Tải bản đầy đủ - 80 (trang)
Kết quả đạt được

Kết quả đạt được

Tải bản đầy đủ - 80trang

thuật, hạ tầng xã hội, hiệu quả đầu tư và thị trường tiêu thụ nên các nhà ĐTNN có xu hướng đầu tư các dự án lớn vào các KCN tại vùng KTTĐ Nam Bộ là nơi được coi là
chắc chắn hơn. Các dự án đầu tư vào vùng KTTĐ Bắc Bộ thường là các dự án nhỏ, thời gian thu hồi vốn nhanh nhằm đảm bảo hiệu quả sản xuất.
Riêng Hà Tây, do chính sách địa phương còn nhiều bất cập, các điều kiện ngồi hàng rào còn yếu, hơn nữa mới thành lập khu công nghiệp Bắc Phú Cát vào năm 2002
nên vẫn chưa có dự án ĐTTTNN đăng ký đầu tư.

I. Đánh giá thực trạng thu hút ĐTTTNN vào khu công nghiệp – khu chế xuất


1. Kết quả đạt được


1.1. Thúc đẩy phát triển công nghiệp của địa phương và của vùng


Bảng 2.7 cho thấy hơn 80 tổng vốn FDI đầu tư vào KCN-KCX tại vùng KTTĐ Bắc Bộ là tập trung vào cơng nghiệp, góp phần rất lớn trong việc phát triển công nghiệp
địa phương, từ đó đóng góp quan trọng vào sự nghiệp CNH-HĐH của cả nước. Vào đầu những năm 90 của thế kỷ trước, CNĐP với thành phần chủ yếu là các
DN quốc doanh ĐP và một số HTX, tổ hợp, cơ sở nhỏ ngoài QD mới chỉ chiếm tỉ tọng khoảng 15 trong tổng giá trị SXCN toàn ngành. Sản phẩm của CNĐP lúc đó nhìn
chung cũng còn nghèo nàn về chủng loại, chất lượng không cao, chủ yếu phục vụ nhu cầu xuất khẩu tại chỗ. Đến năm 2006, tỷ trọng CNĐP trong tổng giá trị SXCN tồn
ngành cơng nghiệp tại vùng KTTĐ Bắc Bộ đã đạt xấp xỉ 40; CNĐP đang dần vươn lên chiếm vị trí số 1 về các chỉ tiêu chủ yếu năng lực sản xuất, sản lượng, doanh thu, nộp
ngân sách, thu hút lao động… như thép nhựa,, phân bón tổng hợp NPKK, dệt may, da giày, chế biến nông-lâm thuỷ hải sản, chế biến gỗ… Ngay cả ngành cơ khí là ngành mà
CN trung ương có thế mạnh áp đảo trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới thì nay CNĐP đang dẫn đầu 1 số ngành như sản xuất xe máy và phụ tùng, quạt điện, dây và cáp
điện, máy điều hoà, tủ lạnh….. Kết quả đó có được là nhờ nhiều yếu tố, song khơng thể khơng nói tới vai trò của
các KCN-KCX. Trước đây 15 năm, những địa phương như Hưng Yên, Hải Dương, Vĩnh
Phúc… hầu như đều chưa có tên tuổi trên bản đồ công nghiệp Việt Nam. Nhờ phát triển mạnh các KCN, đặc biệt là ngành công nghiệp nặng dựa trên vốn FDI, hiện nay các tỉnh
này đều nằm trong nhóm các tỉnh có cơng nghiệp phát triển, cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh mẽ, có đóng góp tích cực vào sự tăng trưởng chung của tồn ngành. Ngược lại,
những địa phương chưa hình thành được KCN-KCX thường là những địa phương công nghiệp chậm phát triển.
Rõ ràng, các KCN-KCX có tác động lớn như vậy là do: KCN-KCX đã tạo những điều kiện hết sức thuận lợi về mặt hạ tầng kỹ thuật cho nhà đầu tư. Thay vì phải tự lo các
thủ tục về lựa chọn địa điểm, xin cấp đất đai, đền bù, san lấp mặt bằng, rà phá bom mìn, giải quyết các vấn đề cấp điện- cấp nước…. thì nhà đầu từ chỉ cần ký hợp đồng thuê đất
trong KCN và xây dựng nhà xưởng hoặc thuê trực tiếp nhà xưởng, lắp đặt thiết bị rồi sản xuất. Điều này tiết kiệm rất nhiều thời gian và chi phí, giúp nhà đầu tư khơng bỏ lỡ
cơ hội kinh doanh. Trong q trình hoạt động sản xuất – kinh doanh, các nhà đầu tư còn được hưởng nhiều lợi ích khác nếu so với đầu tư ngoài KCN như các dịch vụ phục vụ
CN trong KCN-KCX hải quan, ngân hàng, bảo vệ, tư vấn, thông tin…, xử lý các vấn đề phát sinh qua BQL KCN, khả năng liên kết-hợp tác với các doanh nghiệp khác trong
cùng KCN. Những lợi ích trên đã tạo cho các KCN-KCX một sức hấp dẫn lớn không chỉ đối với các nhà đầu tư nhỏ hoặc trung bình, mà cả các tập đồn, cơng ty lớn, đặc biệt là
các nhà đầu tư nước ngoài.

