1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Kế toán >

Nguyên nhân và những vấn đề đặt ra.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (386.32 KB, 70 trang )


nạn bằng giả, chạy điểm cả một số bộ phận trong xã hội vẫn còn phát sinh, phổ biến, cha đợc ngăn chặn kịp thời.
Chế độ, chính sách sử dụng đội ngũ NLGD còn bất hợp lý, cha tạo đợc động lực đủ mạnh để phát huy tiềm năng sáng t¹o cđa NNL GD trong thêi gian
qua ë níc ta. Đó chính là nguyên nhân của tình trạng yếu kém của đội ngũ NNL GD - ĐT ở nớc ta.
Tình hình trên đòi hỏi phải tăng cờng xây dựng đội ngũ NNL GD - ĐT một cách toàn diện. Đây là nhiệm vụ vừa đáp ứng yêu cầu trớc mắt, vừa mang tính
chiến lợc lâu dài, nhằm thực hiện thành công chiến lợc phát triển giáo dục 2001 - 2010. Mục tiêu là xây dựng đội ngũ nhà giáo và CBQLGD đợc chuẩn hoá, đảm
bảo chất lợng, đủ về số lợng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lơng tâm, tay nghề của nhà giáo, thông qua
việc quản lý, phát triển đúng định hớng và có hiệu quả sự nghiệp giáo dục để nâng cao chất lợng đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc.

