1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Kế toán >

Đặc điểm kiểm toán các khoản đầu tư dài hạn:

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (442.36 KB, 91 trang )


1.1.1.4. Đầu tư dài hạn khác:


Đầu tư dài hạn khác phản ánh giá trị hiện có và tình hình biến động tăng giảm các loại đầu tư dài hạn khác ngồi các khoản đầu tư vào cơng ty con,
góp vốn vào cơ sở liên doanh đồng kiểm soát, đầu tư vào công ty liên kết, như đầu tư trái phiếu, đầu tư cổ phiếu hoặc đầu tư vào các đơn vị khác mà
khoản đầu tư chỉ dưới 20 vốn chủ sở hữu dưới 20 quyền biểu quyết … và thời hạn thu hồi hoặc thanh toán vốn đầu tư trên một năm.

1.1.2. Đặc điểm kiểm toán các khoản đầu tư dài hạn:


Mục tiêu kiểm toán các khoản đầu tư dài hạn là đưa ra các ý kiến về Bảng cân đối, các khoản đầu tư dài hạn của Doanh nghiệp có được thể hiện
một cách thực tế tại thời điểm cuối niên độ kế tốn khơng thường là 3112; các khoản đầu tư dài hạn của Doanh nghiệp có được kê khai và đánh giá chính
xác hay khơng và các khoản đầu tư dài hạn của Doanh nghiệp có được phân loại và miêu tả chính xác hay khơng. Ngồi ra, kiểm toán viên phải xác định
xem việc lập dự phòng giảm giá các khoản đầu tư dài hạn đã chính xác và tuân thủ chuẩn mực cũng như quy định kế toán hiện hành hay chưa.
Các khoản đầu tư tài chính dài hạn sẽ được lưu lại trong thời gian hơn một năm. Do vậy trong các cuộc kiểm toán hàng năm, mức nguyên giá của các
khoản đầu tư này khơng cần kiểm tra lại nếu đó là khách hàng thường niên của cơng ty kiểm tốn. Tuy nhiên để đảm bảo các khoản đầu tư dài hạn được mua
trong các giai đoạn trước thì phải kiểm tra sự tồn tại của các khoản đầu tư quan trọng tại thời điểm ghi trong BCĐ. Đối với năm kiểm toán đầu tiên thì
KTV phải kiểm tra tính phân loại và trình bày của các khoản mục đầu tư dài hạn xem có đủ điều kiện ghi nhận đầu tư dài hạn ko và dưới hình thức nào.
Khi doanh nghiệp thực tế có các cổ phiếu, trái phiếu hoặc các khoản đầu tư dài hạn khác thì kiểm tốn viên phải kiểm tra thực tế các chứng khốn đó. Khi các
khoản đầu này được một bên thứ ba độc lập với doanh nghiệp nắm giữ trên
Bùi Thị Ngọc Anh - Kiểm tốn 46B 6
danh nghĩa của doanh nghiệp thì phải kiểm tra sự tồn tại của chúng bằng cách lấy xác nhận của bên thứ ba.
Các khoản tăng đầu tư dài hạn quan trọng thường được ghi trong biên bản các cuộc họp quan trọng của doanh nghiệp do các khoản đầu tư đó khơng
được coi là các hoạt động thơng thường của doanh nghiệp. Tài liệu về các chứng nhận cổ phiếu hoặc hợp đồng liên doanh phải nằm trong hồ sơ của
doanh nghiệp. Đối với các khoản đầu tư dài hạn bằng hình thức góp vốn liên doanh thì
Báo cáo tài chính đã kiểm tốn của liên doanh phải được sử dụng để tính tốn lại thu nhập hoặc chi phí cho liên doanh trong năm của doanh nghiệp.
Việc cần thiết tạo ra một khoản dự phòng giảm giá các khoản đầu tư dài hạn phải được kiểm toán viên xem xét một cách cụ thể với các khoản đầu tư
dài hạn quan trọng. Bằng chứng về việc cần thiết đó có thể được thu thập bằng cách tham khảo các Báo cáo tài chính đã được kiểm tốn của các bên hữu
quan đến cổ phiếu được mua bán trên thị trường chứng khoán và giá của các trái phiếu cho đến thời điểm ghi trong Bảng cân đối hoặc việc định giá các bất
động sản đối với các tài sản tương tự. Trong báo cáo tài chính, nhà đầu tư phải trình bày: Danh sách các cơng
ty liên kết kèm theo các thông tin về phần sở hữu và tỷ lệ quyền biểu quyết, nếu tỷ lệ này khác với phần sở hữu; và các phương pháp được sử dụng
để kế toán các khoản đầu tư vào công ty liên kết. Các khoản đầu tư vào công ty liên kết hạch toán theo phương pháp vốn
chủ sở hữu phải phân loại như các tài sản dài hạn và phản ánh thành một khoản mục riêng biệt trên Bảng cân đối kế toán hợp nhất. Phần sở hữu của
nhà đầu tư về lãi hoặc lỗ của những khoản đầu tư đó phải trình bày thành một khoản mục riêng biệt trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh hợp nhất.
Bùi Thị Ngọc Anh - Kiểm toán 46B 7

1.2. Quy trình kiểm tốn các khoản đầu tư tài chính dài hạn:


Quy trình kiểm tốn các khoản đầu tư tài chính dài hạn về cơ bản giống quy trình kiểm toán của các khoản mục khác trên Bảng cân đối, đó là: Lập kế
hoạch kiểm tốn - Thực hiện kiểm toán - Kết thúc kiểm toán. Trước khi tiến hành xây dựng kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên phải đánh giá được hệ
thống kiểm soát nội bộ của khách hàng, từ đó đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm sốt để có thể xây dựng được một kế hoạch kiểm tốn cho các khoản mục trên
BCTC nói chung và khoản mục đầu tư tài chính dài hạn nói riêng.

1.2.1. Đánh giá hệ thống kiểm sốt nội bộ của khách hàng:


Trong kiểm tốn báo cáo tài chính, kiểm toán viên phải đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ và rủi ro kiểm sốt khơng chỉ để xác minh tính hữu
hiệu của kiểm sốt nội bộ mà còn làm cơ sở cho việc xác định phạm vi thực hiện các thử nghiệm cơ bản trên số dư và nghiệp vụ của đơn vị.
Việc đánh giá hệ thống kiểm sốt nội bộ được thực hiện theo trình tự nhất định và có thể khái quát theo ba bước cơ bản sau:
Bước 1: Thu thập hiểu biết về hệ thống kiểm sốt nội bộ và mơ tả chi tiết hệ thống kiểm soát nội bộ trên giấy tờ làm việc.
Trong giai đoạn này kiểm tốn viên tìm hiểu về kiểm soát nội bộ của đơn vị trên hai mặt chủ yếu: thiết kế kiểm soát nội bộ bao gồm thiết kế về qui
chế kiểm soát và thiết kế về bộ máy kiểm sốt; hoạt động liên tục và có hiệu lực của kiểm soát nội bộ.
Kiểm toán viên phải thu thập thơng tin về tính trung thực của Ban giám đốc với bản chất và phạm vi của các sổ sách kế tốn để xác minh các bằng
chứng đủ thích hợp và có sẵn để chứng minh cho các số dư trên BCTC. Riêng với khoản mục đầu tư tài chính dài hạn thường được xem là
khoản mục quan trọng trong Bảng Cân đối và là hoạt động kinh doanh ảnh hưởng đáng kể đến nguồn vốn cũng như lợi nhuận của Doanh nghiệp. Vì thế
Bùi Thị Ngọc Anh - Kiểm toán 46B 8

Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (91 trang)

×