1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Quản trị kinh doanh >
Tải bản đầy đủ - 80 (trang)
Đóng góp của các KCN vào phát triển kinh tế - xã hội

Đóng góp của các KCN vào phát triển kinh tế - xã hội

Tải bản đầy đủ - 80trang

Dương; KCN Đại Đồng - Hoàn Sơn 230 ha, tỉnh Bắc Ninh. KCN Ninh Phúc Ninh Bình giai đoạn 1 được mở rộng thêm 40,8 ha. Chỉ tính riêng năm 2006, đã có 9 KCN
được cấp phép và bắt đầu xây dựng cơ sở hạ tầng trên cả nước với tổng diện tích là 1900 ha bằng 6,9 so với tổng diện tích KCN trước 2006, lớn nhất là KCN Phước Nam Ninh
Thuận có diện tích 370 ha. Cùng với việc Việt Nam gia nhập WTO vào tháng 11 năm 2006, triển vọng thu
hút đầu tư nước ngồi nói chung vào các KCN, KCX từ nay đến năm 2010 được mở rộng hơn bất cứ thời điểm nào trong lịch sử phát triển các KCN. Việt Nam trở thành
điểm đầu tư hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài đặc biệt là các thành viên của WTO. Các đồn doanh nghiệp lớn, cơng nghệ cao liên tục đến Việt Nam tìm hiểu cơ hội
đầu tư. Nhiều dự án lớn với vốn đầu tư trên 500 triệu USD đã và đang được cấp phép và đi vào hoạt động như dự án nhà máy sản xuất thép của Tập đồn Posco Hàn Quốc tại
Khu cơng nghiệp Phú Mỹ 2, với tổng vốn đầu tư đăng ký gần 1,2 tỷ USD, dự án của Tập đoàn Intel vốn đầu tư 605 triệu USD. Đối với đầu tư trong nước, Luật Doanh nghiệp tiếp
tục phát huy hiệu quả, được đánh giá là có tiềm năng to lớn trong việc huy động vốn. Theo dự báo, những lĩnh vực có triển vọng hơn cả trong việc thu hút đầu tư vào các
KCN trong 5 năm tới sẽ là ngành công nghiệp năng lượng điện, than và dầu khí; tiếp đến là cơng nghiệp ô tô; công nghiệp dệt may, da giày; cơ khí đóng tàu; sản xuất máy
móc, thiết bị điện tử, thiết bị thông tin, phần mềm và vật liệu xây dựng.

2. Đóng góp của các KCN vào phát triển kinh tế - xã hội


Nhờ việc tích cực thực hiện cải cách kinh tế và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế theo chủ trương của Đại hội Đảng đề ra, trong 20 năm đổi mới vừa qua1986-2006,
Việt Nam đã đạt được những thành quả quan trọng về kinh tế cũng như đời sống văn hoá, xã hội.
- Tỷ lệ tăng trưởng cao và liên tục trong nhiều năm trung bình giai đoạn 2001- 2005 đạt 7,5, riêng năm 2006 đạt 8,17, tổng GDP tồn xã hội ước tính đạt 61,7 tỷ
USD, GDP đầu người đạt 11,5 triệu đồng, tương đương 720 USD.
- Cơ cấu ngành kinh tế thay đổi theo cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, giảm tỷ trọng khu
vực nông lâm nghiệp và thuỷ sản. Tỷ trọng khu vực công nghiệp và xây dựng từ 40,97 năm 2005 lên 41,52 trong năm 2006; khu vực dịch vụ tăng từ 38,01 lên
38,08; khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản giảm từ 21,02 xuống còn 20,40.; tỷ lệ tiết kiệm tăng nhanh gấp 3 lần, từ 11 GDP năm 1986 lên 39 năm 2005.
- Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đạt mức cao kỷ lục, xấp xỉ 40 tỷ USD, tăng 24 so với năm 2005 và vượt 2 tỷ USD so với kế hoạch. Số mặt hàng xuất khẩu chủ lực
đạt giá trị từ 1 tỉ USD trở lên tăng từ 0 mặt hàng năm 1981 lên 9 năm 2006, trong đó 4 mặt hàng lớn truyền thống là dầu thơ, dệt may, giày dép và thuỷ sản kim ngạch mỗi mặt
hàng đạt trên 3,3 tỷ USD. - FDI và ODA ngày càng đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, góp
phần cung cấp vốn, cải thiện cơng nghệ, phương thức quản lý tiên tiến, tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao hơn, thị trường xuất khẩu lớn hơn, đa dạng hơn, tăng tính cạnh
tranh và tạo việc làm cho người lao động. Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI tăng đột biến, đạt trên 10,2 tỷ USD, là mức cao nhất từ trước đến nay và cũng là một trong những
sự kiện kinh tế nổi bật nhất trong năm 2006; tỷ suất FDIGDP tăng từ cuối thập kỷ 1980 lên 6,41 năm 1994 lên 16,5 năm 2006. Tổng lượng vốn ODA đạt giá trị 2.666 triệu
USD, trong đó vốn vay đạt 2.412 triệu USD và vốn viện trợ đạt 254 triệu USD, cam kết năm 2007 là 4,5 tỷ USD. Xuất khẩu hàng hoá năm 2006 ước tính đạt 39,6 tỷ USD, trong
đó khu vực có vốn đầu tư nước ngồi đóng góp 14,5 tỷ USD, tăng 30,1 so với năm 2005, đóng góp 46,9 vào tổng giá trị xuất khẩu cả nước.
Trong sự phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ của nền kinh tế Việt Nam, KCN là điểm sáng, đóng góp to lớn cho tăng trưởng kinh tế, giữ vai trò quan trọng trong định
hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, tăng cường khả năng tiếp nhận công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý tiên tiến, tạo việc làm cho người lao động, góp phần
xố đói, giảm nghèo, thúc đẩy xuất nhập khẩu. Điều này được thể hiện ở những khía cạnh chủ yếu sau:
- Trong năm 2006, giá trị sản xuất công nghiệp của DN trong các KCN cả nước không kể doanh thu dịch vụ đạt 16,8 tỷ USD, tăng 19 so với năm 2005 và chiếm
khoảng 30 tổng giá trị sản xuất công nghiệp cả nước. - Trong đó, giá trị xuất khẩu hàng hóa của DN KCN đạt khoảng 8,3 tỷ USD, tăng
hơn 22 so với năm 2005 và chiếm 28 tổng kim ngạch xuất khẩu hàng công nghiệp xuất khẩu của cả nước.
- Trong năm, các DN KCN đã nộp ngân sách Nhà nước khoảng 880 triệu USD, tăng 35,4 so với năm 2005.
- Số lao động trực tiếp làm việc tại KCN cuối năm 2005 là 80 vạn người, đến cuối năm 2006 là 91,8 vạn người. Như vậy, cả năm tăng thêm 11,8 vạn người, tăng 15
so với cuối năm 2005. . Tại Hà Nội, vốn đầu tư nước ngoài vào các KCN chiếm tỷ trọng lớn, đạt tới
98 tổng vốn đầu tư. Nguồn vốn này đóng góp 7,5 vào tổng vốn đầu tư phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố và được coi là xung lực, tạo sự đột phá cho sự tăng
trưởng kinh tế của Hà Nội. Chỉ tính riêng 9 tháng đầu năm 2005, có 67 doanh nghiệp hoạt động trong 3 KCN tập trung đã đạt tổng doanh thu 795,4 triệu USD, xuất khẩu
550,52 triệu USD, nộp ngân sách Nhà nước 25,48 triệu USD và tạo thêm 28.160 việc làm cho người lao động. Mặc dù các KCN của Hà Nội chỉ chiếm 16 tổng số dự án và
18 tổng vốn đăng ký của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi trên địa bàn nhưng lại chiếm tới 43 tổng doanh thu, 88 tổng kim ngạch xuất khẩu và 18 tổng
mức nộp ngân sách Nhà nước và đã tạo được 35 số việc làm mà các dự án đầu tư nước ngoài trên địa bàn tạo ra.
- Thu hút lượng khá lớn vốn đầu tư trong và ngoài nước. Riêng đầu tư trực
tiếp nước ngồi, tính chung cả vốn đăng ký mới và vốn bổ sung vào các KCN trong năm 2006 đầu tư đạt 5682 triệu USD tăng gần 2 lần so với năm 2005, chiếm 56 tổng vốn
FDI đăng ký mới và bổ sung trong năm của cả nước. Tổng hợp đến cuối năm 2006, các
KCN đã thu hút được 2433 dự án FDI với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 21,79 tỷ USD. Đầu tư trong nước cũng diễn biến khả quan với hơn 300 dự án đầu tư trong nước với
tổng vốn đầu tư đăng ký đạt trên 15.000 tỷ đồng tương đương 940 triệu USD. Đến cuối năm 2006, tổng số dự án trong nước là 2623 dự án, với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt
135.690 tỷ đồng tương đương khoảng 9 tỷ USD. Tỷ lệ so sánh giữa hai nguồn vốn này là 0,41 thể hiện nguồn vốn đầu tư trong nước đã có vai trò quan trọng nhất định trong
phát triển các KCN những năm qua. Như vậy, các KCN, KCX trên cả nước có 5056 dự án còn hiệu lực, bao gồm 2433 dự án đầu tư nước ngoài, 2623 dự án đầu tư trong
nước,đã có gần 3.424 dự án đã đi vào sản xuất kinh doanh và trên 856 dự án đang triển khai xây dựng cơ bản.
