Tải bản đầy đủ - 80 (trang)
Vai trò của các khu cơng nghiệp trong q trình hội nhập kinh tế quốc tế

Vai trò của các khu cơng nghiệp trong q trình hội nhập kinh tế quốc tế

Tải bản đầy đủ - 80trang

Trên thực tế mỗi KCN đều thành lập hệ thống BQL KCN cấp tỉnh tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương để trực tiếp thực hiện các chức năng quản lý Nhà nước
đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh trong KCN. Ngoài ra tham gia vào quản lý tại các KCN còn có nhiều Bộ như Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Thương mại, Bộ Công
nghiệp.
1.2.Vai trò của khu cơng nghiệp – khu chế xuất:
Trong gần 20 năm thực hiện cải cách kinh tế trong nước và hội nhập kinh tế thế giới, Việt Nam đã đạt được những thành quả quan trọng như: tỷ lệ tăng trưởng cao và
liên tục trong nhiều năm, cơ cấu ngành kinh tế thay đổi theo cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa; tỷ lệ tiết kiệm tăng nhanh,... Trong các thành quả đó nền kinh tế chung của đất
nước, các khu cơng nghiệp đã đóng góp đáng kể thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nước.

1.2.1. Vai trò của các khu cơng nghiệp trong q trình hội nhập kinh tế quốc tế


Tồn cầu hoá kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ và gắn liện với nó là ngày càng có nhiều nước hội nhập và hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế khu vực và thế giới, ở nước ta,
tư duy về hội nhập kinh tế quốc tế cũng được hình thành và phát triển tích cực qua các kì Đại hội Đảng. Quan điểm “sẵn sàng mở rộng quan hệ kinh tế với tất cả các nước, các
cơng ty nước ngồi trên cơ sở hai bên cùng có lợi và khơng có điều kiện chính trị ràng buộc, nhưng phải chủ động phòng ngừa, tránh bị lệ thuộc”Đại hội Đảng khố VI,1986
đã nâng cao thành “đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ quốc tế Đại hội Đảng khoá VII, 1991, “trên cơ sở phát huy nội lực, thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách thu hút
các nguồn lực bên ngồi; tích cực chủ động thâm nhập, mở rộng thị trường quốc tế” Đại hội Đảng khoá IX, 2001, “lấy phục vụ lợi ích đất nước làm mục tiêu cao nhất và là
nguyên tắc chủ đạo; đồng thời linh hoạt, mềm dẻo, phù hợp với thông lệ quốc tế” Đại hội Đảng khoá X, 2006. Như vậy, quan điểm chấp nhận hội nhập đã được nâng lên
“chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế. Đây là bước đột phá trong quan điểm của Đảng, đóng vai trò tích cực đối với phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam trong
những năm qua.
 Để hội nhập và phát triển trong điều kiện nền tích luỹ nội bộ còn thấp
thì thu hút được nhiều vốn đầu tư nước ngồi là rất quan trọng. Khu cơng nghiệp, khu chế xuất là một mơ hình quản lý kinh tế hiện đại, tập trung, hiệu quả,là giải pháp hữu
hiệu nhằm huy động vốn đầu tư nước ngoài, cũng là điểm giao thoa của nền kinh tế Việt Nam với nền kinh tế thế giới. Từ đó chúng ta có thể từng bước học hỏi, nâng cao nhận
thức và chuẩn hoá luật pháp, các quy trình và thơng lệ theo tiêu chuẩn quốc tế, đưa đất nước từng bước hội nhập, trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm
2020. Theo đường lối đổi mới đó của Đảng, khu cơng nghiệp KCN, khu chế xuất KCX ở Việt Nam ra đời và phát triển mạnh mẽ.
Từ khi khu công nghiệp đầu tiên KCN Tân Thuận, thành phố Hồ Chí Minh được thành lập năm 1991, sau 16 năm, việc xây dựng và phát triển KCN đã được Nhà
nước đặc biệt quan tâm. Tính đến hết năm 2006, cả nước có 139 KCN nằm ở 50 tỉnh, thành phố, với tổng diện tích đất tự nhiên trên 29.000 ha khơng kể các khu kinh tế tổng
hợp như Chu Lai, Dung Quất, Nhơn Hội…. Trong đó, 90 KCN đã đi vào hoạt động, các khu còn lại đang trong q trình giải phóng mặt bằng, xây dựng kết cấu hạ tầng. Trong
quy hoạch từ nay đến năm 2010, cả nước sẽ thành lập và xây dựng mới gần 100 KCN, đồng thời mở rộng thêm gần 30 KCN khác, đưa tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp của
các KCN trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp cả nước từ 26,4 hiện nay lên 35 và tỷ lệ xuất khẩu trong giá trị xuất khẩu cả nước tăng 18,7 lên 32 vào 2010. Các
KCN tập trung chủ yếu ở các tỉnh thuộc 3 vùng kinh tế trọng điểm, là các mũi nhọn phát triển công nghiệp của địa phương và của vùng. Số lượng các KCN được phân bố như
sau : •
Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ có 25 khu, diện tích 4601 ha, lao động Việt Nam 116.668 người.
• Vùng kinh tế trọng điểm Nam Bộ có 67 khu, diện tích 16.565 ha, lao động
Việt Nam 592.109 người. •
Vùng kinh tế trọng điểm Trung Bộ có 11 khu, diện tích 2.495 ha, lao động Việt Nam 83.204 người.
• Các khu vực khác có 36 khu, diện tích 5.731 ha, lao động Việt Nam
126.273 người. Như vậy, riêng 3 vùng KTTĐ đã chiếm tới 74 số KCN, 81 diện tích đất KCN
và 86 lao động trong tổng số KCN trong cả nước. Hơn nữa, 3 vùng KTTĐ lại có điều kiện về cơ sở hạ tầng và kinh tế- xã hội thuận lợi hơn các vùng khác. Do vậy, thu hút
đầu tư vào các KCN tại 3 vùng KTTĐ đóng vai trò then chốt trong tiến trình cơng nghiệp hố hiện đại hố, tạ đà cho tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam trong
thời gian tới. Hiện nay, tại vùng KTTĐ phía Nam, Đồng Nai - địa phương nổi lên là một trong
những tỉnh có các KCN phát triển mạnh nhất - đặt mục tiêu: đến năm 2010, thu hút 30 tỉ USD vốn đầu tư vào các KCN, trong đó đầu tư mới là 20 tỉ USD và đầu tư mở rộng 10 tỉ
USD. Đã có 26 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào tỉnh Đồng Nai, trong đó Đài Loan 2,47 tỉ USD, Hàn Quốc 1,13 tỉ USD, Nhật Bản 1,06 tỉ USD, Mỹ 203 triệu USD, Liên
minh châu Âu 601 triệu USD, các nước ASEAN 1.470 triệu USD. Tính đến hết năm 2006, các KCN Đồng Nai đã thu hút được 828 dự án đầu tư với tổng vốn đăng ký 8,34 tỉ
USD. Trong đó, 198 doanh nghiệp trong nước với tổng vốn đầu tư khoảng 514 triệu USD, chiếm 6 tổng vốn đầu tư vào các KCN, doanh nghiệp liên doanh có khoảng 50
dự án, tổng vốn đăng ký trên 900 triệu USD, chiếm 11, doanh nghiệp 100 vốn nước ngoài trên 450 dự án, tổng vốn đăng ký hơn 6.900 triệu USD, chiếm 83.
Tại vùng KTTĐ Bắc Bộ, những tín hiệu khả quan cũng đang đến với các KCX, KCN Hải Phòng trong năm 2006. Tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
trong KCX, KCN khá ổn định với vốn thực hiện đạt 2 triệu USD, tăng 43 so với cùng kỳ 2005. Các doanh nghiệp đã đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu với doanh thu 10 triệu
USD, tăng 50 so với tháng 12005. Theo các nhà quản lý kinh tế, nhờ tốc độ tăng trưởng và hiệu quả hoạt động của
các KCN, KCX trên toàn quốc tiếp tục được giữ vững nên dòng vốn đầu tư của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi và trong nước đều tăng đều đặn, trong đó có
nhiều dự án cơng nghiệp cơng nghệ cao. Vì vậy, nhiều KCN đã được Chính phủ cấp phép thành lập mới hoặc mở rộng, như KCN Tân Trường 199,3 ha, thuộc tỉnh Hải
Dương; KCN Đại Đồng - Hoàn Sơn 230 ha, tỉnh Bắc Ninh. KCN Ninh Phúc Ninh Bình giai đoạn 1 được mở rộng thêm 40,8 ha. Chỉ tính riêng năm 2006, đã có 9 KCN
được cấp phép và bắt đầu xây dựng cơ sở hạ tầng trên cả nước với tổng diện tích là 1900 ha bằng 6,9 so với tổng diện tích KCN trước 2006, lớn nhất là KCN Phước Nam Ninh
Thuận có diện tích 370 ha. Cùng với việc Việt Nam gia nhập WTO vào tháng 11 năm 2006, triển vọng thu
hút đầu tư nước ngồi nói chung vào các KCN, KCX từ nay đến năm 2010 được mở rộng hơn bất cứ thời điểm nào trong lịch sử phát triển các KCN. Việt Nam trở thành
điểm đầu tư hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài đặc biệt là các thành viên của WTO. Các đồn doanh nghiệp lớn, cơng nghệ cao liên tục đến Việt Nam tìm hiểu cơ hội
đầu tư. Nhiều dự án lớn với vốn đầu tư trên 500 triệu USD đã và đang được cấp phép và đi vào hoạt động như dự án nhà máy sản xuất thép của Tập đồn Posco Hàn Quốc tại
Khu cơng nghiệp Phú Mỹ 2, với tổng vốn đầu tư đăng ký gần 1,2 tỷ USD, dự án của Tập đoàn Intel vốn đầu tư 605 triệu USD. Đối với đầu tư trong nước, Luật Doanh nghiệp tiếp
tục phát huy hiệu quả, được đánh giá là có tiềm năng to lớn trong việc huy động vốn. Theo dự báo, những lĩnh vực có triển vọng hơn cả trong việc thu hút đầu tư vào các
KCN trong 5 năm tới sẽ là ngành công nghiệp năng lượng điện, than và dầu khí; tiếp đến là công nghiệp ô tô; công nghiệp dệt may, da giày; cơ khí đóng tàu; sản xuất máy
móc, thiết bị điện tử, thiết bị thông tin, phần mềm và vật liệu xây dựng.

2. Đóng góp của các KCN vào phát triển kinh tế - xã hội


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Vai trò của các khu cơng nghiệp trong q trình hội nhập kinh tế quốc tế

Tải bản đầy đủ ngay(80 tr)

×