1.2. Tạo việc làm cho người lao động


KCN-KCX dưới góc độ lao động - việc làm được phát triển theo 2 hướng: -
Phát triển KCN theo hướng áp dụng công nghệ cao, công nghệ sử dụng nhiều vốn, tuy hệ số co giãn việc làm thấp thường dưới 0,1 do đầu tư cho một chỗ làm
việc mới rất tốn kém từ 50 triệu đến hàng trăm triệu đồng cho 1 chỗ làm việc, nhưng tạo ra mũi nhọn tăng trưởng kinh tế, sử dụng lao động trình độ cao và tạo việc làm có giá
trị cao. -
Phát triển KCN theo hướng áp dụng công nghệ sử dụng nhiều lao động,sản xuất các mặt hàng cho xuất khẩu mà Việt Nam có ưu thế lắp ráp điện tử, may
mặc, giày da…, vừa có ý nghĩa quan trọng góp vào tăng trưởng kinh tế, vừa tạo nhiều việclàm cho người lao động. Đây là hướng phổ biến nhất cho KCN ở nước ta vừa qua.
Qua 16 năm phát triển, KCN-KCX đã mở ra một không gian kinh tế rộng lớn, một kênh mới rất có tiềm năng để thu hút lao động, giải quyết việc làm cho lao động xã
hội. Theo Bộ Kế hoạch Đầu tư, đến năm 2006 các doanh nghiệp trong KCN-KCX thu hút khoảng 918 nghìn lao động trực tiếp, ở vùng KTTĐ Bắc Bộ khoảng 110 nghìn lao
động. Nếu tính độ lan toả của nó hiệu ứng tràn thì khả năng thu hút lao động còn lớn hơn nhiều. Theo nghiên cứu của Viện Khoa học Lao động và Xã hội, Bộ Lao động,
Thương binh và Xã hội, hệ số lan toả của các KCN từ 1,3 đến 1,5, thông qua tạo ra các tầng lao động khác nhau, đặc biệt là tầng dịch vụ ngoài hàng rào KCN dịch vụ nhà ở, ăn
uống, sản xuất và chế biến thực phẩm, dịch vụ văn hoá…; theo hệ số này, các KCN trên cả nước hiện nay có thể thu hút khoảng 1 triệu lao động trực tiếp và khoảng 2 triệu lao
động gián tiếp phục vụ cho sản xuất. Cũng theo kết quả điều tra các doanh nghiệp có vốn đầu tư nươc ngồi trong các KCN, KCX của vùng hàng năm có nhu cầu tăng thêm
lao động bình quân 10 do mở rộng sản xuất. KCN là nơi sử dụng lao động có chuyên môn kỹ thuật phù hợp với công nghệ
mới áp dụng vào sản xuất đạt trình độ khu vực và quốc tế. Do đó, KCN đóng góp rất lớn vào đào tạo nguồn nhân lực cho Việt Nam để hình thành đội ngũ lao động của nền công
nghiệp hiện đại. Kết quả điều tra của Viện Khoa học Lao động và Xã hội cho thấy, cơ cấu tuyển lao động vào các KCN cứ 100 lao động thì có: 57 lao động phổ thông – 29
công nhân kỹ thuật – 14 trung cấp, cao đẳng, đại học. Trong số lao động được tuyển vào doanh nghiệp thì:
- Lao động phổ thơng về cơ bản được đào tạo kèm cặp tại doanh nghiệp theo yêu cầu của công nghệ và dây chuyền sản xuất để vào làm việc không được cấp
chứng chỉ - Số còn lại trên 45 được đào tạo bổ sung kỹ năng mới cho phù hợp với
công nghệ áp dụng trong sản xuất. Đến nay nhiều KCN trên cả nước đã xây dựng các cơ sở dạy nghề trường
nghề KCN Dung Quất, Trung tâm dạy nghề Việt Nam-Singapore, nhưng hiện nay vùng
KTTĐ Bắc Bộ vẫn chưa có cơ sở dạy nghề. Đây là hướng rất quan trọng để giải quyết tình trạng thiếu nghiêm trọng lao động kỹ thuật hiện nay.