- Tạo thêm nhiều việc làm mới, góp phần làm giảm tỷ lệ thất nghiệp. Năm 2006 các KCN đã thu hút thêm gần 118.000 lao động trực tiếp, tăng 15 so với năm trước,
đưa tổng số lao động trực tiếp trong KCN lên 918.000 người, không kể gần 2 triệu lao động gián tiếp khác. Tại Hà Nội, chỉ tính 67 doanh nghiệp đi vào hoạt động, đã thu hút
gần 43.000 lao động trực tiếp và khoảng 45.000 lao động gián tiếp, bằng 40 số lao động làm việc tại các doanh nghiệp có vốn FDI trên địa bàn, phần lớn các lao động đều
được đào tạo huấn luyện để nhanh chóng nắm bắt và sử dụng các dây chuyền sản xuất mới, làm gia tăng chất lượng nguồn nhân lực kể cả lao động quản lý và kỹ năng lao động
trực tiếp. - Thúc đẩy việc đổi mới và hồn thiện mơi trường kinh doanh, nâng cao năng lực
cạnh tranh. Các doanh nghiệp trong các KCN, đi tiên phong trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngồi và áp dụng cơng nghệ, dây chuyền sản xuất tiên tiến, là mơ hình thử
nghiệm thích hợp nhất để cải thiện mơi trường đầu tư trong nước, đã đem lại nhiều bài học kinh nghiệm góp phần quan trọng vào việc đổi mới, hồn thiện thể chế kinh tế, hệ
thống pháp luật, thủ tục hành chính, nhất là thể chế tiền tệ và tín dụng, ngoại hối của các địa phương nói riêng và cả nước nói chung. Các doanh nghiệp này cũng góp phần làm
thay đổi bộ mặt và cấu trúc mạng lưới thương mại hàng hoá và dịch vụ, cơ cấu hệ thống hậu cần thương mại cũng như toàn bộ lĩnh vực phân phối, lưu thông và dịch vụ xã hội.
- Tạo điều kiện cho các địa phương phát huy thế mạnh đặc thù của mình, đồng thời hình thành mối liên kết, hỗ trợ phát triển sản xuất trong vùng, miền và cả nước.
- Các KCN góp phần tạo ra những năng lực sản xuất mới, ngành nghề mới và công nghệ mới, làm cho cơ cấu kinh tế của nhiều tỉnh, thành phố và khu vực toàn tuyến
hành lang kinh tế nói chung từng bước chuyển biến theo hướng một nền kinh tế cơng nghiệp hố, thị trường, hiện đại. Nhiều KCN nói chung đã phát triển các ngành cơng
nghiệp hồn tồn mới có hàm lượng vốn lớn, cơng nghệ cao như thiết bị văn phòng Canon, điện tử Orion -Hanel..., phụ tùng ôtô, xe máy, vật liệu xây dựng, sản phẩm
thép... Theo đánh giá, những công nghệ đang sử dụng ở các dự án FDI trong các KCN đều hiện đại hơn cơng nghệ vốn có của nước ta, là cơ hội để các doanh nghiệp trong
nước học hỏi và áp dụng, nâng cao năng lực cạnh tranh của bản thân doanh nghiệp. - KCN còn góp phần quan trọng vào mở rộng thị trường, đẩy mạnh kinh tế đối
ngoại và tăng kim ngạch xuất khẩu cho khu vực hành lang kinh tế. Do đa dạng hoá thị trường, đa phương hoá quan hệ kinh tế đối ngoại, các doanh nghiệp trong các KCN có
cơ hội đẩy mạnh xuất khẩu. Giá trị xuất khẩu hàng hóa của DN KCN đạt khoảng 8,3 tỷ USD, chiếm 28 tổng kim ngạch xuất khẩu hàng công nghiệp xuất khẩu của cả nước.
Các doanh nghiệp trong các KCN còn góp phần làm thay đổi cơ cấu hàng hoá xuất khẩu và cơ cấu nhập khẩu, mở rộng thị trường tiêu thụ trong khu vực và trên thế giới.

