Tải bản đầy đủ - 80 (trang)
Khái qt tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngồi vào KCN, KCX cả

Khái qt tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngồi vào KCN, KCX cả

Tải bản đầy đủ - 80trang

Số lao động trực tiếp làm việc tại KCN cuối năm 2005 là 80 vạn người, đến cuối năm 2006 là 91,8 vạn người. Như vậy, cả năm tăng thêm 11,8 vạn người, tăng 15 so
với cuối năm 2005.
Chương II: Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào khu công nghiệp - khu chế xuất tại vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ

I. Khái quát tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào KCN, KCX cả


nước
1. Tổng quan tình hình thu hút vốn đầu tư vào KCN, KCX ở Việt Nam tính theo vốn đầu tư đăng ký:
Sau 16 năm xây dựng và phát triển, các KCN, KCX ở vùng KTTĐ Bắc Bộ đã có đóng góp quan trọng vào việc thu hút vốn đầu tư. Tổng số vốn đầu tư thực hiện thu hút
được đến hết năm 2006 là : Bảng 2.1: Tình hình thu hút đầu tư vào KCN, KCX cả nước
Chỉ tiêu Tổng
vốn Vốn đầu tư
xây dựng Số dự án
Số vốn Số dự án
dự án Tỷ trọng
Số vốn triệu
USD Tỷ trọng
Đầu tư trong nước
5.335 850
2.625 51.9
4.485 28.3
Đầu tư nước ngoài
11.954 585
2.433 48.1
11.369 71.7
Tổng vốn 17.289
1.435 5.058
100 15.854
100 Nguồn: tổng hợp từ Vụ Quản lí KCN-KCX, Bộ Kế hoạch Đầu tư
Các KCN, KCX tại Việt Nam đang trong giai đoạn xây dựng và phát triển ban đầu nên lượng vốn xây dựng cơ sở hạ tầng đóng vai trò quyết định và chiếm tỷ trọng
lớn, dần dần lượng vốn này có xu hướng giảm tương đối so với lượng vốn đầu tư vào sản xuất kinh doanh tăng mạnh tại các KCN đã hồn thành xây dựng cơ bản. Tính đến
năm 2006, cả nước có 90 KCN đã cơ bản xây dựng xong cơ sở hạ tầng và 49 khu đang thực hiện xây dựng cơ bản theo hình thức cuốn chiếu, cho thuê để sản xuất kinh doanh
những phần đã hoàn thành xây dựng cơ bản. Về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng: Vốn trong nước chiếm 60, giai đoạn đầu chủ
yếu là nguồn vốn ngân sách, hiện nay đã áp dụng chính sách giao đất cho doanh nghiệp thầu xây dựng cơ sở hạ tầng nên tỉ trọng đầu tư của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
bắt đầu tăng, tuy còn nhiều bất cập về giá trị gia tăng sau khi xây dựng cơ sỏ hạ tầng và hiệu quả xây dựng. Vốn nước ngoài chiếm 40 tổng vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng
và chiếm và có xu hướng tăng lên trong thời gian tới, giữ vai trò quan trọng trong việc hiện đại hoá cơ sở hạ tầng các KCN, KCX theo quy chuẩn quốc tế, tăng sức hấp dẫn của
KCN, KCX đối với các nhà đầu tư.
Về đầu tư vào sản xuất kinh doanh: 
Đầu tư trong nước: Quy mô vốn trung bình là 1,709 triệu USDdự án, chiếm tỷ trọng vốn 28,3 tổng vốn đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại các KCN, KCX
trên cả nước. Các doanh nghiệp trong nước đầu tư vào KCN, KCX thuộc mọi thành phần kinh tế, đa số là các doanh nghiệp thành lập từ trước, do nhu cầu mở rộng sản xuất lập
thêm di dời từ ngoài KCN vào trong KCN, hoặc thành lập thêm cơ sở sản xuất trong KCN. Tuy chỉ giữ vai trò khiêm tốn nhưng đây là nguồn vốn có tính chất quyết định, là
nhân tố nội lực. Những năm đầu xây dựng KCN, do chưa nhận thức được tầm quan trọng của KCN trong việc huy động nguồn vốn bên trong, chúng ta đã xem nhẹ việc thu
hút các doanh nghiệp trong nước đầu tư vào KCN. Điều này thể hiện ở số dự án và tổng vốn đầu tư của thành phần kinh tế trong nước vào KCN thời gian này còn rất hạn chế.
Chỉ vài năm gần đây, vai trò của khu vực trong nước mới được chú trọng, dòng vốn đầu tư trong nước trong KCN tăng đáng kể, số dự án trong nước trong các KCN hai năm gần
đây đã vượt so với khu vực có vốn đầu tư nước ngồi. Kết quả là đã có hơn 2.600 với tổng vốn đầu tư đăng ký là 135.700 tỷ đồng. Điều đã cho thấy rõ tiềm lực của khu vực
kinh tế trong nước, tiềm lực này cần được kích thích tăng trưởng mạnh mẽ để nâng cao khả năng sản xuất và tỷ trọng đóng góp vào GDP của các thành phần kinh tế trong nước.
Hiện nay, KCN đã trở nên hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư trong nước, ngoài những doanh nghiệp di chuyển từ các đơ thị vào thì các doanh nghiệp được thành lập mới tại
KCN ngày càng chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số dự án đầu tư vào các KCN, KCX. 
Đầu tư nước ngồi: Quy mơ vốn trung bình là 4,67 triệu USD dự án, chiếm 71,7 tỷ trọng về vốn so với tổng đầu tư vào sản xuất kinh doanh, chiếm 95
tổng vốn đầu tư nước ngồi vào các KCN, KCX. Có thể nói, KCN là nơi chính sách ưu đãi đối với khu vực đầu tư nước ngoài được thể hiện rõ nhất, các nhà đầu tư nước ngồi
có xu hướng đầu tư vào KCN, bởi KCN có một hệ thống kết cấu hạ tầng hiện đại và sẵn có, một mơi trường pháp lý thuận lợi và thống nhất, có cơ chế “một cửa, tại chỗ” được
thực thi. Vì vậy, vốn đầu tư nước ngoài trong KCN chiếm tỷ trọng lớn và giữ vai trò chủ đạo đối với KCN và tổng vốn ĐTTTNN trong cả nước.
2. Tình hình đầu tư nước ngồi:
Sau đây là phân tích chi tiết về tình hình tăng giảm vốn đầu tư nước ngoài vào KCN, KCX qua các năm trong giai đoạn 1991-2006:
Bảng 2.2:Tình hình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào KCN, KCX cả nước so sánh theo trung bình năm giai đoạn 1991-2006tính theo vốn đăng ký của các dự án được cấp
giấy phép đầu tư Chỉ tiêu
Đơn vị TB giai đoạn
1991-1995 TB giai đoạn
1996-2000 TB giai đoạn
2001-2005 2006
Tổng vốn ĐTNN vào KCN,KCX
triệu USD
844 808,4
2.011,2 5.682
Vốn ĐTNN vào xây dựng CSHT
tăng giảm liên hoàn
Tỷ trọng ĐT CSHT trên tổng vốn ĐTNN
vào KCN,KCX tr.USD
74 -
8,8 91,2
23,2 11,3
43 -59,2
2,1 56,2
30,7 1
Vốn ĐTTTNN vào sản xuất kinh doanh
tăng giảm liên hoàn
Tỷ trọng ĐT SXKD trên tổng vốn ĐTNN
vào KCN,KCX tr.USD
770 -
91,2 717,2
-6,9 88,7
1968,2 174,4
97,7 5.625,8
185,8 99
Nguồn: tổng hợp từ Vụ Quản lý KCN-KCX, Bộ Kế hoạch và Đầu tư Trong 5 năm đầu 1991-1995, tổng số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào KCN,
KCX là 4.220 triệu USD, trung bình 844 triệu USDnăm, số vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng là 370 triệu USD chiếm 8,8, còn lại 91,2 là vốn đầu tư vào sản xuất kinh doanh.