Phát triển KCN đồng nghĩa với hình thành và phát triển mạnh mẽ thị trường lao động, nhất là thị trường lao động trình độ cao ở nước ta. Hiện nay, lao động làm
công ăn lương ở nước ta có khoảng 25,6 khoảng 13 triệu lao động thì 80 tập trung ở các vùng kinh thế trọng điểm, KCN tập trung. Đây là một tác động rất lớn của KCN
đến phát triển thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong xu thế hội nhập ở nước ta. Về cơ bản, KCN sản xuất sản phẩm dùng cho xuất khẩu 80, ở đó
doanh nghiệp được thử thách trong môi trường cạnh tranh sôi động khơng chỉ trong nước, mà còn thử thách trong môi trường cạnh tranh quốc tế. Cạnh tranh và quan hệ
cung - cầu lao động diễn ra ở khu vực này cũng rất gay gắt, tạo động lực để lao động không ngừng phấn đấu, nâng cao tay nghề.
Quan hệ lao động trong các KCN bước đầu được thực hiện trên cơ sở thoả thuận và tự định đoạt của các bên theo nguyên tắc của thị trường và của pháp luật. Kết
quả điều tra của Viện Khoa học Lao động và Xã hội cho thấy, về cơ bản các doanh nghiệp trong các KCN thực hiện dúng quy định của pháp luật về giao kết hợp đồng lao
động, 96 giao kết hợp đồng có thời hạn từ 1 – 3 năm và hợp đồng không xác định thời hạn; tiền lương thực trả cao hơn tiền lương ghi trong hợp đồng từ 14-15 không vi
phạm trong việc áp dụng tiền lương tối thiểu do Nhà nước quy định; trong các năm 2001-2005, tiền lương thực trả có xu hướng tăng từ 10-25năm; chênh lệch giữa tiền
lương thực trả cho lao động có chun mơn kỹ thuật cao nhất so với lao động phổ thông là 3,5 lần; thu nhập bình quân 1 lao động trong các khu KCN tham gia đóng bảo hiểm xã
hội cho người lao động; điều kiện lao động và an toàn vệ sinh lao động trong các KCN tương đối tốt, do mới được thành lập và có trang thiết bị, máy móc hiện đại; ¾ số doanh
nghiệp được điều tra đã có tổ chức cơng đồn với 80 người lao động tham gia cơng đồn; 56 doanh nghiệp đã có thoả ướ lao động tập thể và 45 có cán bộ hồ giải cấp
cơ sở. KCN có mơ hình tổ chức và quản lí nói chung, tổ chức và quản lí nhân lực nói
riêng, rất tiên tiến, đạt trình độ quốc tế và đa dạng, phụ thuộc vào nguồn xuât xứ của
FDI Nhật, Hàn Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Singapore, EU, Mỹ…. Đây là môi trường rất tốt để đào tạo, chuyển giao khoa học quản lí cho đội ngũ cán bộ quản lý doanh
nghiệp của Việt Nam để có thể thay thế dần lao động quản lý người nước ngoài. Theo kết quả điều tra của Viện Khoa học Lao động và Xã hội, về cơ bản lao động vào làm
việc trong các KCN được phân công làm việc đúng ngành nghề đào tạo; phần lớn lao động Việt Nam đảm nhận công việc thuôc nghề bậc trung và bậc cao trực tiếp vận hành
máy móc, thiết bị; tỷ lệ lao động gián tiếp trong các doanh nghiệp thuộc KCN rất thấp khoảng 12; một bộ phận lao động Việt Nam đã đảm đương công việc quản lý cao
cấp; lao động là người nước ngoài chiếm tỷ lệ thấp dưới 2, chủ yếu là lao động quản lí, chun gia, cơng nhân lành nghề bậc cao, nghệ nhân và đang có xu hướng giảm.