2.3. Nâng cao trình độ cơng nghệ, hiện đại hố cách thức quản lý sản xuất


KCN, KCX là khu vực có những điều kiện thuận lợi về cơ sở hạ tầng cùng với nhiều chính sách ưu đãi đầu tư được áp dụng nên đây chính là điểm đến lý tưởng của các
nhà đầu tư, trong đó có đầu tư nước ngồi. Một số cơng nghệ tiên tiến, hiện đại trên thế giới cùng trình độ quản lý cao của đội ngũ cán bộ doanh nghiệp, trình độ tay nghề của
cơng nhân theo các chuẩn mực quốc tế đã được áp dụng tại Việt Nam. Đây cũng là những nhân tố quan trọng góp phần để nước ta thực hiện việc chủ động hội nhập kinh tế
quốc tế. KCN là nơi tiếp nhận công nghệ mới, tập trung những ngành nghề mới, góp phần
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH. Cùng với dòng vốn đầu tư nước ngồi đầu tư vào các dự án sản xuất kinh doanh trong KCN, các nhà đầu tư còn đưa vào
Việt Nam những dây chuyền sản xuất với cơng nghệ tiên tiến, hiện đại, trong đó có cả những dự án cơng nghiệp kỹ thuật cao phần lớn của Nhật Bản, như Công ty TNHH
Canon Việt Nam, Mabuchi Motor, Orion Hanel..., những lĩnh vực mà chúng ta còn yếu kém và cần khuyến khích phát triển như cơ khí chính xác, điện tử...
Các dự án đầu tư vào KCN tập trung chủ yếu vào các ngành công nghiệp nhẹ như dệt may, da giầy, công nghiệp chế biến thực phẩm chiếm trên 50 tổng số dự án, đây
là các dự án thu hút nhiều lao động, có tỷ lệ xuất khẩu cao và đã góp phần nâng cấp các ngành này về dây chuyền công nghệ, chất lượng sản phẩm... Tuy nhiên, các KCN cũng
đã thu hút được các dự án có quy mơ và u cầu vốn lớn, cơng nghệ cao như dầu khí, sản xuất ơtơ, xe máy, dụng cụ văn phòng, cơ khí chính xác, vật liệu xây dựng... Mặc dù
số lượng các dự án này trong KCN mới chiếm khoảng 5-10 số dự án, nhưng cũng đã góp phần phát triển và đa dạng hố cơ cấu ngành nghề cơng nghiệp.
Các doanh nghiệp trong KCN, đặc biệt là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi đã góp sức đào tạo được đội ngũ lao động công nghiệp sử dụng và vận hành thành
thạo các trang thiết bị phục vụ quản lý và sản xuất, nắm vững cơng nghệ, có tác động lan toả và nâng trình độ tay nghề của đội ngũ lao động Việt Nam lên một bước. Một lượng
đáng kể người lao động Việt Nam được đảm nhận các vị trí quản lý doanh nghiệp, được tiếp xúc với phương thức quản trị doanh nghiệp tiên tiến, hiện đại, kỹ năng marketing,
quản lý tài chính, tổ chức nhân sự... Việc được trực tiếp làm việc trong môi trường có kỷ luật cao, yêu cầu tay nghề cao, đã rèn luyện được những kỹ năng và bản lĩnh làm việc
giúp người lao động Việt Nam thích ứng với một nền cơng nghiệp tiên tiến, hiện đại.

2.4. Hiện đại hố hệ thống kết cấu hạ tầng


Việc phát triển các KCN trong thời gian qua không những thúc đẩy các ngành dịch vụ phát triển, thúc đẩy CNH-HĐH nông nghiệp nông thơn, mà còn đẩy nhanh tốc
độ đơ thị hóa, góp phần đáng kể vào việc hiện đại hóa hệ thống kết cấu hạ tầng trong và ngoài KCN. Điều này được thể hiện qua một số khía cạnh sau:
- Đẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng các KCN có tác dụng kích thích sự phát triển kinh tế địa phương, góp phần rút ngắn sự chênh lệch phát triển giữa nông thôn và
thành thị, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Điều này có thể dễ dàng
nhận nhất ở những vùng có KCN phát triển mạnh như Biên Hòa, Nhơn Trạch Đồng Nai, Thuận An Bình Dương, Tiên Sơn Bắc Ninh… cùng với quá trình phát triển
KCN, các điều kiện về kỹ thuật hạ tầng trong khu vực đã được cải thiện đáng kể, nhu cầu về các dịch vụ gia tăng, đã góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh cho các cơ sở
dịch vụ trong vùng. - Cùng với các chính sách ưu đãi về tài chính và cơng tác quản lý thuận lợi của
nhà nước, có thể nói việc thu hút nguồn vốn để đầu tư xây dựng hoàn thiện và đồng bộ các kết cấu hạ tầng trong KCN có vai trò quyết định trong việc thu hút đầu tư. Việc các
doanh nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế doanh nghiệp quốc doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi, doanh nghiệp ngoài quốc doanh tham gia đầu tư xây dựng
kết cấu hạ tầng KCN không những tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong KCN hoạt động hiệu quả, mà còn tạo sự đa dạng hóa thành phần doanh nghiệp tham gia
xúc tiến đầu tư góp phần tạo sự hấp dẫn trong việc thu hút doanh nghiệp cơng nghiệp vào KCN.
