Tải bản đầy đủ - 102 (trang)
Xét theo ngành kinh tế: Nhận xét về quy mơ và cơ cấu tín dụng tại SCB:

Xét theo ngành kinh tế: Nhận xét về quy mơ và cơ cấu tín dụng tại SCB:

Tải bản đầy đủ - 102trang

44

2.2.3. Xét theo ngành kinh tế:


Dư nợ tín dụng ngày càng tăng, chuyển dịch cơ cấu tín dụng từng bước phù hợp với chiến lược phát triển của ngân hàng là kinh doanh bán lẻ và chú trọng
DNVVN xem bảng 2.8 - phụ lục 1.

2.2.4. Nhận xét về quy mơ và cơ cấu tín dụng tại SCB:


Xét về quy mơ, dư nợ tín dụng của SCB trong thời gian vừa qua có mức tăng trưởng cao, dư nợ năm 2006 tăng 144 so với năm 2005, tăng 717 so với năm
2003. Và tính đến tháng 072007, dư nợ tín dụng của SCB là 13.341 tỷ đồng tăng 62 so với đầu năm. Mặc dù tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng cao nhưng SCB
ln nhằm đảm bảo được khả năng thanh khoản. Tỷ lệ tổng dư nợ cho vay không vượt quá 90 tổng số dư tiền gửi của khách hàng trong mọi thời điểm, năm 2006 tỷ
lệ này là 82 và cuối tháng 072007 tỷ lệ này là 89 của ngân hàng.
BIỂU ĐỒ 2.9. CHO VAY VÀ HUY ĐỘNG CỦA SCB
4000 8000
12000 16000
Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006 Tháng
072007
Huy động Cho vay
Nguồn: tổng hợp;báo cáo thường niên 2004, 2005, 2006 của SCB
Xét về cơ cấu tín dụng: hiện nay SCB đang thiếu sự đa dạng về đối tượng khách hàng, ngành nghề kinh tế.
Xem bảng cơ cấu tín dụng phân theo đối tượng khách hàng - bảng 2.8, SCB chỉ có bốn đối tượng khách hàng là DNNN; hợp tác xã; Công ty cổ phần, Công ty
TNHH; và DNTN, cá thể. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ được SCB chú trọng
45
chiếm trên 55 tổng dư nợ, tiếp đến là đối tượng DNTN, cá thể chiếm trên 30. Các đối tượng khác như: doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài…vẫn thiếu sự quan tâm của ngân hàng. Về ngành nghề, hiện nay SCB đã đầu tư tín dụng vào rất nhiều ngành, song
trong đó, có nhiều ngành chiếm tỷ trọng nhỏ xoay quanh mức 1-2, thậm chí có một số ngành có tỷ trọng dư nợ cho vay trên tổng dư nợ dưới 1 như: nông lâm
nghiệp, thuỷ sản, công nghiệp khai thác mỏ, sản xuất phân phối điện, khí đốt và nước, tài chính tín dụng. Thêm vào đó, SCB có sự mất cân đối trong cơ cấu tín
dụng, dư nợ cho vay tập trung ở một, hai ngành nghề, thời hạn cấp tín dụng: ƒ Về ngành nghề, trên 70 dư nợ tín dụng của ngân hàng hiện nay tập
trung vào hoạt động phục vụ cá nhân và cộng đồng và có xu hướng ngày càng gia tăng. Các ngành còn lại chiếm tỷ trọng rất nhỏ. Điều này cho thấy còn rất nhiều
ngành có hiệu quả kinh tế cao như: giao thơng vận tải, cơng nghiệp khai khống, chế biến nông sản thực phẩm, thuỷ - hải sản xuất khẩu, năng lượng dầu khí, du lịch,
các ngành cơng nghiệp trọng điểm…đang bị ngân hàng bỏ ngỏ, chưa được quan tâm đúng mức. Với cơ cấu ngành nghề cho vay như vậy, rõ ràng chưa mang lại hiệu quả
cao nhất cho hoạt động tín dụng của ngân hàng. Tập trung dư nợ vào một ngành trong khi hệ thống thông tin cần để thẩm định các khoản vay thuộc ngành này
thường khơng đầy đủ, khó kiểm tra được tính chính xác. Hơn nữa, với điều kiện quản lý khách hàng và hệ thống chấm điểm xếp hạng khách hàng của SCB hiện nay
chưa thật sự hiệu quả nên rủi ro tiềm ẩn là rất cao. ƒ Về thời hạn cấp tín dụng, dư nợ của ngân hàng tập trung phần lớn vào tín
dụng ngắn hạn. Dư nợ tín dụng trung dài hạn chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng dư nợ. Việc tập trung dư nợ vào loại hình tín dụng ngắn hạn tuy rằng phù hợp với cơ
cấu vốn huy động của Ngân hàng, có rủi ro thấp hơn tín dụng trung dài hạn, song việc này ảnh hưởng đến việc duy trì dư nợ và sự bền vững trong thu nhập của ngân
hàng.
46
Theo xu hướng hiện nay, các ngân hàng đang nỗ lực gia tăng các khoản vay trung dài hạn có tính chất ổn định, đặc biệt tập trung vào cho vay tiêu dùng, bất
động sản đối với cá nhân xem bảng 2.9 - phụ lục 1. Đơn cử ACB, trước đây chỉ cho vay bất động sản với khoảng 10 tổng dư nợ đối với các dự án căn hộ chung
cư có liên kết với các cơng ty địa ốc, vì ngại rủi ro khi khách hàng thế chấp chủ yếu là quyền phát sinh từ hợp đồng mua căn hộ chứ chưa có giấy chủ quyền hợp lệ. Tuy
nhiên, sau một thời gian triển khai, đối tượng khách hàng ở chương trình này là khách hàng tiềm năng và có khả năng trả nợ tốt. Vì vậy trong năm 2007, ACB quyết
định đẩy mạnh cho vay chương trình này lên 20-25 tổng dư nợ đối với hình thức cho vay mua nhà liên kết, trong đó ACB lựa chọn các dự án đáng tin cậy của các
Cơng ty bất động sản có uy tín. Tại SCB, tỷ lệ sử dụng nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn bằng 0
theo quy định là không quá 40nguồn vốn ngắn hạn. Tuy nhiên, thực tế tỷ lệ cho vay trung dài hạn đối với hoạt động cho vay tiêu dùng vẫn chưa thật sự cạnh tranh
với các ngân hàng khác thể hiện ở số lượng và đặc điểm sản phẩm chưa có nhiều nổi bật.
Như vậy, nhìn chung hoạt động tín dụng tại SCB đang có sự tăng trưởng khá cao, đem lại nguồn thu chính và đáng kể cho ngân hàng trong thời gian qua. Tuy
nhiên, nguồn thu này chưa thật sự bền vững do phần lớn dư nợ của SCB là ngắn hạn, đồng thời SCB cũng chưa đa dạng hóa đối tượng khách hàng, các ngành nghề
kinh tế cho vay. Điều này cho thấy hoạt động tín dụng tại SCB đang tiềm ẩn nhiều rủi ro, đòi hỏi phải được quản lý chặt chẽ, nhất là về chất lượng các khoản cấp tín
dụng.
2.3. ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI NHTMCP SÀI GỊN: 2.3.1. Thực trạng chất lượng tín dụng tại SCB xét về mặt định lượng:

2.3.1.1. Nợ quá hạn tại SCB:


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Xét theo ngành kinh tế: Nhận xét về quy mơ và cơ cấu tín dụng tại SCB:

Tải bản đầy đủ ngay(102 tr)

×