Giai đoạn 1996-2000, do tác động của khủng hoảng kinh tế khu vực châu Á đặc biệt là khu vực ASEAN, số vốn ĐTTTNN vào KCN, KCX giảm 4,2 so với giai đoạn trước
xuống 4.042 triệu USD trung bình năm 808,4 triệu USD trong đó đầu tư vào sản xuất kinh doanh giảm 6,9 3.586 triệu USD, nhưng do nhu cầu thành lập và xây dựng
KCN, vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng vẫn tăng 23 lên 456 triệu USD, chiếm 11,3 tổng vốn đầu tư nước ngoài của cả giai đoạn.
Giai đoạn 2001-2005 đánh dấu sự phục hồi của nền kinh tế khu vực và thế giới sau khủng hoảng kinh tế ở châu Á, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào KCN, KCX tăng
vượt bậc với tổng vốn thu hút được lên tới 10.056 triệu USD tăng 149, Tổng số vốn vào sản xuất kinh doanh đạt 9.841 triệu USD, chiếm tỷ lệ 97,9 tổng số vốn và tăng
174,4 so với thời kỳ 1996-2000, trung bình năm thu hút 2.011 triệu USD. Tuy nhiên lượng vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng giảm xuống thấp nhất chỉ còn 215 triệu USD, do các
KCN cũ đã hoàn thành và đi vào hoạt động, các KCN chưa được thành lập hoặc gặp khó khăn trong đền bù giải phóng mặt bằng.
Riêng năm 2006, nhờ tích cực cải cách mơi trường đầu tư, tăng cường các hoạt động đối ngoại, chú trọng quảng bá các cơ hội đầu tư ở Việt Nam, đặc biệt là việc gia
nhập WTO, lượng vốn đầu tư vào KCN, KCX tăng đột biến, đạt 5682 triệu USD chiếm 56 tổng vốn FDI của cả nước, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng lượng vốn FDI kỷ lục
10,2 tỷ USD vào Việt Nam trong năm.
II. Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngồi vào khu cơng nghiệp - khu chế xuất tại vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ.
1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ có ảnh hưởng đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngồi nói chung và đầu tư nước
ngồi vào khu cơng nghiệp - khu chế xuất nói riêng
Theo Quyết định số 145QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về “Phương hướng phát triển kinh tế-xã hội vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ đến năm 2010 và tầm nhìn đến
năm 2020”, vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ gồm 8 tỉnh: tp Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Tây, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh. Trước năm 2003, vùng
KTTĐ Bắc Bộ chỉ gồm 5 tỉnh là Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hưng Yên, Hải Dương. Sau Hội nghị các tỉnh vùng KTTĐ Bắc Bộ ngày 14 – 1572003, Thủ tướng
Chính phủ ra quyết định mở rộng ranh giới vùng KTTĐ Bắc Bộ, bổ sung thêm 3 tỉnh Hà Tây, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc. Tổng diện tích vùng KTTĐ Bắc Bộ sau khi bổ sung là
15.286,7 km2, bằng 3,8 diện tích cả nước và dân số ước tính đến năm 2006 là 13,8 triệu người, chiếm 16,4 dân số cả nước. Đây là trung tâm kinh tế năng động và là một
đầu tàu kinh tế quan trọng của miền Bắc và của cả nước Việt Nam.

1.1. Thuận lợi


Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ KTTĐ Bắc Bộ có vị trí địa lý, chính trị, kinh tế, quốc phòng độc đáo, tạo ra lợi thế so sánh mang ý nghĩa quốc gia và khu vực. Vùng
KTTĐ Bắc Bộ nằm giữa hai bộ phận lãnh thổ Đồng bằng sông Hồng và sườn núi Đông Bắc với 3 đỉnh là thành phố Hà Nội, Hải Phòng và Hạ Long. Vùng có Hà Nội - thủ đơ
của cả nước - là đầu não chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học - kĩ thuật của nước ta, là trung tâm lớn về văn hoá, khoa học, giáo dục, kinh tế vào giao dịch quốc tế; có các cửa
ra biển lớn dọc ven biển Bắc Bộ phục vụ cho cả vùng Bắc bộ, có các tuyến đường bộ thông thương lên vùng Tây Nam Trung Quốc ở phía Bắc quốc lộ 1 , sang Bắc Lào, Bắc
Thái Lan ở phía Đơng, quốc lộ 5 nối liền tam giác Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh là trục đường xương sống cho toàn Bắc Bộ. Với sân bay quốc tế Nội Bài, sân bay Cát Bi
cùng với cụm cảng Hải Phòng - Cái Lân là cửa mở vào - ra của toàn vùng Bắc Bộ và hệ thống đường quốc lộ, đường sắt, đường sông sông Hồng và các nhánh toả đi các vùng
khác trong cả nước và đi quốc tế, vùng KTTĐ Bắc Bộ là đầu mối giao thương bằng cả đường biển, đường sắt và đường hàng không lớn thứ hai cả nước. Vùng KTTĐ Bắc Bộ
có mặt tiền hướng ra biển Đơng, thuận lợi trong việc thông thương với ASEAN, là một trong những khu vực phát triển năng động nhất thế giới, nhờ đó các mối quan hệ giao
lưu hợp tác quốc tế về kinh tế, văn hoá của vùng đã được mở rộng nhanh chóng. Vùng đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của cả
nước; là vùng có đủ điều kiện và lợi thế để phát triển mạnh về công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp nặng, các ngành công nghiệp công nghệ cao, có ưu thế để hình thành các
trung tâm nghiên cứu và phát triển công nghệ lớn trên cả nước nhờ nguồn nhân lực đã qua đào tạo bài bản; dân số đơng và điều kiện tự nhiên lí tưởng thuận lợi cho phát triển
dịch vụ và du lịch. Với số dân đông, mật độ dân số lớn nhất cả nước, vùng có ưu thế nổi trội về
nguồn lao động dồi dào, đặc biệt là nguồn lao động kĩ thuật, lao động có chun mơn cao, cán bộ đầu ngành của hầu hết mọi lĩnh vực, có hệ thống đào tạo và nghiên cứu
khoa học, trung tâm y tế trình độ ca, giữ vai trò quyết định trong việc đào tạo và chăm sóc sức khoẻ cho cả vùng và cả nước. Vùng có số lao động trình độ cao đẳng, đại học và
trên đại học cao nhất so với các vùng khác, chiếm tới 32 cả nước 2005. Vùng cũng là nơi tập trung các cơ sở nghiên cứu, các trường đại học, cao đẳng đầu ngành có các trang
thiết bị hiện đại. Trong tương lai ưu thế này vẫn tiếp tục được củng cố và phát triển, là thế mạnh nổi trội, một tiềm năng lớn cần phát huy tối đa để thúc đẩy phát triển vùng và
tác động tích cực tới các vùng lân cận. Vùng KTTĐ Bắc Bộ là nơi phát triển công nghiệp sớm nhất cả nước, hiện nay đã
và tiếp tục hình thành hệ thống đô thị phát triển hơn hẳn so với các vùng khác, tạo cục diện mới cho tổ chức không gian lãnh thổ, cho tăng trưởng và giao lưu giữa các vùng
trong nước và quốc tế. Hai thành phố thuộc vùng là Hà Nội và Hải Phòng đều là các thành phố lớn và có vai trò quan trọng trong hệ thống quốc gia, cùng với hai thành phố
thuộc tỉnh trong tổng số 21 thành phố trên cả nước, 7 thị xã trong tổng số 61, 77 thị trấn trong tổng số 565. Tỷ lệ đơ thị hố của vùng đạt khoảng 27, 45 lớn hơn trung
bình cả nước là 24,8. Vùng là khởi nguồn của văn minh đô thị của cả nước. Nhờ đô thị phát triển mạnh tạo nên sự thịnh vượng chung cho cả vùng, tạo sức hút mạnh đối với
các nhà đầu tư nước ngoài đến vùng và các vùng lân cận. Đây cũng là trung tâm công nghiệp từ rất sớm và hiện đã hình thành hệ thống các
KCN lớn và các cụm công nghiệp nhỏ trên cả 8 tỉnh thành, thu hút lực lượng lao động đơng đảo và có trình độ kĩ thuật cao hơn nhiều vùng khác. Năm 2005, vùng KTTĐ Bắc
Bộ có 17 vạn doanh nghiệp cơng nghiệp,chiếm 26 số doanh nghiệp công nghiệp cả nước, riêng số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi chỉ chiếm khoảng 15,8 cả nước
tạo ra 13,8 giá trị công nghiệp và xây dựng cả nước. Tuy khơng phong phú về khống sản, vùng có một số khống sản quan trọng như
than đá, trữ lượng chiếm 98, than nâu, đá vôi làm xi măng trữ lượng hơn 20, cao lanh làm sứ trữ lượng khoảng 40 so với cả nước… Khai thác có hiệu quả các khống
sản này sẽ tạo nguồn ngun nhiên vật liệu cho các ngành công nghiệp chế biến và công nghiệp nặng, tạo điều kiện phát triển công nghiệp và dịch vụ của vùng.
