1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Quản trị kinh doanh >
Tải bản đầy đủ - 80 (trang)
Tình hình đầu tư và thực hiện đầu tư ở khu cơng nghiệp - khu

Tình hình đầu tư và thực hiện đầu tư ở khu cơng nghiệp - khu

Tải bản đầy đủ - 80trang

nước, tiết kiệm đất để đảm bảo tốt an ninh lương thực, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Văn kiện đại hội IX chỉ rõ “ Quy hoạch phân bố hợp lý KCN trên cả nước. Phát
triển có hiệu quả các KCN, KCX, xây dựng KCNC, hình thành các cụm công nghiệp lớn và khu kinh tế mở”.
Thế kỷ XXI là thế kỷ của khoa học công nghệ. Quốc gia nào có khả năng sở hữu lớn về vốn và cơng nghệ quốc gia đó sẽ có những bước tiến nhảy vọt trong phát triển về
kinh tế. Thông qua các KCN, KCNC, KCX chúng ta mới có khả năng đón nhận các nguồn vốn lớn cùng cơng nghệ tiến bộ trong giai đoạn tồn cầu hố kinh tế và hội nhập
quốc tế. Cơng nghệ và tri thức có vai trò càng nổi bật trong q trình phát triển lực lượng sản xuất, là một xu thế khách quan lôi cuốn nhiều nước tham gia. KCN, KCX như các tế
bào sản xuất của ngành công nghiệp của mỗi quốc gia, phải được nhân rộng và phát triển để trở thành các trung tâm công nghiệp vùng, lãnh thổ. Quan tâm tới công tác quy hoạch,
xây dựng phát triển KCX, công nghệ cao là nhằm mục tiêu phục vụ công nghiệp hố, hiện đại hố đất nước.

