1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Kế toán >

Các yếu tố cấu thành nguồn nhân lực.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (386.32 KB, 70 trang )


Chất lợng nguồn nhân lực thể hiển trạng thái nhất định của nguồn nhân lực với t cách vừa là một khách thể vật chất đặc biệt, vừa là chủ thể của mọi hoạt động
kinh tế và các quan hệ xã hội. Chất lợng nguồn nhân lực là tổng thể những nét đặc trng phản ánh bản chất, tính đặc thù liên quan trực tiếp tới hoạt động sản xuất và
phát triển con ngời. Do vậy chất lợng nguồn nhân lực bao gồm: Tình trạng sức khoẻ, trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn và năng lực phẩm chất Chất lợng
nguồn nhân lực liên quan trực tiếp đến nhiều lĩnh vực nh đảm bảo dinh dỡng,
chăm sóc sức khoẻ, giáo dục và đào tạo, lao động và việc làm gắn với tiến bộ kỹ thuật, trả công lao động và các mối quan hệ xã hội khác.
Phát triển nguồn nhân lực. Về phát triển nguồn nhân lực Human resource develoment cã nhiỊu c¸ch
tiÕp cËn kh¸c nhau. UNESCO sử dụng khái niệm PTNNL dới góc độ hĐp lµ lµm cho toµn bé sù lµnh nghỊ cđa dân c luôn luôn phù hợp trong mối quan hệ phát
triển của đất nớc. IZO cho rằng PTNNL không chỉ chiếm lĩnh trình độ lành nghề hoặc bao
gồm cả vấn đề đào tạo nói chung mà còn là phát triển năng lực và sử dụng năng lực đó của con ngời để phát triển tiến tới có việc làm hiệu quả, cũng nh thoả mãn
nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân. Nh vậy, có thể hiểu, PTNNL là quá trình làm biến đổi về số lợng, chất lợng
và cơ cấu nguồn nhân lực ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu của nền kinh tế - xã hội. Quá trình đó bao gồm phát triển thể lực, trí lực, khả năng nhận thức và tiếp
thu kiến thức, tay nghề; tính năng động xã hội và sức sáng tạo của con ngời; nền văn hoá, truyền thống lịch sử dân tộc.
Phát triển nguồn nhân lực bị tác động bởi nhiều yếu tố: Sinh đẻ và sức khoẻ sinh sản; chăm sóc sức khoẻ dinh dỡng, vệ sinh môi trờng, phòng ngừa bện
tật; giáo dục và đào tạo nghề nghiệp; văn hoá và truyền thống dân tộc; mối quan hệ xã hội và gia đình; việc làm và trả công lao động; thu nhập và mức sống;
trình độ phát triển kinh tế - xã hội.

1.1.2. Các yếu tố cấu thành nguồn nhân lực.


Theo quan niệm của Thủ tớng Phan Văn Kh¶i: “Nguån lùc con ngêi bao gåm c¶ søc lao động, trí tuệ và tinh thần gắn với truyền thống của dân tộc ta
Báo nhân dân, ngày 2681998. Đó là 1 quan niệm hoàn toàn đúng đắn, có cơ sở khoa học và rất khái quát.
Nguồn nhân lực, theo cách tiÕp cËn míi, cã néi hµm rÊt réng, bao gåm các yếu tố cấu thành về lực lợng Số lợng trí thức, khả năng nhận thức và tiếp thu
kiến thức, tính năng động xã hội và sức sáng tạo, truyền thống lịch sử, nền văn hoá.
Có thể cụ thể hoá và phân loại các yếu tố cấu thành nguồn nhân lực theo các nhóm sau đây:
- Quy mô, cơ cấu dân số, lao động và sức trẻ của nguồn nhân lực. Nhóm này liên quan đến các biến đổi về dân số, lao động tham gia vào phát triển kinh tÕ - x·
héi cña mét quèc gia trong tõng thời kỳ nhất định. - Trình độ dân số và chuyên môn kỹ thuật của nguồn nhân lực. Đây là yếu
tố cấu thành đặc biệt quan trọng có tính chất quyết định của NNL trong tiếp thu, làm chủ và thích nghi với kỹ thuật, công nghệ và quản lý nền kinh tế tri thức.