Vùng KTTĐ Bắc Bộ còn có tiềm năng lớn về du lịch với các địa điểm du lịch nổi tiếng trong nước và quốc tế như vịnh Hạ Long được UNESCO công nhận là di sản thiên
nhiên của thế giới. Nhờ lịch sử hơn một nghìn năm phát triển, vùng còn lưu giữ nhiều danh thắng và di tích lịch sử, văn hố, làng nghề truyền trống. Ngồi ra vùng có rất
nhiều bãi biển và khu du lịch thiên nhiên, có tiềm năng lớn để phát triển thành địa điểm du lịch văn hoá và sinh thái hấp dẫn trong và ngoài nước.
Vùng KTTĐ Bắc Bộ là cái nôi của nền văn minh lúa nước, có ưu thế về điều kiện khí hậu đặc thù có mùa đơng lạnh để phát triển các vùng rau, hoa quả, chăn ni diện
tích đất nơng nghiệp của vùng hiện có khoảng 585 nghìn ha, nhất là các vùng xung quanh các đô thị, các thành phố lớn, các khu công nghiệp tạo ra giá trị gia tăng lớn trên
một đơn vị diện tích. Vùng KTTĐ Bắc Bộ có dải đất chuyển tiếp giữa miền núi trung du Bắc Bộ với
đồng bằng sông Hồng thuận tiện cho phân bố các khu công nghiệp, các đô thị mà không ảnh hưởng nhiều đến quỹ đất nơng nghiệp
1.2. Khó khăn:
Hệ thống kết cấu hạ tầng tuy có được phát triển hơn một số vùng khác nhưng vẫn ở mức yếu kém:
Hệ thống giao thơng còn bất cập so với u cầu cảng Hải Phòng chỉ tiếp nhận được tầu dưới 7000 tấn; các trục lộ huyết mạch lòng đường còn hẹp, mặt đường xấu,
chịu tải yếu, đường sắt còn tồn tại nhiều khổ đường, trang bị ở những ga đầu mối thiếu và lạc hậu; sân bay Nội Bài chưa đạt tiêu chuẩn quốc tế; hệ thống giao thông nội thị ở
các thành phố lớn còn lạc hậu, gây ách tắc giao thông; mạng lưới điện nhiều nơi cũ nát, hư hỏng thất thốt điện còn lớn tới 25; mạng lưới cấp và đặc biệt thốt nước tại các
đơ thị yếu kém, lạc hậu, bất cập nhiều đô thị thiếu nước, nhất là vào mùa hè, trong khi đó lượng nước thất thốt rất lớn tới khoảng 50; nếu có mưa lớn kéo dài 1, 2 ngày là
nhiều điểm ngập úng; nhiều nơi ở khu vực nơng thơn chưa có hệ thống nước sạch; cơ sở vật chất của các ngành giáo dục, y tế và nhất là văn hoá, thể dục, thể thao còn yếu kém,
xuống cấp nhiều. Hơn nữa chất lượng thi công trong xây dựng cơ bản thấp gây thất thốt lãng phí vốn Ngân sách, kìm hãm sự phát triển của vùng.
Trình độ trang thiết bị kĩ thuật của các cơ sở cơng nghiệp còn kém phát triển, thiếu tác phong sản xuất cơng nghiệp, tình hình quy hoạch còn chưa hợp lý gây chi phí
tốn kém nhưng sản phẩm sản xuất ra kém chất lượng, khó cạnh tranh trên thị trường. Tình trạng gây ơ nhiễm môi trường phổ biến. Bắt đầu từ điểm xuất phát thấp, sự phát
triển của vùng chưa tương xứng với tiềm năng. Vì vậy, tỷ trọng đóng góp vào GDP cả nước còn khiêm tốn so với vùng KTTĐ Nam Bộ.
Do mật độ dân số đông, giá thuê đất ở VKTTĐBB cao nhất trong cả nước, công tác quy hoạch đất cho KCN gặp nhiều khó khăn. Dân số chủ yếu sống bằng nghề nông,
mức tiêu dùng thấp nên cầu thị trường thấp, lấy đất cho KCN dẫn tới việc người nông dân mất đất canh tác, nhưng hiệu quả sử dụng đất không cao tác động xấu tới đời sống
người dân và độ hấp dẫn của môi trường đầu tư. 2. Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào KCN, KCX tại Vùng
KTTĐ Bắc Bộ So với các KCN, KCX ở vùng KTTĐ Nam Bộ, số lượng các KCN, KCX ở vùng
KTTĐ Bắc Bộ ít hơn, các KCN phát triển chậm hơn và có quy mơ nhỏ hơn do nhu cầu tiêu dùng thấp, giá thuê đất cao nên sản xuất kinh doanh hiệu quả thấp, kém hấp dẫn hơn
khu vực phía Nam. Lượng vốn đầu tư trung bình hàng năm vào các KCN, KCX thuộc vùng KTTĐ Bắc Bộ chỉ chiếm khoảng gần 20 tổng lượng vốn đầu tư vào các KCN,
KCX trên cả nước. Tính đến hết tháng 122006, vùng KTTĐ Bắc Bộ hiện có 25 KCN đã thành lập,
chủ yếu là các KCN có quy mơ nhỏ và trung bình, trong đó có 16 KCN đã cơ bản xây xong cơ sở hạ tầng và đang triển khai sản xuất kinh doanh và 9 KCN đang trong thời
gian xây dựng cơ sở hạ tầng. Tổng số vốn đầu tư các KCN, KCX tại vùng là 5.219,5 triệu USD, chiếm tỷ lệ 15,55 tổng số vốn thu hút được vào KCN, KCX cả nước. Trong
đó đầu tư trực tiếp nước ngồi giữ vai trò chủ đạo với 359 dự án chiếm 49,8 tổng số
dự án đầu tư vào KCN, KCX tại vùng và số vốn 3552 triệu USD, chiếm 68 tổng số vốn đầu tư vào các KCN, KCX của vùng.
Biểu đồ 2.1: Tỷ trọng dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào KCN, KCX của vùng
Biểu đồ 2.2: Tỷ trọng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào KCN, KCX của vùng
Nguồn: tổng hợp từ Vụ Quản lý KCN-KCX, Bộ Kế hoạch và Đầu tư So với đầu tư trong nước thì đầu tư trực tiếp nước ngồi có số lượng dự án tương
đương nhưng gấp hơn 2 lần về số vốn. Điều này cho thấy sự vượt trội về lượng vốn và quy mơ vốn bình qn 1 dự án đầu tư nước ngoài so với các lượng vốn và quy mơ bình
qn của các dự án trong nước vốn bình quân mỗi dự án ĐTTTNN là 9,89 triệu USDdự án gần gấp 3 lần vốn bình quân mỗi dự án đầu tư trong nước là 3,57 triệu
USDdự án. Đối với đầu tư trong nước, đến hết năm 2006, các KCN, KCX của vùng đã thu
hút được 362 dự án, chiếm tỷ lệ 50,2 tổng số dự án và số vốn 20652 tỷ đồng khoảng 1290,75 triệu USD chiếm tỷ lệ 32 tổng số vốn đầu tư vào KCN, KCX của vùng.
Trong đó có 3 KCN vẫn chưa có đầu tư trong nước vào sản xuất kinh doanh là KCN Nội Bài Hà Nội, Thăng Long Hà Nội và Nomura Hải Phòng, đặc biệt Nomura là KCN
thu hút lượng vốn đầu tư nước ngoài lớn nhất trong 16 KCN đã xây dựng xong cơ sở hạ tầng 598 triệu USD.