1.3. Tác động tràn của vốn ĐTTTNN tại vùng KTTĐ Bắc Bộ đối với doanh nghiệp


Tác động lan tỏa spillover effect - còn được gọi là tác động tràn hay hiệu ứng lan tỏa được nhiều trường phái lý thuyết kinh tế trên thế giới bắt đầu nói đến từ cuối những
năm 70 của thế kỷ trước. Khái niệm này được đặt ra khi các nhà khoa học trong nhiều lĩnh vực khác nhau tiến hành nghiên cứu, xem xét ảnh hưởng của vốn nước ngồi và của
các cơng ty đa quốc gia tới các nước tiếp nhận nước sở tại. Tác động lan tỏa của các KCN được thể hiện trên ba khía cạnh khác nhau đối với
doanh nghiệp nước sở tại, cả trong và ngoài KCN. Thứ nhất và quan trọng nhất là vai trò của FDI tại các KCN trong việc chuyển giao cơng nghệ. Ngồi vốn, các doanh nghiệp
nước ngồi tại đây còn mang đến những cơng nghệ sản xuất, kỹ năng, trình độ quản lý tiên tiến hơn, mà từ đó các doanh nghiệp trong nước có thể học tập. Thứ hai, bản thân
các cơng nghệ sản xuất và kinh nghiệm chuyên gia do các nhà đầu tư nước ngồi đưa tới đòi hỏi có những người lao động phù hợp, qua đó sẽ giúp nâng cao trình độ mọi mặt của
người lao động trong nước. Thứ ba, KCN được xem như các trung tâm thúc đẩy mối liên kết ngược backward linkage giữa các doanh nghiệp FDI với các nhà cung ứng trong
nước. Mối liên kết này thường được thể hiện ở hai dạng: nguyên liệu thô đầu vào tại địa phương và nguồn cung cấp linh kiện, phụ tùng từ các doanh nghiệp sở tại thường được
nói đến dưới thuật ngữ “cơng nghiệp phụ trợ”. Tất nhiên, mối liên kết ngược này có hình thành và phát triển được hay khơng còn phụ thuộc rất nhiều vào độ rộng và độ sâu
của nền tảng công nghiệp nước sở tại. Hơn thế nữa, điều này còn đòi hỏi sự liên kết giữa Chính phủ và các thành phần kinh tế trong nước để có thể tận dụng tối đa những tác
động lan tỏa tích cực do các KCN mang lại và chủ động sử dụng những tác động đó trong việc nâng cao nội lực của quốc gia trong quá trình phát triển và hội nhập.
1.3.1. KCN với hạt nhân là doanh nghiệp FDI và tác động đổi mới công nghệ đối với doanh nghiệp trong nước
Xét một cách tổng thể, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngồi ngày càng khẳng định vai trò của mình trong nền kinh tế Việt Nam. Theo số liệu thống kê, ở các
KCN đang hoạt động, FDI chiếm tới hơn 80 về số vốn và 50 về số dự án đăng ký. Tuy nhiên, quy mơ vốn của doanh nghiệp FDI trong KCN nói chung chỉ ở mức nhỏ và
vừa, bình quân vốn đầu tư đăng ký là 8 triệu USDdự án. Về cơ cấu ngành, ngành công nghiệp chiếm 27 tổng vốn FDI. Các KCN thu hút được nhiều dự án tập trung của vùng
chủ yếu ở Hà Nội và Hải Phòng. Chuyển giao cơng nghệ đóng một vai trò quan trọng trong q trình cơng nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước. Kể từ khi bắt đầu quá trình đổi mới, hoạt động chuyển giao công nghệ ở nước ta đã phát triển nhanh, cả về phạm vi và tốc độ. Cùng với sự phát triển
của các KCN, khu chế xuất, một số lượng không nhỏ các công nghệ tiên tiến đã được chuyển giao và ứng dụng trong nhiều ngành công nghiệp. Tuy nhiên, một đặc điểm nổi