Nhóm này liên quan và phụ thuộc vào sự phát triển giáo dục - đào tạo và dạy nghề của một quốc gia, trong điều kiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập trong
xu thế toàn cầu hoá. - Nhóm yếu tố cấu thành NNL thể hiện tính năng động xã hội và sức sáng
tạo của con ngời. Nhóm này liên quan đến môi trờng pháp luật, thể chế và các chính sách, cơ chế giải phóng sức lao động, tạo động lực để con ngời phát triển,
phát huy tài năng và sức sáng tạo của mình trong nền kinh tế. - Truyền thống lịch sử, nền văn hoá của một quốc gia. Nó bồi đắp và kết
tinh trong mỗi con ngời và cả cộng đồng dân tộc, hun đúc nên bản lĩnh, ý chí, tác phong của con ngời trong lao động.
1.1.3. Vai trò của nguồn nhân lực đối với phát triển kinh tế xã hội. 1.1.3.1. Nguồn nhân lực - mục tiêu và động lực chính của sự phát triển.
Nói đến vai trò của nguồn nhân lực đối với sự phát triển là nói đến vai trò của con ngời trong phát triển.
Con ngời là động lực của sự phát triển. Bất cứ một sự phát triển nào cũng đều phải có một động lực thúc đẩy. Phát
triển kinh tế - xã hội đợc dựa trên nhiều nguồn nhân lực: Nhân lực nguån lùc con ngêi, vËt lùc nguån lùc vật chất: Công cụ lao động, đối tợng lao động, tài
nguyên thiên nhiên, tài lực nguồn lực về tài chÝnh, tiỊn tƯ… Song chØ cã ngn lùc con ngời mới tạo ra động lực cho sự phát triển, những nguồn lực khác
muồn phát huy đợc tác dụng chỉ cã thĨ th«ng qua ngn lùc con ngêi. Tõ thêi kỳ
xa xa con ngời bằng công cụ lao động thủ công và nguồn lực do chính bản thân mình tạo ra để sản xuất ra sản phẩm thoả mãn nhu cầu của bản thân. Sản xuất
ngày càng phát triển, phân công lao động ngày càng chi tiết, hợp tác càng chặt chẽ tạo cơ hội để chuyển dần hoạt động của con ngời cho máy móc thiết bị thực hiện,
làm thay ®ỉi tÝnh chÊt cđa lao ®éng tõ lao ®éng thủ công sang lao động cơ khí và lao động trí tuệ. Nhng cả trong điều kiện đạt đợc tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện tại
nh hiện nay thì cũng không thể tách rời nguồn lực con ngời bởi lẽ: -
Chính con ngời đã tạo ra những máy móc thiết bị hiện tại đó. -
Ngay cả đối với máy móc thiết bị hiện đại, nếu thiếu sự điều khiển, kiểm tra của con ngời tức tác động của con ngời thì chúng chỉ là vật chất,
chỉ có tác động của con ngời mới phát động chúng và đa chúng vào hoạt động. Vì vậy nếu xem xét nguồn lực là tổng thể những năng lực cơ năng và trí
năng của con ngời đợc huy động vào qúa trình sản xuất, thì năng lực đó là nội lực con ngời. Đối với những nớc có nền kinh tế đang phát triển nh nớc ta dân số đông,
nguồn nhân lực dồi dào đã trở thành một nội lực quan trọng nhất. Nếu biết khai thác nó sẽ tạo nên một động lực to lớn cho sự phát triển.
Con ngời là mục tiêu của sự phát triển. Phát triển kinh tÕ - x· héi suy cho cïng lµ nh»m mơc tiêu phục vụ con ngời,
làm cho cuộc sống con ngời ngày càng tốt hơn, xã hội ngày càng văn minh. Nói cách khác, con ngời là lực lợng tiêu dùng của cải vật chất và tinh thần của xã hội.
Và nh vËy, nã thĨ hiƯn râ nÐt nhÊt mèi quan hệ giữa sản xuất và tiêu dùng. Mặc dù mức độ phát triển sản xuất quyết định mức độ tiêu dùng, song nhu cầu tiêu dùng
của con ngời lại tác động mạnh mẽ tới sản xuất, định hớng phát triển sản xuất thông qua quan hệ cung cầu hàng hoá trên thị trờng.
