Tải bản đầy đủ - 62 (trang)
Khái niệm vốn đầu tư.

Khái niệm vốn đầu tư.

Tải bản đầy đủ - 62trang

Chương I. Vai trò của vốn đầu tư trong phát triển kinh tế ở tỉnh Hà Tây.


I. Vốn đầu tư và phân loại vốn đầu tư.


1. Khái niệm vốn đầu tư.


Vốn đầu tư sản xuất là toàn bộ các khoản chi phí nhằm duy trì hoặc gia tăng mức vốn sản xuất. Vốn đầu tư sản xuất được chia thành vốn đầu tư
cơ bản và vốn đầu tư vào tài sản lưu động. Đến lượt mình, vốn đầu tư vào tài sản cố định lại được chia thành vốn đầu tư cơ bản và vốn đầu tư sửa chữa
lớn. Vốn đầu tư cơ bản làm gia tăng thực tế tài sản cố định, đảm bảo bù đắp số tài sản cố định bị hao mòn và tăng thêm phần xây lắp dở dang. Còn vốn
sửa chữa lớn khơng làm tăng khối lượng thực tế của tài sản, do đó nó khơng có trong thành phần của vốn đầu tư cơ bản. Nhưng vai trò kinh tế của vốn
sửa chữa lớn tài sản cố định cũng như vai trò kinh tế của vốn đầu tư cơ bản là nhằm đảm bảo thay thế tài sản bị hư hỏng.
Như vậy hoạt động đầu tư cho sản xuất là việc sử dụng vốn đầu tư để phục hồi năng lực sản xuất và tạo thêm năng lực sản xuất mới, nói một cách
khác, đó là q trình thực hiện tái sản xuất các loại hình tài sản sản xuất. Hoạt động đầu tư là hết sức cần thiết xuất phát từ 3 lý do.
Thứ nhất là, do đặc điểm của việc sử dụng tài sản cố định tham gia nhiều lần vào quá trình sản xuất, giá trị bị giảm dần và chuyển dần từng
phần vào trong giá trị sản phẩm. Trái lại đối với tài sản lưu động lại tham gia một lần vào q trình sản xuất và chuyển tồn bộ giá trị vào trong giá trị sản
phẩm. Vì vậy, phải tiến hành đầu tư đề bù đắp giá trị tài sản cố định bị hao mòn và duy trì dự trữ nguyên vật liệu cho quá trình sản xuất tiếp theo. Nói
cách khác, đầu tư nhằm thực hiện tái sản xuất giản đơn tài sản sản xuất.
Sinh viªn thùc hiƯn: Ngun ChÝ Cêng Líp: Kinh tÕ Ph¸t triĨn 46
2
Thứ hai là, nhu cầu quy mô sản xuất xã hội ngày càng mở rộng đòi hỏi phải tiến hành đầu tư nhằm tăng thêm tài sản cố định mới và tăng thêm
dự trữ tài sản lưu động. Tức là, thực hiện tái sản xuất mở rộng tài sản sản xuất.
Thứ ba là, trong thời đại của tiến bộ công nghệ diễn ra rất mạnh mẽ, nhiều máy móc, thiết bị… nhanh chóng bị rơi vào trạng thái lạc hậu cơng
nghệ. Do đó phải tiến hành đầu tư mới, nhằm thay thế các tài sản sản xuất đã bị hao mòn vơ hình.
Tái sản xuất tài sản cố định được xem là một hoạt động hết sức quan trọng, có tính chất lâu dài và có mối quan hệ ổn định, ảnh hưởng đến tất cả
các ngành, các khâu và các yếu tố trong nền kinh tế. Tái sản xuất tài sản cố định và năng lực sản xuất mới, bao gồm 3 giai đoạn của một q trình đầu tư
thơng nhất: Giai đoạn một – hình thành các nguồn, khối lượng và cơ cầu vốn đầu tư cơ bản; Giai đoạn hai – giai đoạn chính “chín muồi” của vốn đầu tư
cơ bản và biến vốn đó thành việc đưa tài sản cố định và năng lực sản xuất mới vào hoạt động; Giai đoạn ba – hoạt động của tài sản cố định và năng lực
sản xuất mới trong thời hạn phục vụ của chúng. Hoạt động đầu tư thường được tiến hành dưới hai hình thức đầu tư
trực tiếp và đầu tư gián tiếp. Đầu tư trực tiếp là hoạt động đầu tư mà người có vốn tham gia trực
tiếp vào quá trình hoạt động và quản lý đầu tư, họ biết được mục đích đầu tư và phương hướng hoạt động của các loại vốn mà họ bỏ ra. Hoạt động đầu tư
này có thể được thực hiện dưới các dạng: hợp đồng, liên doanh, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn.
Đầu tư gián tiếp là hình thức bỏ vốn vào hoạt động kinh tế nhằm đem lại hiệu quả cho bản thân người có vốn cũng như cho xã hội, nhưng người có
vốn không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư. Đầu tư gián tiếp
Sinh viªn thùc hiƯn: Ngun ChÝ Cêng Líp: Kinh tÕ Ph¸t triĨn 46
3
thường được thực hiện dưới dạng: cổ phiếu, tín phiếu,… Hình thức đầu tư này thường ít gặp rủi ro hơn so với đầu tư trực tiếp.
2. Phân loại vốn đầu tư. 2.1. Vốn đầu tư trong nước.

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Khái niệm vốn đầu tư.

Tải bản đầy đủ ngay(62 tr)

×