rõ về mặt công nghệ trong các doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam là tồn tại một sự hỗn hợp các trình độ cơng nghệ khác nhau lạc hậu, trung bình, tiên tiến trong các ngành,
trong các doanh nghiệp của cùng một ngành và thậm chí ngay trong một doanh nghiệp. Khi đánh giá về khu vực FDI nói chung và trình độ cơng nghệ của các doanh
nghiệp FDI nói riêng, có ý kiến cho rằng Việt Nam vẫn chưa tối đa hóa được lợi ích mà khu vực này có thể mang lại. Căn cứ dẫn đến nhận xét trên là diễn biến thất thường của
dòng vốn FDI chảy vào Việt Nam, tỷ lệ FDI thực hiện so với vốn đăng ký còn thấp; sự tập trung FDI chỉ trong một số ngành, vùng... Phần lớn các dự án FDI có quy mơ nhỏ,
cơng nghệ sử dụng chủ yếu có nguồn gốc từ châu á, đạt mức trung bình. Chi phí cho
nghiên cứu, thử nghiệm và đổi mới công nghệ RD của khu vực này hàng năm chiếm từ 5 - 10 doanh thu. Thêm vào đó, Việt Nam xem ra chưa được coi là điểm đến đầu tư
của phần lớn các công ty đa quốc gia có tiềm năng lớn về cơng nghệ, sẵn sàng chuyển giao công nghệ và tri thức. Nguyên nhân của tình hình này một phần là do trình độ công
nghệ của bản thân doanh nghiệp Việt Nam. Đánh giá trình độ cơng nghệ và mức độ đổi mới cơng nghệ của các doanh nghiệp
trong nước, báo cáo của Cục Phát triển Doanh nghiệp nhỏ và vừa Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, phần lớn doanh nghiệp trong nước đều có quy mơ nhỏ và vừa, chỉ có một số
ít doanh nghiệp lớn mà đa phần là doanh nghiệp có vốn của Nhà nước – chủ yếu là tổng công ty 91. Theo kết quả điều tra của Bộ Khoa học và Công nghệ về đổi mới công nghệ
của các doanh nghiệp, có 10 doanh nghiệp sử dụng công nghệ ở những năm 70 của thế kỷ trước, 30 của những năm 80 và 50 của những năm 90. Kết quả điều tra năm 2004
của Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế trung ương CIEM - Bộ Kế hoạch và Đầu tư đánh giá mức độ chi phí cho hoạt động RD cho thấy: đối với ngành cơ khí - điện tử, RD
đạt 0,8 doanh thu, đối với ngành may mặc - da giày là 1,04, ngành chế biến thực phẩm là 2,9; trong khi đó, con số này ở các doanh nghiệp FDI lần lượt là 5,6; 1,4
và 0,8. Trong các lĩnh vực trên, chi phí cho RD trong ngành cơ khí-điện tử của khu vực FDI cao gấp 7 lần so với các doanh nghiệp trong nước. Đánh giá chung, có thể nói
mức độ quan tâm đầu tư cho RD của doanh nghiệp FDI cao gấp 3 lần so với doanh nghiệp trong nước theo kết luận của CIEM. Kết quả nghiên cứu trên cũng cho thấy,
trình độ cơng nghệ sử dụng ở các doanh nghiệp trong nước hiện nay tương đối thấp, có tới 40 doanh nghiệp đang sử dụng thiết bị, công nghệ được sản xuất cách đây 25 năm
và 50 thiết bị được sản xuất 15 năm trước đây, chỉ có 10 doanh nghiệp được đánh giá là đang sử dụng công nghệ tiên tiến. Nếu tính theo tuổi thọ và năm khấu hao tài sản
thì hầu hết thiết bị cơng nghệ mà doanh nghiệp trong nước đang sử dụng đã quá cũ và lạc hậu, hay nói một cách tổng quát, việc đầu tư đổi mới công nghệ ở các doanh nghiệp