Nhu cầu con ngời vô cùng phong phú, đa dạng và thờng xuyên tăng lên, nó bao gồm nhu cÇu vËt chÊt, nhu cÇu tinh thÇn, vỊ sè lợng và chủng loại hàng hoá
càng ngày càng phong phú, đa dạng, điều đó tác động tới quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
1.1.3.2. Vai trò nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc.
Đẩy tới một bớc sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc vì mục tiêu dân giàu nớc mạnh, xã hội công bằng văn minh, đất nớc ta từng bớc tiến lên
XHCN, không thể không coi trọng bồi dỡng và sử dụng nguồn tài nguyên quý giá nhất là con ngời.
ở Việt Nam hiện đang tồn tại ít nhất 5 loại nguồn nhân lực thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá: Nguồn nhân lực con ngời, tài nguyên thiên
nhiên, cơ sở vật chất và khoa học - kỹ thuật, vị trí địa lý và nguồn lực nớc ngoài.
Các nguồn lực này có vai trò tác động không nh nhau trong toàn bộ quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc. ở đây nguồn lực con ngời lá quý nhất, quyết
định nhất. Vai trò quyết định của nguồn lực con ngời đối với qúa trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đợc thể hiện trên hai mặt:
Thứ nhất, Các nguồn lực nh vốn tài nguyên thiên nhiên không có sức mạnh tự thân. Chúng chỉ phát huy tác dụng và có ý nghĩa tích cực xã hội khi đợc kết hợp
với nguồn lực con ngời, thông qua hoạt động của con ngời.
Thứ hai, con ngêi víi trÝ t cđa m×nh - là nguồn lực không bao giờ cạn kiệt, có khả năng phục hồi và tự tái sinh. Quan điểm phát triển nguồn nhân lực đã
đợc nhiều quốc gia quan tâm và vấn đề này đang nổi lên ở khu vực Đông á. Xuất phát là những nớc nghèo, chỉ có thể rút ngắn thời kỳ công nghiệp hoá và đạt đợc
tốc độ tăng trởng cao, bền vững trong trờng hợp đầu t phát triển nhanh nguồn nhân
lực. Sự đầu t đợc hiểu ở cả ba mặt: Chăm sóc sức khoẻ, nâng cao mức sống và phát triển giáo dục, trong đó đầu t có hiệu quả nhất là đầu t giáo dục.
Vào những năm 80 quan điểm về phát triển nguồn nhân lực đã trở thành vấn đề đợc quan tâm đặc biệt ở khu vực Châu á - Thái Bình Dơng. Con ngời đợc coi là
yếu tố quan trọng nhất của sự phát triển. Không thể xem xét khía cạnh nguồn nhân lực theo quan hệ một phía mà phải nhận thấy vai trò sản xuất của nguồn nhân lùc -
vÊn ®Ị cèt lâi cđa häc thut “vèn con ngời, và vai trò tiêu dùng của nó đợc thể hiện bằng chất lợng cuộc sống. Cơ chể nối liền hai vai trò là trả công cho ngời lao
động tham gia các hoạt động kinh tế và thu nhập đó đầu t trở lại cho con ngời để nâng cao mức sống. Đặc biệt những năm 90, khi cuộc cách mạng khoa học kỹ
thuật bớc sang giai đoạn mới với bíc tiÕn phi thêng cđa c«ng nghƯ th«ng tin, viƯc áp dụng kỹ thuật tin học với những sản phẩm phần mềm tự động hoá đã liên tục
làm biến đổi quá trình sản xuất và tăng năng suất lao động. Điều này làm nảy sinh mâu thuẫn giữa thực tiễn sản xuất và sự phân công lao động hiện tại, buộc hình
thành một cơ chế mới về lao động trong sự thay đổi thang giá trị con ngời; đồng thời phải xem xét lại toàn bộ hệ thống đào tạo nhân công khi mối quan hệ chặt chẽ
