Tải bản đầy đủ - 102 (trang)
Nợ quá hạn tại SCB:

Nợ quá hạn tại SCB:

Tải bản đầy đủ - 102trang

46
Theo xu hướng hiện nay, các ngân hàng đang nỗ lực gia tăng các khoản vay trung dài hạn có tính chất ổn định, đặc biệt tập trung vào cho vay tiêu dùng, bất
động sản đối với cá nhân xem bảng 2.9 - phụ lục 1. Đơn cử ACB, trước đây chỉ cho vay bất động sản với khoảng 10 tổng dư nợ đối với các dự án căn hộ chung
cư có liên kết với các cơng ty địa ốc, vì ngại rủi ro khi khách hàng thế chấp chủ yếu là quyền phát sinh từ hợp đồng mua căn hộ chứ chưa có giấy chủ quyền hợp lệ. Tuy
nhiên, sau một thời gian triển khai, đối tượng khách hàng ở chương trình này là khách hàng tiềm năng và có khả năng trả nợ tốt. Vì vậy trong năm 2007, ACB quyết
định đẩy mạnh cho vay chương trình này lên 20-25 tổng dư nợ đối với hình thức cho vay mua nhà liên kết, trong đó ACB lựa chọn các dự án đáng tin cậy của các
Cơng ty bất động sản có uy tín. Tại SCB, tỷ lệ sử dụng nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn bằng 0
theo quy định là không quá 40nguồn vốn ngắn hạn. Tuy nhiên, thực tế tỷ lệ cho vay trung dài hạn đối với hoạt động cho vay tiêu dùng vẫn chưa thật sự cạnh tranh
với các ngân hàng khác thể hiện ở số lượng và đặc điểm sản phẩm chưa có nhiều nổi bật.
Như vậy, nhìn chung hoạt động tín dụng tại SCB đang có sự tăng trưởng khá cao, đem lại nguồn thu chính và đáng kể cho ngân hàng trong thời gian qua. Tuy
nhiên, nguồn thu này chưa thật sự bền vững do phần lớn dư nợ của SCB là ngắn hạn, đồng thời SCB cũng chưa đa dạng hóa đối tượng khách hàng, các ngành nghề
kinh tế cho vay. Điều này cho thấy hoạt động tín dụng tại SCB đang tiềm ẩn nhiều rủi ro, đòi hỏi phải được quản lý chặt chẽ, nhất là về chất lượng các khoản cấp tín
dụng.
2.3. ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI NHTMCP SÀI GỊN: 2.3.1. Thực trạng chất lượng tín dụng tại SCB xét về mặt định lượng:

2.3.1.1. Nợ quá hạn tại SCB:


47
Như đã phân tích ở trên, dư nợ tín dụng của SCB đã tăng trưởng với một tốc độ khá nhanh, năm 2006 so với năm 2003 tăng hơn 700. Tuy nhiên đi đôi với sự
tăng trưởng này, cần xem xét về chất lượng của các khoản cho vay. Với SCB, nợ quá hạn từ năm 2003 đến tháng 072007 được thể hiện qua bảng 2.10.
BẢNG 2.10: CƠ CẤU NỢ QUÁ HẠN CỦA SCB QUA CÁC NĂM
ĐVT: tỷ đồng
Chỉ tiêu Năm
2003 Năm
2004 Năm
2005 Năm
2006 Tháng
072007
Tổng dư nợ 1.004 1.813
3.357 8.203
13.341 Nợ quá hạn 0,5
40 94
73 68
Nợ xấu 39 69
56 Tỷ trọng nợ quá
hạn Tổng dư nợ 1,16
2,22 2,8
0,89 0,51
Tỷ trọng nợ xấu Tổng dư nợ
1,17 0,85 0,42
Nguồn: tổng hợp, báo cáo tài chính năm 2004, 2005, 2006 của SCB
Qua bảng số liệu này, ta có thể thấy rằng nợ quá hạn của SCB đối nghịch với tốc độ tăng trưởng tín dụng.
Năm 2003 là năm đầu tiên của sự cải tổ, tên gọi Ngân hàng TMCP Sài Gòn lần đầu tiên xuất hiện vào tháng 42003 thay thế cho tên cũ Quế Đô, với số lỗ lũy kế
hơn 23 tỷ đồng. Năm này, con số tuyệt đối của nợ quá hạn là 517 triệu đồng, chỉ chiếm 1,16 tổng dư nợ.
Bước sang năm 2004, năm thứ hai của giai đoạn cải tổ, nợ quá hạn đã tăng lên 40 tỷ đồng, so với sự tăng lên của tổng dư nợ thì con số này là khá cao. Tổng dư nợ
tăng là 81, trong khi đó, nợ quá hạn tăng trên 7900, tức tăng hơn 79 lần. Tuy nhiên, do đây là giai đoạn đầu của q trình chuyển đổi nên khơng thể tránh được
những khó khăn. Mặc dù tỷ lệ nợ quá hạn tăng cao so với năm trước đó nhưng vẫn
48
trong giới hạn cho phép của NHNN tỷ lệ nợ quá hạn trong tổng dư nợ phải nhỏ hơn 5.
Sang năm 2005, mặc dù tỷ lệ nợ quá hạn so với tổng dư nợ vẫn còn cao thậm chí còn tăng so với năm 2004 nhưng tốc độ tăng đã bắt đầu giảm xuống. Nếu năm
2004, tỷ lệ nợ quá hạn tăng 79 lần so với năm 2003, thì sang năm 2005 tỷ lệ nợ quá hạn chỉ tăng 1,35 lần so với năm 2004, trong khi tỷ lệ tăng của tổng dư nợ không
thay đổi nhiều. Đây là dấu hiệu cho thấy, SCB đã bắt đầu quan tâm hơn về chất lượng của hoạt động cấp tín dụng.
Kể từ năm 2006 đến nay, tỷ lệ nợ quá hạn đã giảm đáng kể so với trước cả số tuyệt đối lẫn số tương đối. Năm 2006, nợ quá hạn là 73 tỷ đồng tương đương
0,89 tổng dư nợ, và đến tháng 072007 nợ quá hạn là 68 tỷ đồng tương đương 0,51 trong tổng dư nợ.
Như vậy, kể từ năm 2006 đến nay tỷ lệ nợ quá hạn đã giảm xuống dưới mức 2 so với tổng dư nợ. Đây là tỷ lệ mà HĐQT và Ban điều hành SCB đưa ra nhằm
nâng cao hơn nữa chất lượng tín dụng, giảm thiểu tối đa rủi ro, đồng thời bảo đảm thực hiện đúng quy định của Ngân hàng Nhà nước tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu so với
tổng dư nợ không được vượt quá 5. Bên cạnh đó, so với mặt bằng chung trong khối các NHTMCP, tỷ lệ nợ quá
hạn của SCB là khá thấp, chỉ cao hơn 03 ngân hàng là Ngân hàng Á Châu 0.31, Ngân hàng Gia Định 0.32, Ngân hàng Nam Việt 0.38. Điều này một lần nữa
khẳng định chất lượng tín dụng tại SCB đang được cải thiện.
49
BẢNG 2.11: NỢ QUÁ HẠN CỦA MỘT SỐ NHTMCP TÍNH ĐẾN THÁNG 082007
ĐVT: tỷ đồng
STT NGÂN HÀNG
Tổng dư nợ
Nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn
1 NH TMCP Phương Nam
4.568 224
4.90 2
NH TMCP An Bình 3.360
152.84 4.55
3 NH TMCP Phương Đơng
5.364 140 2.61
4 NH TMCP Nam Á
2.065 48
2.33 5
NH TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam
13.373 152 1.14
6 NH TMCP Việt Á
4.352 37
0.86 7 NH
TMCP Đơng Á
11.987 81
0.67 8
NH TMCP Sài Gòn Công Thương
6.144 40 0.65
9 NH TMCP Phát Triển
Nhà Tp.HCM 3.450
22 0.65
10 NH TMCP Sài Gòng Thương Tín
21.897 96 0.44
11 NH TMCP Sài Gòn 14.440
62 0.43
12 NH TMCP Nam Việt 2.256 8.5 0.38
13 NH TMCP Gia Định 801 3 0.32
14 NH TMCP Á Châu 24.101
76 0.31
Nguồn: tổng hợp, báo cáo cạnh tranh của Phòng Quản lý Rủi ro thị trường SCB

2.3.1.2. Thời gian giải quyết hồ sơ tín dụng của SCB:


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Nợ quá hạn tại SCB:

Tải bản đầy đủ ngay(102 tr)

×