2.3.2. Nguyên nhân và những vấn đề đặt ra.


2.3.2.1. Nguyên nhân Hạn chế của NNL GD - ĐT đã phân tích ở trên do nhiều nguyên nhân, nhng
nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự yếu kém về NNL là do: Ngân sách dành cho NNL GD còn thấp.
Nh đã phân tích ở phần 2.1.3 ngân sách dành cho giáo dơc ë níc ta hiƯn nay rÊt thÊp so víi các nớc trong khu vực. Mặc dù ngân sách dành cho giáo dục liên
tục tăng từ năm 1998 đến nay nhng mức tăng đó vẫn không đáp ứng đợc yêu cầu của sự nghiệp đổi mới phát triển GD - ĐT. Việc phân bổ ngân sách vẫn còn dựa
vào mục tiêu đào tạo, mà chỉ tiêu đào tạo lại do bộ chủ quản quyết định, nh vậy, thực chất quyết định phân bổ ngân sách cuổi cùng vẫn do bộ chủ quản. Cơ chế vẫn
theo kiểu xin, cho nên nhiều trờng hợp dẫn đến việc chi cho không cần thiết dẫn đến làm giảm hiệu quả của việc đầu t vốn ngân sách của nhà nớc.
Tỉ lệ chi cho ®éi ngò NL GD hiƯn nay chđ u là chi cho tiền lơng chiếm khoảng từ 80 - 90 , còn phần chi cho đào tạo bồi dỡng NL GD rất ít. Nên một
số trờng phải trích một phân ngân quỹ tự có để chi cho đội ngũ nhân lực đi học nâng cao trình độ, tuy nhiên mức chi này còn rất nhỏ không bù đắp đợc số kinh
phí mà đội ngũ nhân lực đi học bỏ ra. Còn một số trờng việc đào tạo nâng cao trình độ đội ngũ nhân lực thì ngời học tự bỏ tiền ra để trả cho kinh phí đào tạo, do
vậy tỉ lệ đội ngũ nhân lực đạt chuẩn, đảm bảo chất lợng đáp ứng yêu cầu đòi hỏi là rất thấp.
Công tác chi cho việc nghiên cứu khoa học ở các trờng ĐH, CĐ, THCN cũng rất ít nên nhiều trờng cán bộ giảng dạy ngại làm nghiên cứu khoa học hoặc
họ làm theo tình thế bắt buộc qua loa cho hoàn thành nhiệm vụ đặt ra. Điều này cũng dần đến chất lợng giáo dục chậm đợc cải tiến, tình trạng thiếu sự gắn kết
giữa giảng dạy và nghiên cứu khoa học xảy ra phổ biến ở nhiều nơi. Một nguyên nhân nữa là cha gắn đào tạo với sử dụng, hay nói cách khác
đào tạo và sử dụng cha hình thành một cấu trúc chặt chẽ, do vậy đã dẫn đến hiện t- ợng trôi nổi chất xám. Đầu ra của đào tạo thì thừa, đầu vào của sử dụng thì thiếu,
đào tạo không ăn khớp với nhu cầu của xã hội, sử dụng nhân lực thì vẫn còn tuỳ tiện.
Quá trình giáo dục và đào tạo trong nhà trờng gần nh tách rời với thực tế chẳng hạn nh đào tạo nghề hiện nay ; chất lợng đào tạo thấp, sinh viên ra trờng
cha đáp ứng đợc những biến đổi của công nghệ. Tỷ lệ sinh viên ra trờng không tìm đợc việc làm đang có chiều hớng gia tăng, trong khi ở vùng nông thôn đặc biệt
vùng núi, vùng sâu, vùng xa lại ®ang thiÕu NNL cã tr×nh ®é . ChÝnh v× vËy, theo điều tra sơ bộ, trong vài năm gần đây, tỷ lệ sinh viên cha có việc làm khoảng 60,
trong số tìm đợc việc làm thì hơn 30 làm trái với chuyên môn đợc đào tạo. Chính sách sử dụng, sắp xếp NNL không hợp lý dẫn đến hiện tợng lãng phí
về đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục. Nh chúng ta đã biết đội ngũ nhân lực giáo dục nhìn chung đều có trình độ cao hơn hẳn so với một số lĩnh vực khác
bởi đây là một ngành xã hội đòi hỏi yêu cầu rất cao. Nhng một thực tế, số đội ngũ NNL này vẫn cha có chính sách sử dụng đúng với chức danh nghề nghiệp, với học
hàm học vị mà họ có. Trong khi bản thân ngành giáo dục, vẫn luôn đề ra chỉ tiêu 52
phấn đấu đạt chuẩn, trên chuẩn nhng khi số đội ngũ này đi học có bằng cấp cao thì lại không sử dụng họ.
Cơ chế, chính sách bố trí, điều động đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên hiện nay cũng không hợp lý dẫn đến chỗ thừa, thiếu ở nhiều vùng, miền.Hiện tợng
bộ môn này thì thiếu môn khác thì thừa trong khi biên chế lại đủ luôn luôn diễn ra ở một số nơi. Mâu thuẫn này nếu chúng ta không giải quyết kịp thời,
không có một cơ chế, chính sách phù hợp, sẽ gây ra lãng phí trong việc đào tạo nguồn nhân lực, đồng thời tạo khoảng cách chênh lệch về đội ngũ nhân lực kể cả
số lợng, chất lợng, cơ cấu giữa các vùng, miền của đất nớc. Xuất phát từ tình hình trên, những vấn đề đặt ra cho NNL GD - ĐT ở nớc ta
là: -
Giải quyết tốt, hợp lý mối quan hệ giữa đào tạo - sử dụng - việc làm. Việc đào tạo phải căn cứ vào sự biến động của cung cầu lao động trên thị tr-
ờng, sự thay đổi của quy mô GD - ĐT, tránh đào tạo ồ ạt chạy theo số lợng không tính đến chất lợng sản phẩm đầu ra, nặng về lý thuyết xa vời thực tế, dẫn đến đào