giữa các khía cạnh công nghệ, xã hội và kinh tế đợc hình thành. Triết lý kinh doanh chuyển từ công nghệ là trung tâm sang con ngời là trung tâm với các u tiên
tri thức, trình độ chuyên môn và động cơ lao ®éng. Xem xÐt u tè con ngêi víi t cách là nguồn lực cơ bản của sự phát triển
kinh tế xã hội, UNESCO nêu con ngời đứng ở trung tâm của sự phát triển, là tác nhân và là mục đích của sự phát triển. Quản lý NNL x· héi - häc viƯn hµnh
chÝnh qc gia. Trong bối cảnh giao lu, mở cửa đất nớc hiện nay, chúng ta có lợi thế của n-
ớc đi sau, thấy đợc những thuận lợi, khó khăn để rút ra những bài học cho chính mình. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc, về thực chất là qúa trình thực hiện
chiến lợc phát triển con ngời. Thực ra, đây không phải là hai vấn đề song song hay tách biệt nhau mà là hai cách thể hiện của một nội dung thống nhất phát triển đất
nớc. Đi lên từ xã hội nông nghiệp lạc hậu, điểm xuất phát công nghiệp hoá, hiện đại hoá thấp, kết cấu hạ tầng yếu kém, trình độ khoa học và công nghệ lạc hậu,
khả năng về vốn còn hạn chế. Do vậy, phải biết huy động và sử dụng có hiệu quả tất cả mọi nguồn lực mà một trong những nguồn lực lớn nhất, quyết định nhất là
nguồn lực con ngời. Xuất phát từ đó nghị quyết Đại hội VIII của Đảng cũng đặt ra yêu cầu phải chăm lo phát triển ngn lùc con ngêi, ph¸t triĨn trÝ t cđa con ngêi
ViƯt Nam, thĨ hiƯn trong c¸c lÜnh vùc khoa häc công nghệ, giáo dục đào tạo thể để nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dỡng nhân tài. Lấy việc phát huy nguồn
lực con ngời làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững. Khi xác định nguồn lực con ngời là yếu tố quyết định của qúa trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc, cần xem xét nguồn lực đó trên cả hai bình diện: số lợng và chất lợng để có giả pháp xây dựng và khai thác hợp lý. Mặc dù ở nớc ta
có số lợng nguồn lao động đông, trẻ, nhng chất lợng nguồn nhân lực còn hạn chế, việc sử dụng NNL còn cha hợp lý, cha sử dụng một cách có hiệu quả. Trớc yêu
cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đang đặt ra hiện nay là Việt Nam cần tăng tr- ởng nguồn nhân lực này, tạo ra khả năng lao động mới cả về số lợng, chất lợng và
cơ cấu nhân lực, sử dụng NNL nhằm đẩy mạnh, nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nh mục tiêu Đại hội VIII đã đề ra, đồng thời theo kịp xu hớng phát
triển của khu vực và thế giới. Điều dố không có lựa chọn nào khác là phải chuẩn bị tốt hơn chiến lợc con ngời, có ý thức khai thác, sử dụng nguồn nhân lực vô tận
này.
1.2. Phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực GD - ĐT. 1.2.1. Đặc điểm nguồn nhân lực trong lĩnh vực GD - ĐT.
1.2.1.1.Là một bộ phận nguồn nhân lực có học vấn cao nhất. Nhìn chung, nguồn nhân lực GD là lực lợng lao động có trình độ khá cao và
đợc đào tạo chính quy là chủ yếu cha có trờng s phạm dân lập, t thục. Trình độ đào tạo có một phổ khá rộng:
- Trình độ THCN cho giáo viên mầm non.
- Trình độ đào tạo cao đẳng cho giáo viên THCS, tiểu học và mầm
non. -
Trình độ đào tạo đại học cho giáo viên THPT, THCS và một bộ phận giáo viên tiểu học, giáo viên mầm non.