Các doanh nghiệp trong nước đầu tư vào KCN, KCX của Vùng thuộc mọi thành phần kinh tế, nhưng chủ yếu là các doanh nghiệp có sẵn tại các khu đơ thị lớn trước khi
các KCN được thành lập đa phần là doanh nghiệp Nhà nước có xu hướng di dời sản
xuất từ nội thành hay khu vực dân cư vào KCN, ít đơn vị thuê đất để thành lập mới, vì vậy quy mơ vốn đầu tư bình qn của đầu tư trong nước không cao
Do hạn chế về lượng vốn, trình độ cơng nghệ và thị trường tiêu thụ nên các doanh nghiệp trong nước ít có nhu cầu đầu tư vào KCN, KCX, đặc biệt trong điều kiện cơ sở
hạ tầng còn thấp, chi phí vận chuyển cao, giá thuê đất tại các KCN, KCX cao do giá đền bù giải phóng mặt bằng lớn. Vì vậy các dự án đầu tư trong nước thường là các dự án mở
rộng vốn, tuy bằng về số dự án nhưng vẫn thấp hơn về lượng vốn so với các dự án đầu tư nước ngoài chủ yếu là thành lập mới.
Từ khi KCN đầu tiên của Vùng là KCN Nội Bài Hà Nội được thành lập năm 1993, các KCN, KCX tại vùng KTTĐ Bắc Bộ đã trải qua 14 năm xây dựng và phát triển,
thu hút một lượng vốn đáng kể bổ sung vào nguồn vốn phát triển kinh tế-xã hội của vùng và cả nước.
Bảng 2.3. Tình hình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào KCN, KCX vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ so sánh theo trung bình năm giai đoạn 1993-2006 tính theo
vốn đăng ký của các dự án được cấp giấy phép đầu tư
Đơn vị TB giai đoạn
1993-1995 TB giai đoạn
1996-2000 TB giai đoạn
2001-2005 2006
Tổng vốn ĐTNN vào KCN,KCX
triệu USD
140,49 131,91
387,97 1.074,22
Vốn ĐTNN vào xây dựng CSHT
tăng giảm liên hoàn
Tỷ trọng ĐT CSHT tr.USD
50,88 -
36,2 79,46
56,2 60,2
-100 56,18
- 5,7
trên tổng vốn ĐTNN vào KCN,KCX
Vốn ĐTTTNN vào sản xuất kinh doanh
tăng giảm liên hoàn
Tỷ trọng ĐT SXKD trên tổng vốn ĐTNN
vào KCN,KCX tr.USD
89,61 -
63,8 52,45
-41.5 39,8
387,97 256,9
100 991,04
155,4 94,3
Nguồn: tổng hợp từ Vụ Quản lý KCN-KCX, Bộ Kế hoạch và Đầu tư Trong giai đoạn 1993-1995, các KCN tiến hành song song việc đầu tư xây dựng
cơ sở hạ tầng và cho thuê đất kinh doanh. Tổng số vốn đầu tư nước ngoài thu hút vào KCN, KCX của vùng giai đoạn này là 421,47 triệu USD, bao gồm đầu tư vào xây dựng
cơ sở hạ tầng là 152,64 triệu USD, chiếm 36,2 và đầu tư vào sản xuất kinh doanh là 268,83 triệu USD, chiếm 63,8 tổng vốn.
Giai đoạn 5 năm tiếp theo, do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế khu vực, tổng lượng vốn và thay đổi về chính sách đầu tư, tổng lượng vốn ĐTTTNN vào các KCN,
KCX của vùng là 659,55 triệu USD, lượng vốn trung bình hàng năm giảm chỉ bằng 94 so với vốn trung bình năm giai đoạn trước. Trong đó lượng vốn vào sản xuất kinh doanh
giảm 41,5 còn lượng vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng vẫn tiếp tục tăng 56,2 do nhu cầu đầu tư xây dựng hạ tầng cơ sở các KCN mới thành lập. Tuy nhiên, nhiều dự án
đang thực hiện bị ngừng hoặc rút vốn do khơng có khả năng thanh tốn sau cuộc khủng hoảng tài chính.
Trong 5 năm tiếp theo 2001-2005, nền kinh tế thế giới phục hồi sau khủng hoảng, đồng thời chính quyền các cấp đã có những biện pháp tích cực để tăng cường thu
hút đầu tư nên tình hình thu hút vốn ĐTTTNN đã khởi sắc trở lại. Thời kỳ này lượng vốn ĐTTTNN tăng nhanh lên 1163,91 triệu USD, tăng hơn 3 lần so với giai đoạn trước.
Trong đó lượng vốn sản xuất kinh doanh chiếm tỷ lệ 100 tăng 256,9, không có đầu tư vào cơ sở hạ tầng.
Năm 2006 lượng vốn ĐTTTNN tiếp tục tăng mạnh gần gấp 3 lần vốn đầu tư trung bình năm của giai đoạn 2001-2005, vốn đầu tư vào sản xuất kinh doanh là chủ yếu,
chiếm 94,3, đầu tư vào cơ sở hạ tầng tăng do thành lập mới nhiều KCN làm tăng nhu cầu ngành xây dựng cơ bản.
Như vậy, qua các giai đoạn phát triển, tỷ lệ vốn đầu tư vào sản xuất kinh doanh và cơ sở hạ tầng liên tục thay đổi phụ thuộc vào việc thành lập mới các KCN, nhưng có
xu hướng giảm dần tỷ trọng đầu tư vào cơ sở hạ tầng, nâng cao đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Đây là xu hướng tích cực chứng tỏ sự hiệu quả của đầu tư sản xuất kinh doanh tại
KCN, KCX vùng KTTĐ Bắc Bộ. Với điều kiện thuận lợi như hiện nay, trong những năm tới lượng vốn sẽ tiếp tục
tăng mạnh và cơ cấu vốn sẽ dịch chuyển theo hướng tích cực tập trung vào sản xuất kinh doanh. Vì vậy sau đây là nghiên cứu cụ thể thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước
ngoài vào từng lĩnh vực: xây dựng cơ sở hạ tầng và sản xuất kinh doanh để làm rõ tình hình thu hút ĐTTTNN vào KCN, KCX.
2.1. Thực trạng thu hút ĐTTTNN vào xây dựng cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng là một yếu tố quan trọng chi phối đến quyết định bỏ vốn vào KCN, KCX của nhà đầu tư. Vi vậy, muốn thu hút đầu tư phải quan tâm đến phát triển cơ sở hạ
tầng. Chính quyền các cấp có thể trực tiếp đầu tư hoặc kêu gọi các thành phần kinh tế khác tham gia xây dựng cơ sở hạ tầng.