4. Tình hình đầu tư và thực hiện đầu tư ở khu công nghiệp - khu


chế xuất ở Việt Nam đến hết năm 2006:
Cùng với những chuyển biến mới của nền kinh tế trong q trình đẩy mạnh cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, hoạt động của các KCN
cả nước trong năm 2006- năm mở đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội X của Đảng và kế hoạch 5 năm 2006-2010 - đã đạt được những thành tựu nổi bật về nhiều mặt.
Tổng diện tích đất quy hoạch tăng thêm trong năm là 2607 ha, từ 9 KCN mới được thành lập và 3 KCN được phép mở rộng. Đến hết năm 2006, cả nước có 139 KCN
với tổng diện tích quy hoạch là 29.392 ha, trong đó diện tích đất cơng nghiệp có khả năng cho thuê đạt 19.743 ha. So với cuối năm 2005, quỹ đất tự nhiên gồm cả đất đã
được phân định cho sản xuất cơng nghiệp của tồn bộ các KCN được thành lập đến thời điểm này tăng 11.
Ngoài ra, đến nay có 8 khu kinh tế KKT đã được hình thành theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, tổng diện tích đất tự nhiên là 323.940 ha. Đó là các KKT mở
Chu Lai, KKT Dung Quất, Nhơn Hội, Nghi Sơn, Vũng áng, Vân Phong, Phú Quốc và
Chân Mây-Lăng Cơ. Từ đó, đã và đang mở ra tiềm lực về quỹ đất dồi dào để phát triển kinh tế, phát triển công nghiệp trên nhiều vùng khác nhau.
Tiến độ xây dựng cơ sở hạ tầng các KCN được đẩy nhanh hơn, số các KCN được xây dựng xong và đưa vào vận hành trong năm là 15 KCN. Trong tổng số 139 KCN đã
được thành lập đã có 90 KCN cơ bản hoàn thành xây dựng cơ sở hạ tầng và thực tế đã vận hành, với tổng diện tích cơng nghiệp 13.683 ha, tăng 19 so với năm 2005 năm
2005 có 75 KCN đi vào hoạt động với 11.480 ha đất cơng nghiệp đã hồn tất xây dựng cơ sở hạ tầng. Tỷ lệ KCN đã vận hành, hoạt động trong năm chiếm 65 tổng các KCN
hiện có. Trong đó, có 1719 dự án xây dựng hạ tầng có vốn ĐTNN và 73120 xây dựng hạ tầng của DN trong nước.
Tổng vốn đầu tư thực hiện của các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng các KCN, tính đến cuối năm 2006 đạt khoảng 585 triệu USD và 13,596 tỷ đồng. So với tổng vốn dự
toán, vốn thực hiện FDI đạt 60,3 với trình độ xây dựng các cơng trình hạ tầng đạt chất lượng khá cao. Tổng vốn đầu tư thực hiện xây dựng hạ tầng của các dự án trong nước
đạt 36,5. Năng lực thu hút đầu tư dự án nước ngoài FDI tăng vượt trội so với năm 2005
Năm 2006, các KCN đã thu hút 356 dự án FDI với tổng vốn đầu tư đăng ký mới là 4336 triệu USD tăng 2,4 lần so với năm trước; đồng thời có 337 lượt dự án mở rộng
sản xuất, tăng vốn với tổng số vốn đầu tư đăng ký tăng thêm 1.347 triệu USD, tăng 30,5 so với năm 2005. Tính chung cả vốn đăng ký mới và vốn bổ sung vào các KCN
trong năm 2006 đầu tư đạt 5682 triệu USD tăng gần 2 lần so với năm 2005 chiếm 56 tổng vốn FDI đăng ký mới và bổ sung trong năm của cả nước.
Tổng hợp đến cuối năm 2006, các KCN đã thu hút được 2433 dự án FDI với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 21,79 tỷ USD.
Các dự án ĐTNN có quy mơ lớn hơn năm trước Quy mơ vốn đầu tư bình quân mỗi dự án ĐTNN đăng ký mới vào KCN trong
năm là 12,18 triệu USDdự án, gấp hơn 2 lần năm 2005. Bình quân mỗi lượt dự án mở rộng sản xuất có mức vốn đầu tư bổ sung là 4 triệu USDdự án, tăng 39 so với năm
trước. Có mức tăng trưởng cao như vậy là do trong năm có nhiều dự án ĐTNN có quy
mô vốn lớn đầu tư vào KCN, KKT ở các vùng kinh tế trọng điểm. Nhờ đó, một số địa phương có KCN tiếp nhận được những dự án này đã trở thành đơn vị có năng lực thu hút
đầu tư thuộc diện dẫn đầu cả nước. Những dự án có quy mơ vốn lớn đầu tư vào KCN trong năm 2006 như dự án nhà máy sản xuất thép Hàn Quốc có tổng vốn đầu tư đăng
ký trên 1,2 tỷ USD tại KCN Phú Mỹ II; dự án sản xuất thiết bị viễn thông của Công ty Panasonic KCN Thăng Long có tổng vốn 76 triệu USD; dự án sản xuất máy fax, thiết
bị điện tử của Công ty TNHH Brother Industries KCN Phúc Điền Hải Dương với tổng vốn đầu tư 40 triệu USD.
Đặc biệt, một số dự án đăng ký mở rộng sản xuất, tăng vốn bổ sung cũng với số vốn lớn như: Công ty TNHH Cơng nghiệp Gốm Bạch Mã Bình Dương tăng thêm 150
