho học và dạy của giáo viên, học sinh ngày càng hiện đại. Theo số liệu mớI đây nhất thì
ngân sách đầu tư cho hệ thống giáo dục quốc dân được phân bổ như sau: 4,5 cho mầm non, 27 cho GD Tiểu học, 23,5 cho THCS, 11 cho THPT, 20
cho CĐ-TCCN, còn lại chi tiêu cho GDĐH chỉ chiếm khoảng 16. Nhìn vào định mức có thể thấy riêng hai bậc Tiểu học và THCS đã chiếm hơn 50 tổng
ngân sách chi cho giáo dục, và nếu chúng ta nâng mức chi cho GD mầm non lên 15 hoặc nâng mức chi cho GDĐH lên 20 thì rõ ràng khơng còn tiền để chi
cho các mục tiêu khác.
Do đó bài tốn chi phí cho giáo dục chỉ được giải quyết khi chúng ta đầu tư hợp lý và phát huy có hiệu quả nguồn lực xã hội hố giáo
dục.
Bên cạnh những mặt hạn chế kể trên thì thực tế của nước ta còn tồn tại khá nhiều những hạn chế khác xuất phát từ nhiều khía cạnh làm cho việc đào
tạo theo nhu cầu xã hội của nước ta gặp nhiều khó khăn như: kinh phí cấp cho đào tạo còn hạn chế; số người ra khỏi thị trường lao động thấp hơn nhiều lần số
người tham gia vào thị trường lao động, số việc làm mới được tạo ra còn hạn chế làm cho số lượng lớn sinh viên sau khi tốt nghiệp khơng có khả năng tìm
kiếm việc làm trong tổng số 90 sinh viên ra trường chỉ có 50 sinh viên có việc làm, trong đó chỉ có 30 làm đúng ngành nghề đào tạo; sự gia tăng số học
sinh, sinh viên cao hơn nhiều lần số việc làm mới, các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo chưa đảm bảo, các trường đào tạo theo số lượng cũng là nguyên
nhân làm chậm quá trình đào tạo theo nhu cầu.
28

2. Những thành tựu đạt được từ đào tạo theo nhu cầu


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (42 trang)

×