Khi đầu tư vào cơ sở hạ tầng, nhà ĐTNN tiến hành thuê đất của bên Việt Nam hoặc cùng với bên Việt Nam có quyền sử dụng đất góp vốn liên doanh để xây dựng cơ
sở hạ tầng khi đã đền bù, giải toả và san lấp mặt bằng. Sau khi xây dựng, doanh nghiệp phát triển hạ tầng cho thuê lại hoặc chuyển nhượng lại những cơng trình kết cấu hạ tầng
trong khu đất đó cho các đơn vị sản xuất kinh doanh. Trong quá trình kinh doanh kết cấu hạ tầng, doanh nghiệp phát triển hạ tầng có thể kinh doanh đồng thời các dịch vụ thu phí
khác như: dịch vụ vệ sinh, xử lý chất thải, dịch vụ tư vấn… và thực hiện việc duy trì hoạt động của các cơng trình hạ tầng trong thời gian cho các nhà đầu tư thuê để thực
hiện dự án. 2.1.1. Tình hình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào cơ sở hạ tầng KCN, KCX
của Vùng giai đoạn 1993-2006:
Từ năm 1993 đến cuối 2006, vùng KTTĐ Bắc Bộ đã thành lập 25 KCN, trong đó hồn thành về xây dựng cơ bản, đưa vào sản xuất kinh doanh đối với 16 KCN và đang
tiếp tục đền bù giải phóng mặt bằng, xây dựng cơ sở hạ tầng 9 khu. Trong các KCN đã hồn thành có nhiều khu đã đạt tỷ lệ lấp đầy là 100 như KCN Nội Bài Hà Nội, Thăng
Long Hà Nội, Sài Đồng B Hà Nội và Quang Minh Vĩnh Phúc. Tuy nhiên, số KCN có vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng từ nguồn vốn FDI là tương đối cao, 516 KCN đã
hoàn thành và 29 KCN đang xây dựng cơ bản, chiếm tỷ lệ 28. Tuy nhiên, việc tiến hành xây dựng các KCN thực hiện chậm, nhìn chung, việc xây dựng cơ sở hạ tầng các
KCN ở Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ thường kéo dài từ 5 đến 7 năm trừ KCN Nomura - Hải Phòng. Trừ KCN Nomura - Hải Phòng, giai đoạn I 50 ha của KCN Nội
Bài Hà Nội có cơ sở hạ tầng đã được xây dựng hồn chỉnh, còn các KCN, KCX khác trong vùng triển khai xây dựng hạ tầng chậm do giải phóng mặt bằng, việc đền bù giải
toả phức tạp, tốn kém thời gian và do khả năng thu hút đầu tư hạn chế, do vậy, các chủ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cầm chừng. Có trường hợp, tuy được thành lập từ 4 - 5
năm, nhưng chủ đầu tư vẫn chưa thực hiện dự án như KCN Daewoo – Hanel. Về vốn đăng ký đầu tư vào cơ sở hạ tầng, trong giai đoạn 1993-1995 có 3 dự án
với vốn đăng ký là 152,64 triệu USD, chiếm 36,2 so với tổng lượng vốn ĐTNN đăng ký vào KCN, KCX. Tỷ lệ vốn đầu tư thực hiện là 97, vốn thực hiện lớn do phát sinh
chi phí lớn để giải phóng mặt bằng đền bù giải toả tốn kém.
Giai đoạn tiếp theo là giai đoạn sụt giảm của vốn ĐTTTNN do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997. Có 2 dự án đăng ký đầu tư trước cuộc khủng
hoảng, đang thực hiện thì phải ngừng giữa chừng. Lượng vốn đầu tư đăng ký là 397,28 triệu USD, song chỉ thực hiện được gần 20, chiếm tỷ lệ 60,2 vốn đăng ký ĐTTTNN
vào KCN của Vùng trong giai đoạn này. Giai đoạn tiếp theo, các KCN đã cơ bản hoàn thành chủ yếu nhờ nguồn vốn Ngân
sách hoặc vốn địa phương, vốn ĐTTTNN vào Vùng đều là đầu tư vào sản xuất kinh doanh.
Năm 2006, do nhu cầu xây dựng mới và mở rộng các KCN, các dự án đầu tư nước ngoài cơ sở hạ tầng tăng trở lại với quy mô tương đối nhỏ. Lượng vốn đăng ký của
2 dự án trong năm là 56,2 triệu USD 5,7 lượng vốn đăng ký trong năm vào KCN, KCX của vùng, hiện chưa triển khai thực hiện.
Bảng 2.4: Tình hình ĐTTTNN vào cơ sở hạ tầng tại vùng KTTĐ Bắc Bộ giai đoạn 1993-2006 theo giấy phép đầu tư
Năm Vốn đăng ký
tr.USD Vốn thực hiện
tr.USD Tỷ trọng vốn thực hiệnvốn đăng
ký 1993
1994 140,63
212,32 151
1995 12
5,15 43
1996 152
24,25 16
1997 245,28
49,59 20
1998- 2005
2006 56,175
Tổng 606,085
291.31 48
Nguồn: tổng hợp từ Vụ Quản lý KCN-KCX, Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Như vậy, vốn ĐTTTNN vào xây dựng cơ sở hạ tầng KCN, KCX của Vùng là tương đối cao, tuy nhiên hiệu quả đầu tư của các dự án này không cao, thời gian thực hiện dài,
khả năng hồi vốn thấp, không hẫp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài. Do vậy, lượng vốn
đầu tư không ổn định, dễ bị ngừng thực hiện hoặc rút vốn khi gặp điều kiện không thuận lợi.
Về vốn đầu tư thực hiện, các KCN tại vùng KTTĐ Bắc Bộ thu hút lượng vốn lớn hiệu quả thấp hơn so với vùng KTTĐ Nam Bộ, các dự án triển khai chậm, tỷ lệ thực hiện
vốn tương đối thấp
Bảng 2.5: Tình hình vốn ĐTTTNN vào xây dựng cơ sở hạ tầng phân theo vùng KTTĐ Đơn vị: triệu USD
Tên vùng Số
Số KCN có Vốn đầu tư vào CSHT
Đăng ký tr.USD
Tỷ lệ so với cả nước
thực hiện tr.USD
Tỷ lệ th
VKTTĐ Bắc Bộ
25 7
491 51
300 61
VKTTĐ Trung Bộ
11 VKTTĐ
Nam Bộ 67
10 454
47 269
59 Tổng 3
vùng 103
17 945
98 474
50 Cả nước
139 19
970 100
585 Nguồn: tổng hợp từ Vụ Quản lý KCN-KCX, Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Theo bảng 2.5, có thể vốn ĐTTTNN vào cơ sở hạ tầng tập trung chủ yếu ở 2 vùng KTTĐ phía Bắc và phía Nam, vốn ĐTTTNN vào vùng KTTĐ Trung Bộ hầu như
khơng có. Vốn đăng ký của khu vực phía Bắc lớn hơn vàtỉ lệ thực hiện cũng cao hơn, tuy nhiên do chi phí đền bù giải toả và giải phóng mặt bằng gây nhiều chi phí tốn kém
nên vốn bỏ nhiều hơn mà kết quả thấp hơn so với các KCN vùng KTTĐ phía Nam. Hơn nữa, tỷ trọng đầu tư cơ sở hạ tầng tại vùng KTTĐ Nam Bộ rất thấp dưới 5, còn vùng
KTTĐ Bắc Bộ lại tương đối cao gần 10 chứng tỏ mức hấp dẫn của các KCN vùng KTTĐ Nam Bộ cao hơn so với các KCN ở vùng KTTĐ Bắc Bộ.
Tổng lượng vốn ĐTTTNN vào xây dựng cơ sở hạ tầng KCN, KCX còn hiệu lực trong cả giai đoạn 1991-2006 là 336 triệu USD,chiếm 59 tổng lượng vốn đầu tư vào cơ
sở hạ tầng KCN của toàn vùng. Nhưng vào giai đoạn 1998-2005, đầu tư vào cơ sở hạ tầng KCN tại vùng hoàn toàn dựa vào nguồn vốn trong nước, cho thấy xu hướng giảm
sút ĐTNN trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng. Sự hạn chế này trong thu hút ĐTNN sẽ ảnh hưởng đến kết chất lượng của hệ thống cơ sở hạ tầng các KCN, KCX vì trong khi lượng
vốn bình quân nhà ĐTNN bỏ vào xây dựng mỗi KCN là 67,2 triệu USDKCN, thì lượng vốn bình quân xây dựng mỗi KCN của nhà đầu tư trong nước chỉ đạt 21 triệu USDdự
án. Xét theo phương diện quy mô vốn, rõ ràng các KCN có vốn ĐTNN xây dựng cơ sở hạ tầng có chát lượng cao hơn.