trong nước chưa được quan tâm đúng mức và nếu có thì cũng diễn ra rất chậm. Chuyển giao cơng nghệ của khu vực FDI tới doanh nghiệp trong nước được nhìn
nhận là có ảnh hưởng lâu dài, đóng góp tích cực vào việc tăng năng suất trong các ngành
công nghiệp của Việt Nam. Có thể thấy một xu hướng đang từng bước nổi rõ là việc mở rộng thu hút FDI đi liền với sự đổi mới và chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp
trong nước. Tuy nhiên, theo kết quả nghiên cứu của nhiều tổ chức trong và ngoài nước, mức độ chuyển giao công nghệ của FDI tới doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian qua
còn rất hạn chế và chưa đáp ứng được mong muốn xem tài liệu của tác giả Le Thanh Thuy. Nguyên nhân của mặt hạn chế này một phần xuất phát từ thực tế là khả năng hấp
thu công nghệ và tiềm lực tài chính của doanh nghiệp Việt Nam nói chung và của doanh nghiệp tư nhân nói riêng còn ở mức thấp.
1.3.2. Tác động nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam Bản thân sự hiện diện của doanh nghiệp FDI đã là một tác nhân thúc đẩy cạnh
tranh và trong nhiều trường hợp, thực tế này có thể dẫn đến tình trạng giảm sút sản lượng của doanh nghiệp trong nước, thậm chí có thể buộc doanh nghiệp rời khỏi thị
trường hoặc có thể sống sót nếu vượt qua được giai đoạn điều chỉnh cơ cấu để thích nghi với mơi trường cạnh tranh mới. Nếu biết tận dụng trong quá trình sản xuất của mình các
hàng hóa trung gian và các yếu tố khác của doanh nghiệp FDI, các doanh nghiệp trong nước hồn tồn có khả năng bứt phá để sau đó trực tiếp tiến hành xuất khẩu.
Theo nghiên cứu năm 2003 của VCCI, các doanh nghiệp trong nước tự đánh giá khả năng cạnh tranh của mình cao hơn tại thị trường trong nước so với hoạt động tại thị
trường nước ngoài, nhưng lại tỏ ra thiếu tự tin trong việc cạnh tranh với các đối thủ có vốn đầu tư nước ngồi ngay tại thị trường trong nước. Các doanh nghiệp cũng kém tự tin
trong việc đánh giá khả năng tự nâng cao sức cạnh tranh của mình, với mức độ đánh giá giảm từ mức 3,54 trong năm 1999 xuống dần đến mức 3,20 trong năm 2003. Hiện tại,
các biện pháp bảo hộ sản xuất trong nước đối với một số ngành đang có tác dụng đối với doanh nghiệp, nhưng trong tiến trình hội nhập tới đây những biện pháp này sẽ dần mất
đi, đòi hỏi các doanh nghiệp phải phấn đấu một cách quyết liệt để nâng cao tính cạnh tranh của hàng hoá và dịch vụ tại cả thị trường trong nước và nước ngoài.
Cuộc điều tra về năng lực xuất khẩu và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp do VCCI thực hiện gần đây cũng cho thấy: Chỉ có 23,8
doanh nghiệp có hàng xuất khẩu, 13,7 doanh nghiệp có triển vọng xuất khẩu, 62
doanh nghiệp hồn tồn chưa có khả năng xuất khẩu. Cho dù vài năm gần đây, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trong nhiều ngành sản xuất đã tăng lên đáng kể,
nhưng nhìn chung còn yếu kém do năng suất lao động chưa cao; chất lượng và tính độc đáo của sản phẩm thấp; trình độ công nghệ và khả năng tiếp cận công nghệ mới hạn chế;