triệu USD; Công ty TNHH Hoya Glass Disk Hà Nội tăng thêm 130 triệu USD; Công ty Giấy Ching Luh Long An tăng 98 triệu USD; nhà máy sản xuất máy in Canon Bắc
Ninh với mức tăng 70 triệu USD; Công ty Formosa Đồng Nai tăng 66,4 triệu USD,... Năng lực thu hút nguồn đầu tư trong nước vào KCN cũng có chuyển biến khá
Trong năm 2006, các KCN, KKT tiếp tục thu hút được hơn 300 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt trên 15.000 tỷ đồng tương đương 940 triệu
USD. So với năm 2005, tuy giảm về số dự án 2005 là 350 dự án nhưng tổng vốn đầu tư trong nước của năm 2006 lại tăng 50 với khoảng 5000 tỷ đồng, do cũng có nhiều dự
án đầu tư trong năm có lượng vốn đăng ký lớn hơn. Tổng hợp đến cuối năm 2006, tổng số dự án trong nước còn hiệu lực là 2623 dự án, với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt khoảng
135.690 tỷ đồng tương đương khoảng 9 tỷ USD. Tỷ lệ so sánh giữa hai nguồn vốn này là 0,41 thể hiện nguồn vốn đầu tư trong nước đã có vai trò quan trọng nhất định trong
phát triển các KCN những năm qua. Tổng diện tích đất công nghiệp thực tế cho thuê lại trong năm đạt 1766 ha, tăng
18 so với năm 2005, đáp ứng được nhu cầu về mặt bằng cho nhà đầu tư trong năm. Tính chung cả nước đến cuối năm 2006, các KCN đã cho thuê khoảng 10.758 ha đất
công nghiệp, đạt tỷ lệ diện tích đất cho thuê 54,5 trong tổng diện tích cơng nghiệp có thể cho th của các KCN đã thành lập gồm cả diện tích của những KCN mới thành lập
chưa khởi công xây dựng. Nếu tính riêng diện tích cơng nghiệp của những KCN đã vận
hành cơ sở hạ tầng đủ điều kiện tiếp nhận, thực hiện dự án thì diện tích đất cơng nghiệp thực tế cho thuê đạt 72,2, thể hiện tốc độ thu hút đầu tư tăng nhanh, tiến độ xây
dựng cơ sở hạ tầng có khả năng được đẩy nhanh hơn và sớm thực hiện nhiều dự án đầu tư.
Gia tăng tốc độ triển khai thực hiện các dự án đầu tư trong và ngồi nước. Tính đến cuối năm 2006, tổng số các dự án đầu tư trong và ngoài nước còn hiệu
lực đã tăng 12 so với cuối năm 2005, trong đó dự án đã và đang triển khai thực hiện đầu tư là 4300 dự án, tăng 30 so với năm 2005 và chiếm 85 tổng số các dự án còn
hiệu lực năm 2005, tỷ lệ này đạt 73. Trong tổng số dự án đang thực hiện phân theo nguồn vốn đầu tư có tình hình như
sau: Dự án có vốn ĐTNN còn hiệu lực trong năm là 2433 dự án, trong đó những dự án
đã đi vào sản xuất kinh doanh trong KCN là 1700 dự án và 380 dự án đang xây dựng nhà xưởng. Tổng vốn đầu tư thực hiện đến cuối năm 2006 đạt 11,37 tỷ USD, chiếm 52
tổng vốn đăng ký. Trong 2633 dự án đầu tư trong nước còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 135.690
tỷ đồng, hiện đã có 1720 dự án đã đi vào sản xuất kinh doanh và gần 500 dự án đang xây dựng nhà xưởng. Tổng vốn đầu tư thực hiện của những dự án này đạt 78.000 tỷ đồng
chiếm khoảng 58 tổng vốn đăng ký. Kết quả sản xuất kinh doanh của các DN trong các KCN đạt mức tăng trưởng
khá cao và toàn diện. Trong năm 2006, giá trị sản xuất công nghiệp của DN trong các KCN cả nước không kể doanh thu dịch vụ đạt 16,8 tỷ USD, tăng 19 và chiếm
khoảng 30 tổng giá trị sản xuất công nghiệp cả nước. Trong đó, giá trị xuất khẩu hàng hóa của DN KCN đạt khoảng 8,3 tỷ USD, tăng
hơn 22 so với năm 2005 và chiếm 28 tổng kim ngạch xuất khẩu hàng công nghiệp xuất khẩu của cả nước.
Trong năm, các DN KCN đã nộp ngân sách Nhà nước khoảng 880 triệu USD, tăng 35,4 so với năm 2005.
Số lao động trực tiếp làm việc tại KCN cuối năm 2005 là 80 vạn người, đến cuối năm 2006 là 91,8 vạn người. Như vậy, cả năm tăng thêm 11,8 vạn người, tăng 15 so
với cuối năm 2005.
Chương II: Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngồi vào khu cơng nghiệp - khu chế xuất tại vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ

I. Khái quát tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào KCN, KCX cả


nước

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tình hình đầu tư và thực hiện đầu tư ở khu cơng nghiệp - khu

Tải bản đầy đủ ngay(80 tr)

×