Qua 14 năm xây dựng KCN, vốn đầu tư vào xây dựng cơ sở hạ tầng tại KCN, KCX của vùng chiếm tỷ lệ tương đối lớn so với trung bình các KCN, do các nguyên
nhân sau: Tốn kém chi phí và thời gian cho đền bù giải phóng mặt bằng; các KCN xây dựng
với tiến độ chậm, thưòi gian thu hồi vốn bị kéo dài, làm nản lòng các nhà đầu tư. Hạ tầng kỹ thuật và cơ sở vật chất sẵn có tại KCN hầu như khơng có gì, giao
thơng, điện, nước kém phát triển, các dịch vụ chưa đáp ứng được nhu cầu, làm phát sinh chi phí xây dựng hạ tầng dịch vụ. Hơn nữa do thị trường vùng còn hẹp, tốc độ tiêu thụ
hàng hoá chậm, các nhà đầu tư sau khi xây dựng xong cơ sở hạ tầng gặp khó khăn trong việc cho thuê lại để sản xuất kinh doanh, do vậy, lượng vốn ĐTTTNN vào KCN, KCX
của vùng thấp và thiếu hiệu quả. 2.1.2. Tình hình thu hút ĐTTTNN vào xây dựng cơ sở hạ tầng KCN phân theo
địa phương:
Việc khuyến khích các nhà ĐTNN tham gai xây dựng cơ sở hạ tầng KCN, KCX không chỉ để tăng nguồn vốn huy động, mà quan trọng là để phát huy được khả năng kêu
gọi đầu tư từ nước ngoài của các nhà đầu tư này. Đầu tư vào cơ sở hạ tầng các KCN không phải để kinh doanh cơ sở hạ tầng mà để
cải thiện môi trường đầu tư, giảm chi phí để thu hút được nguồn vốn lớn, bổ sung cho nguồn vốn trong nước, tạo việc làm cho lao động.
Mặc dù vậy, cho đến nay chỉ có 48 tỉnh của vùng có nhà ĐTNN vào đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng KCN, KCX với 9 dự án. Hà Nội là nơi thu hút lượng vốn lớn nhất
với 284,3 triệu USD, chiếm 46,9 tổng lượng vốn ĐTTTNN vào cơ sở hạ tầng toàn vùng, Hải Phòng ít hơn với 265,6 triệu USD, các tỉnh khác lượng vốn ít, đầu tư thực hiện
thấp. Bảng 2.6: Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật KCN,
KCX của vùng phân theo địa phươnghết năm 2006 STT
Tỉnh, thành phố
Số dự án Vốn ĐTTTNN đăng ký
tr.USD Tỷ trọng vốn
ĐTTTNN 1
Hà Nội 4
284,3 46,9
2 Hải Phòng
3 265,6
43,8 3
Hải Dương 1
5,2 0,9
4 Hưng Yên
1 51
8,4 Tổng
9 606,1
100 Nguồn: tổng hợp từ Vụ Quản lý KCN-KCX, Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Do đặc thù của việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng là phải thuê đất của nước sở tại, các hoạt động đầu tư chỉ tiến hành sau khi đã đền bù giải phóng mặt bằng nên cả 9 các dự án
đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng là những dự án thuộc hình thức liên doanh. Nhà ĐTNN góp vốn để thực hiện xây dựng cơ sở hạ tầng trong khi
nhà đầu tư trong nước tiến hành đền bù giải phóng mặt bằng đồng thời góp vốn trong việc xây dựng.
Vùng có sự mất cân đối trong việc thu hút đầu tư vào cơ sở hạ tầng KCN giữa các tỉnh thành. Các tỉnh thành phát triển và thu hút lượng vốn lớn thúc dẩy nhà ĐTNN bỏ
vốn vào lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng KCN. Tuy nhiên do có hạn chế về giải phóng
mặt bằng, kết nối hạ tầng trong và ngồi hàng rào nên lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào xây dựng cơ sở hạ tầng chưa cao chưa phù hợp với nhu cầu thu hút của các địa
phương. 2.1.3.Tình hình thu hút ĐTTTNN vào xây dựng cơ sở hạ tầng KCN, KCX của
vùng phân theo đối tác: Đến này đã có 8 quốc gia và vùng lãnh thổ có vốn đầu tư vào xây dựng cơ sở hạ
tầng KCN, KCX của vùng, với tổng vốn đăng ký còn hiệu lực là 491 triệu USD. Về vốn đăng ký, dẫn đầu là Hàn Quốc với 152 triệu USD chiếm 26, tiếp theo là Nhật Bản
với 23 và Cayman Islands với 18. Về vốn thực hiện, đứng đầu là Cayman Island với 167 triệu USD thực hiện, chiếm 58 tổng lượng vốn đầu tư thực hiện. Các đối tác hầu
như đều ở châu Á, các nước Bắc Mỹ và châu Âu giữ vai trò khá mờ nhạt. Biểu đồ 2.3:Tỷ trọng vốn đăng ký
ĐTTTNN vào CSHT phần theo đối tác đầu tư
Biểu đồ 2.3:Tỷ trọng vốn thực hiện ĐTTTNN vào CSHT phần theo đối tác đầu

Nguồn: tổng hợp từ Vụ Quản lý KCN-KCX, Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Như phân tích ở trên, tình hình đầu tư vào cơ sở hạ tầng KCN tại vùng còn gặp nhiều khó khăn. Các quốc gia bỏ vốn đầu tư vào xây dựng cơ sở hạ tầng KCN
của vùng là do những quốc gia này có ý định bỏ vốn đầu tư vào sản xuất tại KCN của
vùng. Ngoài ra, họ còn có thuận lợi về quen với mơi trường đầu tư, kêu gọi các nhà đầu tư thuộc nước mình thuê đất thực hiện đầu tư tại KCN đang xây dựng cơ sở hạ
tầng Việc xây dựng cơ sở hạ tầng là để tạo thuận lợi cho nhà đầu tư trong việc triển
khai ngay dự án, tiết kiệm về chi phí và thời gian. Tuy nhiên các yếu tố dịch vụ hạ tầng kỹ thuật ngoài hàng rào như: hệ thống giao thông, cấp điện, cấp nước, thông tin
liên lạc cũng giữ vai trò quan trọng trong quá trình tiến hành sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Các cơng trình hạ tầng kỹ thuật trong KCN cần phải đấu nối với các cơng trình bên ngồi KCN. Nhưng có nhiều KCN đã triển khai xây dựng cơ sở hạ tầng và
đã thu hút đầu tư nhưng phải mất hàng năm để liên hệ với cơ quan Nhà nước xây dựng cơ sở hạ tầng ngoài hàng rào, lượng vốn Ngân sách hạn chế chưa được thực
hiện hoặc đầu tư nhỏ giọt, trách nhiệm quy định không rõ ràng, đơi khi nhà đầu tư phải tự thanh tốn chi phí đầu tư xây dựng cơng trình ngồi hàng rào. Điều này làm
hạn chế tính hấp dẫn của KCN và bỏ lỡ cơ hội thu hút đầu tư. KCN, KCX là hạt nhân hình thành các khu đơ thị, là nơi thu hút lực lượng lớn
lao động làm việc. Do vậy, cùng với quá trình xây dựng KCN, KCX sẽ đòi hỏi một hệ thống cơ sở hạ tầng xã hội phát triển, cần có chính sách đầu tư thích hợp để cải
thiện hệ thống hạ tầng kỹ thuật và xã hội ngaòi hàng rào để đảm bảo thu hút đầu tư nói chung và thu hút đầu tư nước ngồi nói riêng đạt hiệu quả.

2.2. Thực trạng thu hút ĐTTTNN vào sản xuất kinh doanh


trong khu công nghiệp – khu chế xuất của vùng kinh tế Bắc Bộ
2.2.1. Tình hình ĐTTTNN vào sản xuất kinh doanh ở KCN-KCX
vùng KTTĐ Bắc Bộ Tính hình đến năm 2006, tổng số vốn ĐTTTNN đầu tư vào lĩnh vực sản xuất
kinh doanh trong KCN, KCX của vùng là 4.095 triệu USD, chiếm 3.462 triệu USD, một số dự án bị rút giấy phép còn lại là 3.061 triệu USD, chiếm 86,17 tổng số vốn
ĐTTTNN đầu tư vào KCN, KCX cả vùng.