chi phí đầu vào cao, chưa cạnh tranh được với hàng nhập khẩu; thị trường đầu ra cho sản phẩm chưa ổn định, thiếu bền vững...
Trong thời gian qua, chưa có nhiều nghiên cứu đánh giá tồn diện tác động lan tỏa của KCN và của FDI đối với năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước. Do
đó, chưa đủ cơ sở về số liệu thực tế để phân tích sâu tác động này. Những lập luận trên đây chỉ nhằm phản ánh một thực tế rằng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt
Nam nói chung còn yếu. Đồng thời, nghiên cứu của nhóm tác giả Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế trung ương đã chỉ ra một sự liên kết dương giữa khu vực FDI và các doanh
nghiệp trong nước về năng lực cạnh tranh. Điều đó đặt ra yêu cầu tới đây cần có biện pháp để vừa thúc đẩy vừa khai thác hiệu quả tác động lan tỏa tích cực này.
1.3.3. Về sự phát triển ngành công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam Mối quan hệ giữa FDI và công nghiệp phụ trợ trong nước có tính tương hỗ hai
chiều và chỉ có thể phát triển bền vững trên nguyên tắc “đôi bên cùng có lợi”. Các doanh nghiệp FDI, dù đặt cơ sở sản xuất ở đâu, cũng đều cần một lượng lớn
các yếu tố đầu vào. Họ có 3 lựa chọn: nhập khẩu, tổ chức sản xuất tại chỗ và tìm nguồn cung ứng địa phương mua từ các doanh nghiệp trong nước, hoặc cũng có thể từ các
doanh nghiệp FDI khác. Rõ ràng là, nếu có thể sử dụng các yếu tố này ở ngay nền kinh tế nước sở tại, thì họ sẽ giảm được đáng kể chi phí sản xuất, đồng thời có thể tập trung
vào việc nâng cao tính chun mơn hố, phát huy những thế mạnh của riêng mình. Còn lợi ích của nước chủ nhà thì có thể dễ dàng nhận biết. Trước hết, mối liên kết
với doanh nghiệp FDI làm tăng sản lượng và việc làm của các nhà cung ứng địa phương. Thêm vào đó, những ảnh hưởng gián tiếp có thể còn quan trọng hơn. Các liên kết có thể
trở thành những kênh có sức mạnh cho việc phát tán tri thức và kỹ năng giữa các công ty. Các liên kết mạnh có thể kích thích hiệu quả, tăng năng suất, năng lực cơng nghệ và
quản lý, đa dạng hố thị trường cho nhà cung ứng. Mặt khác, chính sự liên kết này
thường khuyến khích xuất khẩu đối với các cơng ty liên kết và trong những điều kiện hợp lý, các cơng ty trong nước có thể phát triển trở thành các nhà cung cấp toàn cầu hoặc
trở thành các TNC theo đúng nghĩa của nó. Song phải thấy rằng, khơng phải lĩnh vực nào cũng có thể phát triển cơng nghiệp
phụ trợ. Cơng nghiệp phụ trợ thường đòi hỏi vốn đầu tư lớn, khấu hao dài, sản phẩm sản xuất quy mô hàng loạt, thị trường tiêu thụ đủ lớn để sản phẩm làm ra có thế có giá cạnh
tranh hoặc đòi hỏi trình độ chun mơn hóa và hiệp tác hóa rất cao nên u cầu cơng nghệ cao, liên kết sản xuất gần như khép kín, có sẵn địa chỉ sản xuất và tiêu thụ. Đồng
thời, công nghiệp phụ trợ chỉ có thể phát triển khi đã có những ngành cơng nghiệp chính phát triển. Trong điều kiện cụ thể hiện nay của Việt Nam, công nghiệp phụ trợ chỉ có thể