- Việc đầu tư hồn thiện hạ tầng kỹ thuật trong KCN không những thu hút các dự án đầu tư mới mà còn tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng quy mô để tăng năng
lực sản xuất và cạnh tranh, hoặc di chuyển ra khỏi các khu đông dân cư, tạo điều kiện để các địa phương giải quyết các vấn đề ô nhiễm, bảo vệ mơi trường đơ thị, tái tạo và hình
thành quỹ đất mới phục vụ các mục đích khác của cộng đồng trong khu vực như KCN Tân Tạo TP.Hồ Chí Minh, Việt Hương Bình Dương…
- Q trình xây dựng kết cấu hạ tầng trong và ngoài hàng rào KCN còn đảm bảo sự liên thơng giữa các vùng, định hướng cho quy hoạch phát triển các khu dân cư mới,
các khu đơ thị vệ tinh, hình thành các ngành cơng nghiệp phụ trợ, dịch vụ… các cơng trình hạ tầng xã hội phục vụ đời sống người lao động và cư dân trong khu vực như: nhà
ở, trường học, bệnh viện, khu giải trí… - Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đón bắt và thu hút đầu tư các ngành như
điện, giao thông vận tải, hệ thống thông tin liên lạc, cảng biển, các hoạt động dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, xúc tiến đầu tư, phát triển thị trường địa ốc... đáp ứng nhu
cầu hoạt động và phát triển của các KCN.
3.Sự hình thành và phát triển các khu công nghiệp - khu chế xuất ở Việt Nam:
Sự ra đời của các KCN, KCX gắn liền với đường lối đổi mới, chính sách mở cửa do Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 khởi xướng. Nghị quyết Hội nghị giữa nhiệm kỳ
khoá VII năm 1994 đã đề ra yêu cầu về “Quy hoạch các vùng, trước hết là các địa bàn trọng điểm, các KCX, khu kinh tế đặc biệt, KCN tập trung”. Tiếp đó, Nghị quyết Đại hội
lần thứ VIII của Đảng năm 1996 cũng đã xác định rõ “Hình thành các KCN tập trung bao gồm cả KCX, KCNC, tạo địa bàn thuận lợi cho việc xây dựng các cơ sở công
nghiệp mới. Phát triển mạnh công nghiệp nông thôn và ven đô thị. ở các thành phố, thị xã, nâng cấp, cải tạo các cơ sở cơng nghiệp hiện có, đưa các cơ sở khơng có khả năng xử
lý ơ nhiễm ra ngoài thành phố, hạn chế việc xây dựng cơ sở công nghiệp mới xen lẫn với khu dân cư”. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII
cũng xác định phương hướng trong thời gian tới là “Phát triển từng bước và nâng cao hiệu quả các KCN”. Để thực hiện chiến lược, quy hoạch phát triển và phân bố công
nghiệp, Nhà nước chủ trương tập trung phát triển công nghiệp vào các KCN, KCX theo quy hoạch xác định.
Thực tế, trong 16 năm qua kể từ ngày nước ta có KCX đầu tiên đến nay, các KCN, KCX, KCNC đã thể hiện vị trí và vai trò quan trọng trong q trình cơng nghiệp
hố, hiện đại hố đất nước. Điều đó thể hiện: Trước hết là, việc xây dựng các KCN, KCX nhằm phát huy hiệu quả của sự tập
trung nguồn lực cho sản xuất. Tạo điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư. Đầu tư nước ngoài vào các KCN, KCX cho đến nay chiếm khoảng 27,6 tổng lượng vốn đầu tư
nước ngoài vào nền kinh tế và khoảng 61,4 vào phát triển công nghiệp. Hầu hết, các dự án đầu tư vào các KCN triển khai nhanh và thuận lợi hơn so với
ngồi KCN, KCX, KCNC. Tính đến nay, vốn đầu tư thực hiện của các doanh nghiệp KCN đạt trên 53 vốn đầu tư đăng ký. Thời gian xây dựng cơ bản của các dự án đầu tư
vào KCN tương đối ngắn khoảng 1 - 2 năm, cá biệt có dự án chỉ 6 tháng sau khi cấp giấy phép đầu tư đã đi vào sản xu t kinh doanh.