Bảng 2.7: Tình hình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngồi vào sản xuất kinh doanh trong các KCN, KCX của Vùng giai đoạn 1993-2006
Năm Vốn đăng
kí tr.USD Tỷ lệ so
với tổng vốn
Tốc độ tăng giảm liên hoàn
Vốn thực hiện tr.USD
Tốc độ tăng giảm liên hoàn
1993 230,55
7 247,99
1994 -100
-100 1995
38,29 1
- 18,64
1996 73,77
2 93
41,09 120
1997 96,97
3 31
56,17 37
1998 1,85
-98 0,68
-99 1999
41,55 1
2.146 20,07
2.851 2000
48,12 1
16 20,75
3 2001
476,83 14
891 218,95
955 2002
290,91 8
-39 79,49
-64 2003
226,08 7
-22 41,23
-48 2004
523,64 15
132 110,11
167 2005
422,4 12
-19 422,4
284 2006
991,04 29
135 18,76
-96 Tổng
3.462 100
1.296,34 Nguồn: tổng hợp từ Vụ Quản lý KCN-KCX, Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Giai đoạn 1993-1997, lượng vốn ĐTNN vào sản xuất kinh doanh của các KCN, KCX trong vùng tăng dần nhưng tương đối thấp, chiếm tỷ lệ nhỏ 13 trong
tổng vốn đăng ký ĐTTTNN qua 14 năm do việc xây dựng cơ sở hạ tầng KCN rất chậm, thời gian xây dựng KCN thường là 5-7 năm, cầu tiêu dùng thấp nên đầu tư
kém hiệu quả, các nhà đầu tư chỉ đầu tư cầm chừng , môi trường đầu tư kém hấp dẫn hơn so với vùng KTTĐ Nam Bộ.
Giai đoạn 1998-2000, lượng vốn sụt giảm do Việt Nam bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng tài chính và sự canh tranh mạnh mẽ của các quốc gia trong khu vực
đặc biệt là Trung Quốc đối với việc thu hút ĐTNN nên lượng vốn ĐTTTNN đổ vào cả nước nói chung và vào KCN nói riêng suy giảm. Tổng lượng vốn đầu tư vào KCN
tại vùng trong giai đoạn này chỉ chiếm 2 tổng lượng vốn qua 14 năm. Trước tình hình đó, Việt nam đã tiến hành cải thiện môi trường đầu tư, ban
hành những chính sách ưu đãi thích hợp và cùng với sự phục hồi của nền kinh tế khu vực, tình hình thu hút ĐTNN từ năm 2001 đã khởi sắc trở lại.
Số vốn ĐTTTNN tăng đột biến vào năm 2001 và giữ ở mức tương đối cao, đặc biệt là 3 năm gần đây riêng lượng vốn 3 năm đã chiếm tới 66 tổng lượng vốn
đầu tư vào KCN của cả vùng trong 14 năm, nhờ vậy lượng vốn giai đoạn này cao hơn hẳn so với lượng vốn cả giai đoạn trước.
Biểu 2.7: Tỷ trọng dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào sản xuất kinh
doanh trong KCN, KCX của 3 vùng KTTĐ
Biểu 2.8: Tỷ trọng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào sản xuất kinh doanh
trong KCN, KCX của 3 vùng KTTĐ
Nguồn: tổng hợp từ Vụ Quản lý KCN-KCX, Bộ Kế hoạch và Đầu tư Trong 3 vùng KTTĐ, vùng KTTĐ Nam Bộ hiện là khu vực dẫn đầu về tổng
lượng vốn và số dự án thu hút được. Trong số 2.182 dự án, vùng KTTĐ Nam Bộ đóng góp 1.754 dự án, chiếm 81 tông số dự án ĐTTTNN vào các KCN cả nước; có
số vốn chiếm 81 tổng lượng vốn vào sản xuất kinh doanh của các KCN. Tiếp theo là vùng KTTĐ Bắc Bộ với số vốn chiếm 16 tổng số dự án và tổng số vốn đầu tư
với 359 dự án và 3061 triệu USD vốn. Rõ ràng, dù đầu tư nhiều vào cơ sở hạ tầng nhưng vùng KTTĐ Bắc Bộ vẫn
chưa khai thác triệt để được tiềm năng của các tỉnh, thành địa phương trong vùng, chưa tạo được điều kiện thuận lợi nhất để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đến đầu
tư vào sản xuất kinh doanh tại vùng. 2.2.2.
Tình hình thu hút ĐTTTNN tại vùng KTTĐ Bắc Bộ vào sản xuất kinh doanh phân theo ngành nghề:
Đến nay, các KCN của vùng đã thu hút được 3.613 triệu USD vốn ĐTTTNN vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Cũng như tình hình chung các KCN cả nước, đầu tư trực
tiếp nước ngoài vào KCN của vùng tập trung chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp, với số vốn chiếm 95,67, cao hơn tỷ trọng công nghiệp của cả nước 81,85, kế đến là ngành
dịch vụ với số vốn chiếm 3,64.
Bảng 2.7: ĐTTTNN vào sản xuất kinh doanh trong KCN của vùng phân theo ngành nghề
STT Tên ngành
Vốn đăng kí tr.USD
theo ngành
Vốn thực hiện
tr.USD theo
ngành I. Công nghiệp
3.456,2 95,67
832,96 92,87
1 CN nặng
2.975,18035 82,35
758,831253 84,61
2 CN nhẹ
469,098388 12,98
73,055618 8,15
3 CN thực phẩm
11,886339 0,33
1,074 0,12
4 II. Nông lâm
ngư nghiệp 25,0775
0,69 13,511394
1,51 III. Dịch vụ
131,44 3,64
50,41 5,62
5 Dịch vụ
5,2565 0,15
1,25 0,14
6 GTVT-Bưu
điện 6,65002
0,18 7
Văn hoá-Y tế- Giáo dục
20,648 0,57
3,556896 0,4
8 Xây dựng
98,885 2,74
45,6 5,08
Tổng 3.613
100 896,88
100 Nguồn: tổng hợp từ Vụ Quản lý KCN-KCX, Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Trong lĩnh vực công nghiệp đáng chú ý nhất là hai lĩnh vực công nghiệp nặng và cơng nghiệp nhẹ; lượng vốn đầu tư tính riêng 2 lĩnh vực này là hơn 3.400 triệu USD,
chiếm 99,6 lượng vốn đăng ký vào lĩnh vực công nghiệp, trong đó cơng nghiệp nặng chiếm 86,1 còn cơng nghiệp nhẹ chiếm 13,5. Trong các dự án ĐTTTNN vào KCN
của vùng, các dự án sản xuất linh kiện, chi tiết máy bằng thép và nhựa và các dự án lắp ráp chiếm tỷ trọng lớn. Các dự án công nghiệp nhẹ sản xuất ra số chủng loại sản phẩm
khá phong phú như may mặc, dệt, bao bì và các sản phẩm gia công; công nghiệp thực phẩm chiếm tỷ trọng không đáng kể. Đó là vì vùng có lợi thế dồi dào về nguồn nhiên
liệu, đặc biệt là trữ lượng than lớn ở Quảng Ninh 98 cả nước có điều kiện khai thác tương đối dễ dàng, thuận lợi cho việc sản xuất các chi tiết máy cần gia công ở nhiệt độ
cao. Tuy vậy, khối lượng vốn đầu tư vào lĩnh vực cơ khí, điện tử và điện còn rất khiêm tốn. Các dự án này đã thu hút lượng lớn các lao động ở địa phương, tác động tích cực
đến tình hình xã hội của vùng, nhưng đồng thời cũng gây ảnh hưởng xấu đến môi trường do các chất thải công nghiệp xả ra nguồn nước và khơng khí, cần có các biện pháp để
hạn chế và kiểm sốt ơ nhiễm từ nhà máy, đảm bảo phát triển bền vững. Tuy là vùng chuyên canh nông nghiệp lâu đời, có đường bờ biển và tuyến sơng,
thuận lợi để phát triển nông nghiệp nhưng các dự án đầu tư vào lĩnh vực nông-lâm-ngư nghiệp chỉ bắt đầu xuất hiện từ năm 2000, và chiếm tỷ lệ rất nhỏ, các dự án lớn đa phần
là khai thác và chế biến các sản phẩm gỗ từ vùng núi phía Bắc. Lĩnh vực này kém thu hút đầu tư là do năng suất nơng nghiệp ở vùng còn thấp, phương pháp canh tác lạc hậu,
các sản phẩm nơng nghiệp còn thiếu và chưa đạt tiêu chuẩn chất lượng, kém hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài. Các dự án ngành dịch vụ tuy xuất hiện rất muộn, từ năm 2004
nhưng đã có số dự án 17 dự án và chiếm tỷ trọng lớn 3,64 hơn so với ngành nông- lâm-ngư nghiệp11 dự án. Đó là do các dự án đầu tư vào dịch vụ đòi hỏi phải xây dựng
hệ thống cơ sở hạ tầng tương đối hoàn chỉnh mà gần đây các KCN của vùng mới đáp ứng được.
