1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Kế toán >

Đánh giá chung về những vấn đề đặt ra. 1. Đánh giá chung

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (386.32 KB, 70 trang )


thành phố hoặc làm những công việc trái nghề gây ra lãng phí về đầu t nhân lực cho ngành giáo dục.
Tình trạng các trờng địa phơng luôn luôn thiếu hụt cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên giỏi, có trình độ cao, họ thờng có xu hớng chuyển ra thành phố để có
điều kiện làm thêm cải thiện đời sống khi số giáo viên, cán bộ này học xong thạc sĩ, tiến sĩ nên dẫn đến nhiều trờng ở địa phơng đặc biệt các trờng cao đẳng, trung
cấp hẫng hụt về đội ngũ, thiếu nhân lực giỏi có chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ. Điều này còn bộc lộ rõ hơn là chúng ta vẫn cha có chính sách khuyến khích bằng
vật chất cho số nguồn nhân lực này khi họ đi học nâng cao trình độ chuyên môn nh: Học đại học, học thạc sĩ, tiến sĩ Mặt khác khi số đội ngũ này đợc đào tạo
bồi dỡng thì nhiều trờng, tỉnh vẫn không sử dụng họ theo đúng chức danh mà họ
có nên dẫn đến tình trạng chảy máu chất xám nh đã nói ở trên.
2.3. Đánh giá chung về những vấn đề đặt ra. 2.3.1. Đánh giá chung
Nhờ sự nỗ lực của ngành GD - ĐT, sự quan tâm của Đảng, nhà nớc, bộ GD ĐT trong thời gian qua đã đạt đợc những thành tựu đáng kể cả về số lợng, chất
lợng và sự phù hợp cơ cấu đội ngũ nhân lực trong GD - ĐT. Số lợng giáo viên, cán bộ giáo dục liên tục đợc tăng lên, đến nay có thêm
4.400 giáo viên mầm non, 4.000 giáo viên tiểu học, 18.400 giáo viên THCS, hơn 9.300 giáo viên THPT. Tỉ lệ giáo viên đạt và vợt trình độ chuẩn ở giáo dục mầm
non là 60; ở tiểu học là 89; ở THCS là 93; ở THPT là 97. Số lợng giáo viên đạt danh hiệu giáo viên giỏi, giảng viên giỏi, lao động giỏi, chiến sĩ thi đua các
cấp, nhà giáo nhân dân, nhà giáo u tú; đội ngũ giáo viên giỏi, cán bộ quản lý giỏi, chiến sĩ thi đua các cấp chiếm từ 20 đến 30.
Hầu hết giáo viên, cán bộ quản lý trong ngành đều có ý thức, tinh thần trách nhiệm tự giác nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ lí luận chính trị,
đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của việc đổi mới sự nghiệp GD - ĐT. Không có giáo viên có hoàn cảnh khó khăn, đặc biệt giáo viên miền núi, vïng s©u, vïng xa
vÉn tÝch cùc häc tËp n©ng cao trình độ đạt chuẩn và trên chuẩn, thậm chí giáo viên tự bỏ tiền ra để đi học nâng cao trình độ phục vụ cho giảng dạy.
ở nhiều tỉnh, thành phố, các trờng ĐH, CĐ, THCN, cán bộ chuyên viên khối quản lý giáo dục theo học các lớp quản lý giáo dục nhằm nâng cao năng lực
quản lý. Đến nay nhiều trờng đã có 100 cán bộ, giáo viên biết sử dụng máy vi
tính để phục vụ cho giảng dạy. Công tác xây dựng Đảng và phát triển Đảng trong ngành giáo dục đợc chú ý quan tâm, nhiều cán bộ, giáo viên, công nhân viên đã tự
giác phấn đấu tu dỡng để trở thành Đảng viên đặc biệt đội ngũ giáo viên, cán bộ trẻ. Đến nay, tỷ lệ Đảng viên là 22,48; ĐH và CĐ là 29,64; tỷ lệ phát triển
Đảng viên trong ngành hàng năm đều tăng so với năm trớc Tạp chí GD số 95 2004 .
Tuy nhiên, trớc những yêu cầu mới của sự phát triển giáo dục trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục có
những hạn chế, bất cập. Số lợng giáo viên còn thiếu nhiều, đặc biệt là ở các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Cơ cấu giáo viên đang mất cân đối
giữa các môn học, bậc học, các vùng, miền. Chất lợng chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý, công nhân viên giáo dục hiện còn cha đáp ứng
yêu cầu đổi mới giáo dục và phát triển kinh tế - xã hội, đa số đội ngũ giáo viên vẫn dạy theo lối cũ, nặng nề về truyền đạt lí thuyết, ít chú ý đến phát triển t duy, năng
lực sáng tạo, kĩ năng thực hành của ngời học. Mặc dù hàng năm nhà nớc đã chi hàng tỷ USD cho việc thay sách, đổi mới phơng pháp dạy học đặc biệt khối
THPT nhng kết quả còn rất khiêm tốn, cha đợc chuyển biến nhiều. Một bộ phận nhà giáo thiếu gơng mẫu trong đạo đức, lối sống, nhân cách, cha làm gơng tốt cho
học sinh, sinh viên, tình trạng chạy theo lối cơ chế thị trờng trong giảng dạy hiện nay còn khá phổ biến, họ chỉ trú trọng chạy xô kiếm tiền, ít chú ý đến nâng cao
chất lợng giờ dạy, còn một số đội ngũ nhà giáo ngại đi học nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ vì lí do này hay lí do khác nh tuổi cao, hoàn cảnh kinh tế
khó khăn . Nên dẫn đến ảnh hởng đến chất lợng đào tạo cho ngời học và hoạt động giáo dục trong toàn xã hội.
Năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục, công nhân viên cha ngang tầm với yêu cầu của sự nghiệp giáo dục, công tác quản lý giáo dục yếu kém, tình
trạng học thêm, dạy thêm tràn lan trái với quy định của bộ, chính sách nhà nớc, tệ 50
nạn bằng giả, chạy điểm cả một số bộ phận trong xã hội vẫn còn phát sinh, phổ biến, cha đợc ngăn chặn kịp thời.
Chế độ, chính sách sử dụng đội ngũ NLGD còn bất hợp lý, cha tạo đợc động lực đủ mạnh để phát huy tiềm năng sáng tạo của NNL GD trong thêi gian
qua ë níc ta. §ã chÝnh là nguyên nhân của tình trạng yếu kém của đội ngũ NNL GD - ĐT ở nớc ta.
Tình hình trên đòi hỏi phải tăng cờng xây dựng đội ngũ NNL GD - ĐT một cách toàn diện. Đây là nhiệm vụ vừa đáp ứng yêu cầu trớc mắt, vừa mang tính
chiến lợc lâu dài, nhằm thực hiện thành công chiến lợc phát triển giáo dục 2001 - 2010. Mục tiêu là xây dựng đội ngũ nhà giáo và CBQLGD đợc chuẩn hoá, đảm
bảo chất lợng, đủ về số lợng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lơng tâm, tay nghề của nhà giáo, thông qua
việc quản lý, phát triển đúng định hớng và có hiệu quả sự nghiệp giáo dục để nâng cao chất lợng đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc.

2.3.2. Nguyên nhân và những vấn đề đặt ra.


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (70 trang)

×