Thứ hai là, KCX là nơi tập trung sản xuất và gia công hàng xuất khẩu. KCN, KCX là nơi tập trung hố sản xuất cao, ở đó tiếp nhận các phương pháp quản lý hiện đại
vận hành trên các dây chuyền công nghiệp hiện đại của các đối tác trực tiếp nước ngoài và các liên doanh. Nếu cùng xây dựng tại đây, các doanh nghiệp Viêt Nam có nhiều điều
kiện tiếp thu, học hỏi phương thức tổ chức quản lý sản xuất, tiếp thu công nghệ hiện đại cho chính mình. Sự tập trung sản xuất, giúp cho việc xây dựng cơ chế riêng hỗ trợ hoạt
động của doanh nghiệp, đồng thời giúp cho cơ quan quản lý nhà nước thuận tiện hơn trong quá trình theo dõi giám sát, quản lý hoạt động của các doanh nghiệp. Một trong
những mục tiêu quan trọng của việc hình thành các KCN và các KCX là tiếp nhận sự chuyển giao cơng nghệ trong đó có cơng nghệ về quản lý, kinh nghiệm về điều hành. Sự
chuyển giao công nghệ đã đạt được những thành công trong một số lĩnh vực nhất định. Trong tổng số hơn 5000 dự án đầu tư phát triển công nghiệp trong các KCN đến
thời điểm tháng 12 năm 2006 có tới 2433 dự án đầu tư nước ngoài. Các dự án đầu tư nước ngồi nhìn chung có cơng nghệ tương đối hiện đại, sản phẩm có chất lượng tốt và
cạnh tranh được cả trên thị trường trong nước và thị trường nước ngoài. Các dự án đầu tư nước ngoài tại các KCN thực sự là một trong những kênh
chuyển giao công nghệ một cách nhanh chóng. Các dự án này sử dụng một số lượng đáng kể lao động trong nước. Qua thực tiễn hoạt động trong các doanh nghiệp KCN lực
lượng lao động được đào tạo và tiếp cận với công nghệ tương đối hiện đại và được nâng cao trình độ chun mơn của mình.
Thứ ba là, KCNC là vườn ươm cơng nghệ, nơi có cơ chế hoạt động hấp dẫn các nhà khoa học đến làm việc nghiên cứu, thí nghiệm. Đây là nơi triển khai các dự án,
những phát minh sáng chế trong công nghệ trước khi đưa vào sản xuất. Đó là nơi nối nhà khoa học với doanh nghiệp sản xuất công nghiệp. Với những chính sách ưu đãi tốt, hồn
tồn có khả năng thu hút các ngành công nghệ mũi nhọn như điện tử, sinh học vật liệu mới,… Đây là khu thu hút các lao động khoa học, nguồn nhân lực đầu ra của các viện
nghiên cứu. Do đó, KCN, KCX, KCNC là nơi các doanh nghiệp trong nước có điều kiện tiếp nhận các thành tựu của khoa học và công nghệ hiện đại của thế giới, để vận dụng
vào sản xuất của chính doanh nghiệp mình, thúc đẩy nhanh hơn q trình thực hiện cơng nghiệp hố, hiện đại hố đất nước.
Các KCN đã góp phần thúc đẩy phát triển cơng nghiệp, tăng trưởng kinh tế, hình thành các trung tâm công nghiệp gắn liền với phát triển đô thị, tạo bước chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp chế biến phục vụ xuất khẩu và tiêu thụ trong nước. Đồng thời KCN cũng góp phần giải quyết việc làm, đào tạo cán bộ
quản lý và cơng nhân lành nghề, thực hiện cơng nghiệp hố, hiện đại hoá, thu hẹp chênh lệch giữa các vùng của đất nước. Tuy nhiên, thực tiễn hoạt động các KCN cũng đặt ra
nhiều vấn đề kinh tế - xã hội, môi trường cần quan tâm xử lý để tiếp tục phát triển. Sự phát triển nhanh, có chất lượng của các KCN, KCX và KCNC có tác động
rất tích cực đối với sự chuyển dịch cơ cấu của một tỉnh, một vùng, và của cả nước. Từ một nước nông nghiệp đang ở trong giai đoạn đầu của quá trình cơng nghiệp
hố, nhu cầu việc làm rất lớn. Phát triển cơng nghiệp nói chung và các KCN nói riêng nhằm tạo ra nhiều việc làm, thu hút ngày càng nhiều lao động dư thừa ở khu vực nơng
nghiệp, góp phần nâng cao được năng suất ở khu vực này. Theo số liệu điều tra, hiện nay 1 ha đất KCN, KCX tạo ra khoảng 150 chỗ làm việc kể cả gián tiếp và trực tiếp, trong
đó lao động trực tiếp bình qn khoảng 81 ngườiha. Các KCN, KCX góp phần thúc đẩy mạnh quá trình chuyển biến cơ cấu sản xuất
công nghiệp theo hướng xuất khẩu, thay thế nhập khẩu một cách có hiệu quả, nâng dần tỷ trọng các mặt hàng đã qua chế biến, hạn chế đến mức thấp nhất việc xuất khẩu
nguyên liệu thô. Do tập trung các cơ sở sản xuất nên có điều kiện thuận lợi trong việc kiểm soát,
xử lý chất thải và bảo vệ môi trường, do vậy KCN là địa điểm tốt để di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm từ nội thành, phục vụ mục tiêu phát triển bền vững. Đây là một trong
số các mục tiêu đặt ra đối với việc thành lập KCN. Cho đến nay, hầu hết các KCN tập trung được thành lập theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, trong thiết kế cũng như
trong q trình triển khai xây dựng có chú ý đến việc xử lý nước thải công nghiệp, và đã có các cơ sở hạ tầng xử lý.