2.2.3. Vốn ĐTTTNN tại vùng KTTĐ Bắc Bộ phân theo đối tác:
Đến nay đã có gần 20 quốc gia và vùng lãnh thổ tiến hành đầu tư vào KCN của vùng, chủ yếu tập trung ở khu vực châu Á- Thái Bình Dương, đứng đầu là Hàn Quốc,
Nhật Bản và Trung Quốc với lượng vốn chiếm từ các nước châu Á chiếm 57 tổng vốn ĐTTTNN vào KCN của Vùng.
Bảng 2.8: Tình hình ĐTTTNN vào sản xuất kinh doanh phân theo đối tác đầu tư hết 2006
STT Đối tác
Vốn đăng kí Vốn thực hiện
1 Hàn Quốc
517,25 315,59
2 Nhật Bản
493,19 476,57
3 Trung Quốc+Hồng Kông
319,4 37,21
4 Hà Lan
231,5 24,5
5 Đài Loan
142,32 11,9
6 Singapore
740,4 49,28
7 Thái Lan
62,5 27,73
8 Hoa Kỳ
57,77 3,3
9 Malaysia
20,59 6,15
10 Các nước khác
436,65 236
Nguồn: tổng hợp từ Vụ Quản lý KCN-KCX, Bộ Kế hoạch và Đầu tư Xét theo từng quốc gia thì Hàn Quốc có số vốn đầu tư lớn nhất, tiếp đến là Nhật
Bản và Trung Quốc. Tuy số vốn bình quân mỗi dự án của ba quốc gia này như Nhật Bản 3,4 triệu USDdự án không cao như Hồng Kông 9,4 triệu USDdự án nhưng số dự án
và tổng số vốn đầu tư của mỗi nước lại dẫn đầu là do các nước này đầu tư vào những ngành công nghiệp nhẹ như hàng tiêu dùng, thiết bị, linh kiện có giá trị thấp. Đây là
nhưng ngành khơng đòi hỏi lượng lớn vốn đầu tư, do vậy vốn bình quân trên mỗi dự án thường thấp hơn những dự án vào các ngành cơ khí, luyện kim hay các ngành nghề điện
tử khác. Biểu đồ 2.9: Tỷ trọng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào sản xuất kinh doanh trong
KCN của vùng phân theo đối tác đầu tư hết năm 2006
Nguồn: tổng hợp từ Vụ Quản lý KCN-KCX, Bộ Kế hoạch và Đầu tư Các nước châu Âu và Bắc Mỹ mặc dù đầu tư chỉ chiếm 24 nhưng tăng lên
nhanh chóng, đặc biệt là số dự án và nguồn vốn từ Hoa Kỳ bắt đầu tăng lên, với mức vốn bình quân mỗi dự án là 8,2 triệu USDdự án, là bước khởi đầu tích cực cho quan hệ
thương mại Mỹ-Việt. Các nước ASEAN cũng chiếm một vị trí đáng kể về số dự án cũng như mức vốn
đầu tư. Mặc dù khá tương đồng về khí hậu, tập quán nhưng do tiềm lực còn hạn chế nên lượng vốn còn thấp.
Trong quá trình xây dựng và phát triển KCN, các địa phương ln coi nhà ĐTNN là đối tác chính. Các dự án ĐTNN thường là các dự án có vốn đầu tư lớn, hàm lượng
công nghệ và năng lực quản lý cao hơn so với các dự án đầu tư trong nước. ĐTNN còn góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại địa bàn, tăng cường khả năng cạnh tranh của các
doanh nghiệp trong nước và tạo việc làm cho lực lượng lao động đang gia tăng. Vì vậy các địa phương đang tích cực nâng cao uy tín và hình ảnh của địa phương đối với các
đối tác đến tìm kiếm cơ hội đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi và môi trường đầu tư hấp dẫn nhằm tăng cường vốn ĐTNN trong các KCN tại địa phương.
Với việc gia nhập WTO, các đối tác ngày càng quan tâm đến Việt Nam nhiều hơn. Ngoài các đối tác truyền thống ở vùng châu Á- Thái Bình Dương, các đối tác từ
châu Âu và Mỹ cũng bắt đầu xem xét các cơ hội đầu tư vào Việt Nam. Tuy không có điều kiện thuận lợi như vùng KTTĐ Nam Bộ, vùng KTTĐ Bắc Bộ cũng là một địa điểm
đầu tư hiệu quả đối với các đối tác. 2.2.4.
Tình hình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào sản xuất kinh doanh trong các KCN của vùng phân theo địa phương:
Đến nay, các KCN, KCX của vùng đã thu hút được 359 dự án ĐTTTNN vào sản xuất kinh doanh. Dẫn đầu là Hà Nội với 125 dự án, có lượng vốn đăng ký 1.049 triệu
USD chiếm 34 lượng vốn đăng ký ĐTNN vào KCN của vùng. Tiếp đến là Hải Phòng với 514 triệu USD, Vĩnh Phúc với 441 triệu USD và Bắc Ninh 307 triệu USD. Tỷ lệ thực
hiện vốn của Hà Nội cũng đứng đầu, tiếp theo là Hải Phòng, Hải Dương, Bắc Ninh. Điều này phần lớn do Hà Nội có nền kinh tế-xã hội ổn định và cơ sở hạ tầng dịch vụ tương
đối hiện đại, giao thông thuận lợi với các vùng khác, tiêu dùng thị trường lớn nên đầu tư hiệu quả hơn các tỉnh còn lại. Hải Phòng là cảng giao thơng huyết mạch của tồn vùng ra
biển Đơng, có vị trí cửa ngõ thuận lợi và các thành phần kinh tế năng động, giúp các dự án ĐTNN triển khai hiệu quả.
Bảng 2.9: Tình hình thu hút đầu tư nước ngồi vào sản xuất kinh doanh trong các KCN, KCX của vùng phân theo địa phương
STT Tên tỉnh
Số dự án
Vốn đầu tư tr.USD Quy mô bq
tr.USDdự án Tỷ lệ thực
hiện đăng kí
thực hiện 1
Hà Nội 125
1.049 887
8,39 84.6
2 Hải Phòng
72 514
318 7,14
61.9 3
Quảng Ninh 5
30 10
6 33.3
4 Hải Dương
23 195
92 8,48
47.2 5
Hưng Yên 26
165 60
6,34 36.4
6 Vĩnh Phúc
65 441
157 6,78
35.6 7
Bắc Ninh 43
307 143
7,14 46.6
8 Hà Tây
- -
Nguồn: tổng hợp từ Vụ Quản lý KCN-KCX, Bộ Kế hoạch và Đầu tư Về quy mơ dự án, tính bình qn của vùng là 8,52 triệu USDdự án. Dẫn đầu là
Hải Dương với 8,48 triệu USD, tiếp đến là Hà Nội, Hải Phòng và Bắc Ninh. Quy mơ vốn bình qn dự án của vùng và các địa phương thấp hơn so với quy
mơ vốn bình qn cả nước 8,9, do điều kiện vùng còn nhiều hạn chế về hạ tầng kỹ
thuật, hạ tầng xã hội, hiệu quả đầu tư và thị trường tiêu thụ nên các nhà ĐTNN có xu hướng đầu tư các dự án lớn vào các KCN tại vùng KTTĐ Nam Bộ là nơi được coi là
chắc chắn hơn. Các dự án đầu tư vào vùng KTTĐ Bắc Bộ thường là các dự án nhỏ, thời gian thu hồi vốn nhanh nhằm đảm bảo hiệu quả sản xuất.
Riêng Hà Tây, do chính sách địa phương còn nhiều bất cập, các điều kiện ngồi hàng rào còn yếu, hơn nữa mới thành lập khu công nghiệp Bắc Phú Cát vào năm 2002
nên vẫn chưa có dự án ĐTTTNN đăng ký đầu tư.

I. Đánh giá thực trạng thu hút ĐTTTNN vào khu công nghiệp – khu chế xuất


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Khái qt tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngồi vào KCN, KCX cả

Tải bản đầy đủ ngay(80 tr)

×