- Trình độ sau ®¹i häc Th¹c sÜ, tiÕn sÜ, tiÕn sÜ khoa học cho giáo
viên cao đẳng, đại học, THPT, cán bộ quản lý. 11
Bộ phận nguồn nhân lực trong lĩnh vực GD từ giáo viên, giảng viên, chuyên viên, thanh tra viên cho đến cán bộ quản lý GD từ bộ, sở, cho đến phòng đều có
một trình độ học vấn khá cao so với nguồn nhân lực nói chung trong nền kinh tế n-
ớc ta. Từ đặc điểm này tạo điều kiện thuận lợi cho việc đào tạo nguồn nhân lùc qc gia cã mét chÊt lỵng tèt phơc vơ đắc lực cho phát triển kinh tế và hội nhập
quốc tế. 1.2.1.2. Kết quả hoạt động của NNL trong lĩnh vực GD - ĐT không chỉ
phụ thuộc vào bản thân nó mà còn phụ thuộc vào môi trờng xã hội. Nền hoạt động sản xuất vật chất của con ngời là sự tác động của con ngời
vào đối tợng vật chất nhằm biến đổi đối tợng ấy và tạo ra sản phẩm phục vụ cho nhu cầu của con ngời và xã hội, thì hoạt động GD - ĐT tác động vào chính con ng-
ời với t cách là chủ thể của mọi hoạt động xã hội, nhằm biến đổi chủ thể đó thành con ngời có nhân cách. Nhờ lĩnh hội đợc kinh nghiệm của xã hội ngày càng phong
phú hơn, cao hơn mà nhân cách con ngời ở thế hệ sau cao hơn thế hệ trớc, do đó sức mạnh thể chất và tinh thần của con ngời ngày càng tăng, khả năng tham gia
vào các hoạt động xã hội ngày càng lớn. Hoạt động GD - ĐT là một hoạt động xã hội đặc thù - hoạt động tái sản xuất ra nhân cách và năng lực của con ngời con
ngời là chủ thể của mọi hoạt ®éng x· héi, khi trùc tiÕp tham gia vµo sù hình thành nhân cách con ngời, giáo dục bao hàm cả quá trình tự phát lẫn tự giác, trong đó
quá trình tự giác đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách toàn diện, đào tạo con ngời, hình thành sức mạnh bản chất của con ngời để con ngời
tham gia vào các hoạt động xã hội. Điều đó cho thấy đào tạo phải gắn với giáo dục và là hình thức có tổ chức,
có mục đích, có kế hoạch, có nội dung Trong các nhà trờng, đặc biệt là giáo dục tay nghề, giáo dục chuyên nghiệp, giáo dục đại học, cao đẳng, sau đại học
Ngoài ra, đào tạo NNL còn diễn ra ở cả cơ sở sản xuất, các xí nghiệp, các doanh nghiệp. Tuy nhiên, GD - ĐT ở các cấp độ này luôn luôn gắn bó với nhau, các hoạt
động giáo dục ngoài nhà trờng: Giáo dục gia đình, giáo dục xã hội và tự giáo dục.
Kết quả hoạt động cuối cùng của NNL là đào tạo một NNL, phát triển NNL cả về số lợng, chất lợng và nhằm biến đổi NNL theo từng thời kỳ khác nhau phù
hợp với yêu cầu khách quan của nền kinh tế. Để tạo ra một NNL có trình độ chuyên môn nhất định và có một kỹ năng vững chắc thì phụ thuộc phần lớn vào
đội ngũ NNL GD - ĐT, tức là cần có những cán bộ quản lý GD chuyên sâu, có
kinh nghiệm, các thanh tra, chuyên viên vững chắc và với một đội ngũ những ngời làm công tác giảng dạy có một trình độ chuyên sâu, có kỹ năng s phạm, có
một lòng nhiệt tình cùng với các trang thiết bị cơ sở vật chất trong giáo dục mới tạo ra một kết quả NNL cao, có hiệu quả đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của sự phát triển
nền kinh tế và quá trình hội nhập nền kinh tế.
Nhng hoạt động GD - ĐT là một hoạt động đặc thù nh đã phân tích ở trên, nó đòi hỏi cần phải có một môi trờng xã hội tốt nh: Chính sách xã hội u tiên phát
triển GD - ĐT, cần có sự quan tâm các cấp, ngành có liên quan, môi trờng gia đình
kết hợpcó nh vậy mới tạo ra đợc NNL vừa có tính năng động xã hội, vừa có nhân cách hoàn chỉnh có khả năng tham gia vào ®êi sèng x· héi, thóc ®Èy x· héi
ph¸t triĨn.
