Tải bản đầy đủ - 69 (trang)
Khái niệm vận tải hàng không Các yếu tố nội bộ

Khái niệm vận tải hàng không Các yếu tố nội bộ

Tải bản đầy đủ - 69trang

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ NGÀNH HÀNG KHÔNG THẾ GIỚI
VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH 1.1 Tổng quan về ngành hàng không thế giới

1.1.1 Khái niệm vận tải hàng không


Vận tải hàng không nói theo nghóa rộng là sự tập hợp các yếu tố kinh tế- kỹ thuật, nhằm khai thác việc chuyên chở bằng máy bay một cách có hiệu quả.
Còn theo nghóa hẹp thì vận tải hàng không là sự di chuyển của máy bay trong không trung, hay cụ thể hơn là hình thức vận chuyển hành khách, hàng hoá, hành
lý, bưu kiện từ một đòa điểm này đến một đòa điểm khác bằng máy bay. Vận tải hàng không là một nghành vận tải còn rất trẻ so với các loại hình
vận tải khác. Nếu như vận tải đường biển ra đời và phát triển từ thế kỷ thứ V trước công nguyên thì vận tải hàng không mới chỉ phát triển từ những năm đầu
của thế kỷ XX. Tuy mới ra đời, nhưng vận tải hàng không đã phát triển một cách hết sức nhanh chóng do sự tiến bộ vượt bậc của khoa học, công nghệ và do nhu
cầu ngày càng tăng về tốc độ cao của nền văn minh nhân loại. Vận tải hàng không khi mới ra đời chỉ phục vụ nhu cầu quân sự, nhưng
cho đến nay, sự phát triển của vận tải hàng không đã gắn liền với nhu cầu vận chuyển hành khách, hàng hoá và nó đã đã trở thành một ngành có vò trí rất quan
trọng đối với nền kinh tế thế giới nói chung và đối với hoạt động thương mại quốc tế nói riêng. Vận tải hàng không đóng vai trò quan trọng trong việc thiết
lập và mở mang nhiều vùng kinh tế khác nhau cũng như trong việc tạo bước phát triển chung cho nền kinh tế thế giới. Bản thân nó cũng là một ngành công nghiệp
lớn, không ngừng phát triển.