tạo ra nhng không sử dụng. Nghị quyết TW2 đã nêu : ...Xây dựng quan hệ chặt
chẽ giữa cơ quan quản lý nhà nớc về GD - ĐT với cơ quan quản lý nhân lực và việc làm. Khuyến khích thành lập các tổ chức thông tin t vấn, hớng nghiệp cho học
sinh, chọn ngành nghề và tìm việc làm sau khi tốt nghiệp . Sử dụng nhân lực, ngành lao động cho biết những biến động của nhu cầu
lao động, những thông tin về sự phân bố lao động trên địa bàn, tình hình cung - cÇu ”, “ thõa - thiÕu ” vỊ : loại lao động, trình độ, số lợng, chế độ đãi ngộ... Ngành
GD - ĐT cần cung cấp những thông tin về ngành nghề, trình độ đào tạo, học phí, học bổng, điều kiện tuyển dụng, văn bằng, chứng chỉ.... Thiếu những thông tin về
cách đào tạo thì ngời học, ngời sử dụng nhân lực không thể chọn đợc ngành nghề đào tạo cho phù hợp với nhu cầu sử dụng và thị trờng việc làm. Vì vậy cần có sự
phối hợp chặt chẽ trớc hết của ba bộ: Bộ kế hoạch và đầu t, Bộ lao động thơng binh và xã hội, bộ GD và ĐT để tạo nên bộ phận nòng cốt của hệ thống thông tin
về thị trờng lao động cho GD - ĐT, tiếp là tạo nên bộ phận nòng cốt của nhà nớc trong việc thực hiện kế hoạch hoá kết hợp với thị trờng cũng nh trong việc xã hội
hoá trên cả ba mặt: việc làm sử dụng - đào tạo. Trên cơ sở đó mới phất huy có hiệu quả đội ngũ nhân lực hiện có và nguồn nhân lực sắp tới nhằm khai thác
nguồn tài nguyên vô giá để phát triển nền kinh tế - xã hội của đất nớc.
Đối với sinh viên tốt nghiệp các trờng ĐH, CĐ s phạm, quản lý GD nhà nớc cần phải có cơ chế chinh sách sử dụng bố trí hợp lý ở các vùng, miền, tránh hiện t-
ợng đào tạo ra nhng lại không sử dụng hoặc sử dụng thông qua cơ chế thi tuyển công chức nh hiện nay.
- Cần phải có cơ chế, chính sách sử dụng, phân bổ phù hợp nh bồi dỡng chuẩn hoá đội ngũ giáo viên, giảng viên, cán bộ quản lý, công nhân viên, có chính
sách u đãi dành cho đội ngũ nhân lực ở vùng sâu, vùng xa. Việc phân bổ đội ngũ NNL phải căn cứ vào từng vùng, địa phơng, năng lực trình độ chuyên môn của
từng ngời ở từng giai đoạn cho phù hợp tránh chồng chéo, tránh tình trạng dạy chéo ban, làm công việc không đúng với chuyên môn ngành nghề đợc đào tạo gây
ảnh hởng đến chất lợng giáo dục. Nhà nớc cần phải có nguồn kinh phí chi thờng xuyên trong công tác đào tạo lại, trợ cấp kinh phí cho đội ngũ giáo viên, cán bộ,
công nhân viên ngành giáo dục khi họ đi học, chuẩn hoá bằng cấp để nhằm giúp họ đáp ứng kịp thời những đòi hỏi mới của sự nghiệp giáo dục.
- Thực hiƯn tèt x· héi ho¸ gi¸o dơc XHH GD , phối hợp GD - ĐT với quốc tế nhằm phát triển NNL.
Khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia phát triển giáo dục. Tạo cơ hội cho mọi ngời, mọi lứa tuổi, mọi trình độ đợc học thờng
xuyên, học suốt đời, tiến tới một x· héi häc tËp víi c¸c néi dung cơ thĨ:
+ Hoàn thiện cơ sở lý luận, thực tiễn, cơ chế chính sách và các giải pháp XHH GD, nhằm tạo sù nhÊt trÝ cao trong x· héi vÒ nhËn thøc và tổ chức thực hiện.
Bổ sung và hoàn thiện những văn bản quy phạm pháp luật, các chính sách vĩ mô khuyến khích mạnh mẽ các tổ chức kinh tế - xã hội, các cá nhân đầu t cho phát
triển giáo dục.
+ Cần có sự bình đẳng giữa các loại hình đào tạo. + Mở rộng các quỹ khuyến học, bảo trợ giáo dục, đổi mới chế độ học phí
của các trờng đại học, cao đẳng công lập và ngoài công lập theo hớng đảm bảo t- 54
ơng xứng với chất lợng các dịch vụ giáo dục mà nhà trờng có thể cung cấp, phù hợp với khả năng của ngời học, đồng thời miễn giảm cho các đối tợng chính sách.
- Cần có sự phối hợp GD - ĐT víi qc tÕ díi nhiỊu h×nh thøc nh: gưi häc sinh, sinh viên đi du học nớc ngoài hoặc mời các chuyên gia, giáo s giỏi về giảng
dạy tại các trờng theo kiểu liên kết để phối hợp giảng dạy, nâng cao năng lực quan hệ quốc tế của ngành giáo dục theo hớng cải tiến cơ chế và bộ máy điều hành,
quản lý quan hệ quốc tế, từ việc đào tạo và sử dụng đội ngũ nhân lực một cách hợp lý đồng thời tăng cờng nguồn lực cho giáo dục nhằm đào tạo NNL GD cả về số l-
ợng và chất lợng.
Bộ GD - ĐT cần phối hợp hợp tác quốc tế xây dựng đề án nhằm đào tạo và bồi dỡng đội ngũ nhân lực giáo dục một cách thờng xuyên trên cơ sở liên kết
các cơ sở đào tạo với nớc ngoài. Đặc biệt là đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục lãnh đạo chủ chốt từ Bộ, sở, cán bộ giảng dạy ở một số ngành quan trong thờng xuyên