phát triển có giới hạn ở một số ngành như sản xuất linh kiện, phụ liệu cho ngành chế tác, dệt may – da giày, điện tử - viễn thơng, hóa chất...
Các nhà nghiên cứu đã tổng kết và phân biệt ba phương thức hình thành và phát triển ngành công nghiệp phụ trợ như sau: thứ nhất, FDI đi trước và kéo các công ty khác
đầu tư phát triển các hoạt động phụ trợ; thứ hai, phát triển trước công nghiệp phụ trợ rồi mới thu hút FDI; thứ ba, đồng thời với sự gia tăng FDI, ngành cơng nghiệp phụ trợ cùng
hình thành và phát triển. Thực tế cho thấy, có lẽ ngành cơng nghiệp phụ trợ ở Việt Nam đang đi theo phương thức thứ nhất, tức là có FDI trước, rồi cơng nghiệp phụ trợ mới
từng bước hình thành. Trong hơn 10 năm qua, ngành công nghiệp phụ trợ Việt Nam đã đạt được một số
thành tựu tích cực, nhưng nhìn chung cho đến nay ngành này vẫn chưa phát triển được như mong muốn. Theo số liệu thống kê, ở một số ngành hàng có tốc độ phát triển cơng
nghiệp phụ trợ thì tỷ lệ nội địa hóa cũng chỉ ở mức thấp như: trong ngành điện tử, 80 linh kiện là nhập khẩu và 20 được các doanh nghiệp trong nước đáp ứng; ngành dệt
may - da giày, doanh nghiệp trong nước cũng đã đáp ứng được trên dưới 20; ngành lắp ráp ôtô - khoảng 3,5. Thành công lớn nhất có thể kể đến là ngành lắp ráp xe máy. Theo
số liệu của Bộ Công nghiệp, hiện nay Việt Nam có 230 doanh nghiệp đang sản xuất linh kiện, phụ tùng và đã cung cấp được khoảng 70 nhu cầu phụ tùng cho các doanh nghiệp
lắp ráp xe máy, trong đó có tới 150 doanh nghiệp trong nước tham gia sản xuất, còn lại là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Theo nghiên cứu của Tổ chức Hợp tác quốc tế Nhật Bản JICA, các công ty lắp ráp xe máy Nhật Bản đánh giá chất lượng sản phẩm do nhiều doanh nghiệp Việt Nam
sản xuất chưa đáp ứng được tiêu chuẩn của họ và chất lượng sản phẩm kém hơn của Thái Lan, Đài Loan, đồng thời dịch vụ sau bán hàng cũng còn yếu. Đây là vấn đề mà các
ngành công nghiệp phụ trợ khác cũng đang mắc phải và phần lớn những sản phẩm đạt yêu cầu về chất lượng thì giá thành lại quá cao. Có một thực tế là, doanh nghiệp FDI ít
tìm được nguồn cung cấp sản phẩm công nghiệp phụ trợ đáng tin cậy. Do vậy, các doanh nghiệp FDI hướng vào xuất khẩu có khuynh hướng sử dụng linh kiện và nguyên liệu
nhập khẩu hoặc do các công ty FDI khác sản xuất. Điển hình như cơng ty Honda, tỷ lệ nội địa hóa tăng khá nhanh, từ 10 lên 60 trong vòng 6 năm, nhưng vai trò đóng góp
của doanh nghiệp trong nước lại không đáng kể. Phần lớn các bộ phận, linh kiện và nhiều sản phẩm công nghiệp phụ trợ khác đều do Honda tự sản xuất trong nội bộ nhà
máy hoặc mua từ các doanh nghiệp FDI khác ví dụ năm 2003, Honda đã mua linh kiện và các sản phẩm trung gian khác từ 42 doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam, trong đó
chỉ có 13 doanh nghiệp là đơn vị trong nước.

2. Hạn chế và nguyên nhân tồn tại


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Kết quả đạt được

Tải bản đầy đủ ngay(80 tr)

×