Sự phát triển các KCN tập trung trong giai đoạn vừa qua rộng khắp trên phạm vi tồn quốc, song nhìn chung tập trung chủ yếu ở khu vực ba vùng kinh tế trọng điểm.
Sự phân bố tập trung này là khách quan, bởi lẽ các vùng kinh tế trọng điểm là nơi thuận lợi cho sự phát triển cơng nghiệp nói chung và các KCN nói riêng.
Tới đây, việc phát triển, xây dựng, củng cố các KCN, KCX, KCNC nhằm hướng tới mục tiêu đưa Việt Nam vào nhóm các nước đi đầu của ASEAN hiện nay, có
mức thu nhập GDP bình quân đầu người khoảng 2.000 USD - 2.400 USD vào năm 2020. Như vậy, phát triển các KCN, KCX, KCNC cũng nhằm thực hiện được mục tiêu của
công nghiệp hố, hiện đại hố đất nước; góp phần tăng trưởng kinh tế tăng GDP của địa phương có KCN; phát triển xã hội xố đói giảm nghèo, phấn đấu cho công bằng xã
hội; đảm bảo hội nhập kinh tế quốc tế doanh nghiệp và sản phẩm có khả năng cạnh tranh trên thị trường khu vực và quốc tế. Cần ưu tiên phát triển các KCN, các ngành
công nghiệp tạo được giá trị gia tăng lớn, tránh được tình trạng đầu tư theo phong trào mà khơng tính đến hiệu quả kinh tế.
Vì vậy khi chọn ngành cơng nghiệp theo hướng hiện đại trong KCN cần chú ý tới những điểm sau:
- Một là, lựa chọn ngành công nghiệp ưu tiên phát triển nhanh hơn, với mức đầu tư tập trung hơn, tạo tiền đề thúc đẩy các ngành công nghiệp khác.
Đặc điểm đáng lưu ý khi Việt Nam bước vào cơng nghiệp hố, hiện đại hố là: mức thu nhập thấp GDP cho đến nay mới chỉ đạt mức trung bình của nhóm 4 nước đi
đầu trong ASEAN; vị trí của Việt Nam trong chuỗi phân cơng lao động khu vực còn đang ở mức lao động giản đơn; sức cạnh tranh của một số ngành cơng nghiệp còn yếu;
lợi thế so sánh có những thay đổi bất lợi hơn trước. Vì vậy, những ngành cơng nghiệp mũi nhọn được chọn sẽ phải đáp ứng nhu cầu của thị trường thế giới đang gia tăng, đồng
thời có lợi thế so sánh động, có thể làm chuyển dịch cơ cấu sản xuất và xuất khẩu của ngành công nghiệp nước ta trong tương lai gần.