đợc đi tham quan, khảo sát nớc ngoài để học tập kinh nghiệm quản lý thế giới nhằm làm cho giáo dục Việt Nam tiếp cận hoà nhập với giáo dục thế giới.
Để phát triển hình thức liên doanh, liên kết trong giáo dục cần có các chính sách khuyến khích các cơ sở trong toàn ngành liên kết với các đối tác nớc ngoài và
Việt kiều cùng đào tạo, nghiên cứu khoa học và triển khai ứng dụng công nghệ để vừa nâng cao chất lợng đào tạo vừa có thêm ngân sách phục vụ lại đào tạo và
nghiên cứu khoa học.
Chơng III: Quan điểm và một số giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực GD - ĐT ở nớc ta
3.1. Quan điểm phát triển NNL trong lĩnh vực GD - ĐT ở nớc ta. 3.1.1. Bối cảnh quốc tế và khu vực đặt ra đối với việc phát triển GD - ĐT
Nền kinh tế thế giới của thế kỷ XXI có sự thay đổi căn bản và đặt ra những yêu cầu mới. Sự phát triển nhanh chóng của cách mạng khoa học kỹ thuật, tốc độ
giao lu thông tin nhanh chóng trên thế giới hiện nay làm cho toàn bộ hệ thống tri thức của nhân loại đang trải qua một sự đảo lộn mạnh mẽ.
Sự ra đời của các công nghệ cao, sự tiến tới xã hội thông tin và nền kinh tế tri thức khẳng định một thực tế rằng, nhân loại hiện nay đang sống trong thời đại
bùng nổ thông tin. Mặt khác, sự phát triển khoa học - công nghệ cũng tạo ra phơng tiện mới giúp cho quá trình giáo dục hiệu quả hơn. Quốc gia nào biết tận dụng
những cơ hội do tiến bộ khoa học - công nghệ đem lại có thể đẩy nhanh sự phát triển giáo dục.
GD - ĐT cung cấp nguồn nhân lựuc và nhân tài cho sự phát triển khoa học và công nghệ. Sự phát triển khoa học công nghệ tác động vào toàn bộ cơ cấu hệ
thống giáo dục, cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo, cơ cấu quản lý thể chế giáo dục, đổi mới nội dung, phơng pháp dạy học, sự ra đời của các phơng tiện dạy học
tiên tiến hiện đại. Xu thế toàn cầu hoá kinh tế đòi hỏi phải có sự nhận thức và tiếp nhận sự
thách thức về phát triển nguồn nhân lực có trình ®é cao ®Ĩ thÝch øng. Ỹu tè gi¸o dơc - đào tạo sẽ là một nguồn lực chủ yếu tạo thế cạnh tranh của các nớc ở thế kỷ
XXI này. Bối cảnh quốc tế và trong nớc vừa tạo thời cơ lớn vừa đặt ra những thách
thức không nhỏ cho đội ngũ nhân lực GD - ĐT, Việt Nam - ngời có sứ mệnh đào tạo một nguồn nhân lực có trình độ cao, có khả năng thích ứng với sù biÕn ®éng
cđa nỊn kinh tÕ thÕ giíi, khu vùc và trong nớc. Xu thế toàn cầu hoá và hội nhập tạo điều kiện cho Việt Nam có thể đi tắt,
đón đầu, tranh thủ đợc các nguồn lực của thế giới. Kinh tế thị trờng tạo ra nhiều cơ hội đối với sự phát triển GD - ĐT, tạo điều kiện cho việc học tập của các tầng lớp
dân c - sức lao động là hàng hoá, chất lợng sức lao động do quá trình giáo dục và đào tạo tạo ra. Thị trờng lao động tuyển chọn NNL có chất lợng cao, sự cạnh tranh
NNL GD sẽ là nhân tố nâng cao chất lợng, hiệu quả đào tạo NNL. Đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục có điều kiện, cơ hội để nắm bắt khoa học, ứng dụng
những tri thức mới vào hoạt động chuyên môn của mình, đồng thời có điều kiện thay đổi phơng pháp dạy học, quản lý giáo dục hiện đại hơn.
Tuy nhiên, bối cảnh quốc tế và khu vực cũng tạo ra cho ngành giáo dục nói riêng và nớc ta nói chung những thách thức mới.
- Rút ngắn khoảng cách phát triển giữa Việt Nam và các nớc trong khu vực và trên thế giới, nhằm tránh đợc nguy cơ tụt hậu ngày càng xa trong điều kiện các
nớc vẫn tiếp tục phát triển là một thách thức gay gắt nhất. - Nền giáo dục Việt Nam đứng trớc nguy cơ về cơ cấu đào tạo, loại hình
từng lớp, những trang thiết bị, cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên, giảng viên, cán bộ quản lý, nhân viên trong ngành giáo dục hiện nay còn nhiều hạn chế về số lợng,
chất lợng, cơ cấu, đòi hỏi giáo dục Việt Nam phải phát triển đi trớc một bớc, đón đầu trong khí xuất phát điểm của chúng ta là nớc nông nghiệp lạc hậu, GDP bình
quân đầu ngời chỉ bằng 112 bình quân của thế giới, nhng lại phấn đấu để nâng cao trình độ tri thức, tăng cờng năng lực nội sinh, nắm bắt và vận dụng có hiệu
quả thành tựu khoa học - công nghệ mới nhất để hoàn thành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc.

3.1.2. Mục tiêu chiến lợc phát triển GD - §T.


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (70 trang)

×