1.2.1.3 ChÊt lợng NNLGD quyết định chất lợng đào tạo NNL nói chung của quốc gia.
Chất lợng NNL nói chung liên quan đến nhiều vấn đề nh: Đảm bảo dinh d- ỡng và chăm sóc sức khoẻ, giáo dục đào tạo và các mối quan hệ khác Nhng
trong đó GD - ĐT có vai trò quyết định đến đào tạo NNL có chất lợng và để đào tạo NNL cho một quốc gia vùng lãnh thổ thì đội ngũ nguồn lực trong GD - ĐT
có vai trò quyết định. Đội ngũ nhân lực này bao gồm từ cán bộ quản lí GD, nhân viên giáo dục cho đến đội ngũ cán bộ giảng dạy trong ngành giáo dục là ngời trực
tiếp kết hợp các yếu tố khác cơ sở vật chất, trang thiết bị trong ngành giáo dục đào tạo ra đội ngũ nhân lực có trình độ chuyên môn cao từ công mhân kỹ
thuật cho đến đại học và sau đại học.
ở nớc ta để có một NNL vừa đảm bảo về số lợng, chất lợng đáp ứng những yêu cầu đòi hỏi cao của sự phát triĨn kinh tÕ - x· héi, cđa sù héi nhËp kinh tÕ qc
tÕ, th× NNL nãi chung ë níc ta phải đợc đào tạo theo một quy trình nhất định dù đào tạo chính quy hay tại chức hoặc dới dạng hình thức khác,hay nói cách khác
để NNL nói chung có một trình độ chuyên môn nhất định thì phụ thuộc vào đội 13
ngũ nhân lực GD - ĐT. Chiến lợc phát triển giáo dục Việt Nam 2001 - 2010 đã định hớng cho phát triển NNL Việt Nam với mục tiêu u tiên nâng cao chất lợng
đào tạo nhân lực, đặc biệt chú trọng nhân lực khoa học - công nghệ trình độ cao, cán bộ quản lý, kinh doanh giỏi và công nhân kỹ thuật lành nghề trực tiếp góp
phần nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế .
Vì vậy, phát triển NNLGD để đảm bảo cả về số lợng nâng cao chất lợng, phù hợp cơ cấu và có chính sách đào tạo, sử dụng hợp lý là hết sức quan trọng, có
vai trò quyết định đến chất lợng NNL nói chung của đất nớc.
1.2.1.4 . Cơ cấu NNL mất cân đối NNL GD bao gồm: Cán bộ lãnh đạo quản lý từ bộ đến sở, phòng; cán bộ
quản lý cơ sở giáo dục hiệu trởng, chủ nhiệm khoa, tổ trởng bộ môn -
Các chuyên viên; - Các thanh tra viên;
- Giáo viên từ giáo viên mầm non đến phổ thông, trung học chuyên
nghiệp, dạy nghề, cao đẳng, đại học, trên đại học; -
Nhân viên kỹ thuật và nghiệp vụ: Nhân viên th viện, nhân viên phòng thí nghiệm và nhiều loại nhân viên nghiệp vụ khác;
- Cán bộ nghiên cứu làm việc tại các viện, trung tâm nghiên cứu và
các cơ sở GD - ĐT khác; Nhng NNL GD lại mất cân đối.
- Mất cân đối về số lợng: Các thành phố và nhiều tỉnh miền xuôi thừa
giáo viên, trong khi nhiều vùng sâu, vùng xa, miền núi thiếu giáo viên nghiêm trọng.
-
Mất cân đối về chất lợng: Tỉ lệ giáo viên có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ, phó giáo s, giáo s tập trung ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là chủ yếu,
các trờng đại học, cao đẳng ở các địa phơng khác thiếu cán bộ, giáo viên có
học vị, chức danh cao; -
Giáo viên mầm non đến giáo viên phổ thông ở thành phố không những đạt chuẩn mà còn trên chuẩn, trong khi ở những vùng khó khăn, giáo
viên cha đạt chuẩn chiếm tỉ lệ cao. 14
Nên vấn đề đặt ra là cần phải có chính sách dịch chuyển, bố trí NNL GD hợp lý, hoạt động đồng đều, có hiệu quả giữa các vùng, miền của đất nớc, nhằm
tránh sự chênh lệch quá xa về trình độ đội ngũ NNL hiện nay. Đồng thời hạn chế đợc đội ngũ NNL nói chung khỏi bị chênh lệch về trình độ chuyên môn, kỹ thuật,
văn hoá giữa các vùng, khu vực của đất nớc.

1.2.2. Nội dung phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực GD - §T.


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (70 trang)

×