- Hai là: việc lựa chọn ngành ưu tiên phải chú ý tới ưu thế vượt trội của Việt Nam so với các nước và khả năng thu hút đầu tư vào ngành đó, đồng thời cũng cần cân nhắc
ưu tiên những vùng có vị trí thuận lợi về hạ tầng, điều kiện dịch vụ,... để nâng cao sức
cạnh tranh trong hội nhập kinh tế. Hiện nay, Việt Nam có lợi thế so sánh nhất định ở những ngành có hàm lượng lao động cao, chủ yếu là lao động giản đơn công nghiệp dệt
- may, da - giầy, đồ gỗ,... và những ngành vừa có hàm lượng lao động cao, vừa sử dụng nhiều nguyên liệu từ nông nghiệp công nghiệp chế biến,.... Trong suốt ba thập kỷ qua,
các nước Đông Á đã theo đuổi chiến lược phát triển các ngành có hệ số vốn đầu tư thấp, sử dụng nhiều lao động nên đã có được tỷ lệ tăng trưởng kinh tế rất cao giữ được hệ số
ICOR thấp, đồng thời giải quyết được lượng lớn lao động, góp phần ổn định xã hội. Trong gian đoạn đầu của cơng nghiệp hố, Việt Nam cần phải tham gia những
ngành sử dụng nhiều lao động như dệt, may, da giầy,..., đồng thời với những ngành cơng nghiệp có hàm lượng cơng nghệ cao đòi hỏi lao động có kỹ năng cao, kỹ thuật lành
nghề như công nghệ tin học - viễn thông, thiết bị điều khiển, đồ điện gia dụng, xe máy,.... Để thực hiện phương châm “đi tắt, đón đầu”, Việt Nam cần chủ động lựa chọn
đón trước phát triển những ngành cơng nghiệp của các nước tiên tiến chứ không thụ động ngồi chờ chuyển giao các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động mà các nước
NIEs, NICs đã trải qua, theo kiểu lan tỏa, phát triển theo mơ hình đàn sếu bay. Ví dụ, ngành cơng nghiệp đóng tầu theo mơ hình đàn sếu bay thì lan tỏa từ Nhật Bản sang 4
nước NIEs Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Singapore, rồi tới Trung Quốc và sau đó đến Việt Nam là một chu trình dài ít nhất 30 năm. Đây là mơ hình phát triển theo kiểu
“đuổi bắt” nhiều tầng trong q trình cơng nghiệp hố vào thập kỷ 60 -70 ở Đơng Á. Vì những lẽ đó, ngành kinh tế mũi nhọn cần chú ý lựa chọn sẽ là những ngành có
thế mạnh, đảm bảo tăng trưởng xuất khẩu; có khả năng đa dạng hố nguồn vốn đầu tư, theo yêu cầu phát triển của thị trường, hạn chế tác động bằng kế hoạch; có khả năng giúp
ổn định xã hội cao, nhất là ổn định nông thôn; đảm bảo phát triển kinh tế bền vững, đảm bảo yêu cầu bảo vệ môi trường phù hợp khả năng nền kinh tế; có khả năng đầu tư ra
nước ngồi, hỗ trợ phát triển trong nước dịch vụ, khai thác tài nguyên,…. Kinh tế thế giới đang phát triển, thúc đẩy các tập đoàn tư bản xuyên quốc gia mở
rộng đầu tư ra những khu vực ổn định về chính trị, có nguồn lao động rẻ, giá th đất khơng cao, do đó xây dựng KCN, KCX trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế phải tuân
thủ quy hoạch tổng thể ngành, vùng lãnh thổ để phát huy đồng đều mọi tiềm năng đất
nước, tiết kiệm đất để đảm bảo tốt an ninh lương thực, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Văn kiện đại hội IX chỉ rõ “ Quy hoạch phân bố hợp lý KCN trên cả nước. Phát
triển có hiệu quả các KCN, KCX, xây dựng KCNC, hình thành các cụm cơng nghiệp lớn và khu kinh tế mở”.
Thế kỷ XXI là thế kỷ của khoa học cơng nghệ. Quốc gia nào có khả năng sở hữu lớn về vốn và cơng nghệ quốc gia đó sẽ có những bước tiến nhảy vọt trong phát triển về
kinh tế. Thông qua các KCN, KCNC, KCX chúng ta mới có khả năng đón nhận các nguồn vốn lớn cùng cơng nghệ tiến bộ trong giai đoạn tồn cầu hố kinh tế và hội nhập
quốc tế. Cơng nghệ và tri thức có vai trò càng nổi bật trong q trình phát triển lực lượng sản xuất, là một xu thế khách quan lôi cuốn nhiều nước tham gia. KCN, KCX như các tế
bào sản xuất của ngành công nghiệp của mỗi quốc gia, phải được nhân rộng và phát triển để trở thành các trung tâm công nghiệp vùng, lãnh thổ. Quan tâm tới công tác quy hoạch,
xây dựng phát triển KCX, công nghệ cao là nhằm mục tiêu phục vụ cơng nghiệp hố, hiện đại hố đất nước.

4. Tình hình đầu tư và thực hiện đầu tư ở khu công nghiệp - khu


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Đóng góp của các KCN vào phát triển kinh tế - xã hội

Tải bản đầy đủ ngay(80 tr)

×