1.1.2 Đặc trưng của vận tải hàng không


Vận tải hàng không có những nét đặc thù so với những ngành vận tải khác như sau:
Một là, tốc độ vận tải hàng không cao, thời gian vận tải ngắn. Trong các
phương tiện vận tải công cộng, vận tải hàng không là phương tiện nhanh nhất. Tốc độ đường dài của các máy bay vận tải thương mại phản lực hiện nay thường
có giá trò lớn hơn nhiều lần so với tốc độ của các phương tiện vận tải khác.
Hai là, vận tải hàng không thế giới mang tính quốc tế cao. Do đặc điểm
tốc độ cao của vận tải hàng không nên các quy đònh thủ tục, chứng từ, ngôn ngữ có liên quan đến hoạt động hàng không ở những nước khác nhau thường tương tự
nhau và thống nhất trên phạm vi toàn cầu. Thực tế các nước có ngành hàng không đều thừa nhận hay áp dụng các quy tắc, công ước quốc tế và những quy
đònh của Hiệp hội Vận tải hàng không quốc tế IATA liên quan đến hoạt động hàng không dân dụng. Nhờ vào những quy tắc này, các chuyến bay thương mại
giữa các nước trên thế giới được điều tiết và sự hình thành hệ thống điều tiết đối với vận tải hàng không vượt qua khuôn khổ từng quốc gia để hình thành hệ
thống điều tiết song phương và đa phương.
Ba là, tiện nghi của vận tải hàng không vượt trội so với các loại hình vận
tải khác. Việc áp dụng những thành tựu khoa học tiên tiến tạo nên những sản phẩm dòch vụ đem lại nhiều tiện nghi cho hành khách trước, trong khi và sau khi
bay. Thêm vào đó nhu cầu đi lại nhanh bằng phương tiện vận tải hàng không ngày càng tăng, đặc biệt trong tầng lớp những người có thu nhập cao trong xã
hội. Đối với nhóm người này dòch vụ có tiện nghi cao là một trong những tiêu chuẩn quan trọng hàng đầu.
Bốn là, vận tải hàng không là một ngành kinh doanh tổng hợp. Vận tải
hàng không là một ngành đòi hỏi đầu tư rất lớn như máy bay, sân bay, kiểm soát không lưu và hàng loạt các dòch vụ hỗ trợ khác, do đó thời gian thu hồi vốn
thường rất dài và lợi nhuận trực tiếp từ vận tải hàng không thường thấp, thậm chí có khi lỗ. Các hãng hàng không quốc tế không mong đợi lợi nhuận cao trực tiếp
từ việc chuyên chở hành khách cũng như hàng hoá mà họ thu lợi nhuận từ nhiều
nguồn kinh doanh khác nhau như dòch vụ khách sạn, du lòch, dòch vụ mặt đất, kho hàng.
1.1.3 Đánh giá về nền công nghiệp hàng không thế giới và bài học kinh nghiệm
1.1.3.1 Đánh giá nền công nghiệp hàng không thế giới giai đoạn 1994-
2004 Giai đoạn từ năm 1994 đến 1999 ngành vận tải hàng không phát triển rất
tốt cả về số lượng hành khách cũng như lợi nhuận ngoại trừ năm 1998 hàng không thế giới suy giảm do khủng hoảng tài chính trong khu vực diễn ra năm
1997 vì các nguyên nhân như: nền kinh tế thế giới phát triển mạnh đặc biệt là nền kinh tế Mỹ tạo nên bùng nổ về du lòch, đặc biệt là các tour du lòch dài ngày
làm tăng số lượng người có nhu cầu đi lại bằng máy bay; tình hình khủng bố chưa diễn ra khốc liệt, tại nạn hàng không xảy ra ít, thế giới không xảy ra các đại
dòch, chiến tranh xung đột khu vực; việc đầu tư cơ sở hạ tầng cho vận tải hàng không tăng mạnh sân bay, dòch vụ không lưu dẫn đường.
Biểu đồ1: Thống kê vận tải hàng không thế giới 1994-2004 Đv: 1000 lượt
200000 400000
600000 800000
1000000 1200000
1400000 1600000
1800000
Hành khách 1123000 1304000 1391000 1457000 1471000 1562000 1656000 1623000 1675000 1566550 1644878 1994
1995 1996
1997 1998
1999 2000
2001 2002
2003 2004
Nguồn: Tạp chí thông tin hàng không số 03-2004
Giai đọan 2000-2005 là giai đoạn nhiều biến cố xảy ra đối với ngành vận
tải hàng không. Năm 2000 mặc dù lượng hành khách vận chuyển có tăng nhưng lợi nhuận lại giảm và trong giai đoạn năm 2001 đến 2003 nhiều hãng hàng
không làm ăn thua lỗ. Đây là thời kỳ ảm đạm trong hoạt động vận tải hàng không. Năm 2004 số lượng hành khách có gia tăng do phục hồi nền kinh tế thế
giới khiến cho doanh thu và lợi nhuận của các hãng hàng không khả quan hơn. Nhưng lợi nhuận cũng không bằng các năm của giai đoạn 1994-1999. Thực trạng
này trước hết là do khủng bố tại Mỹ bằng các phương tiện vận tải hàng không Năm 2001. Tiếp sau đó là đại dòch SAR diễn ra trên diện rộng trên thế giới,
cuộc chiến tranh Irag và thiên tai diễn ra gây hậu quả nghiêm trọng khiến nền kinh tế thế giới bò suy giảm và ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động vận tải
hàng không.
-50000 50000
100000 150000
200000 250000
300000 350000
400000
Doanh thu 244700 267000 282500 291000 295500 305500 328500 307500 312500 315625 339297 Chi phí
237000 253500 270200 274700 279600 293200 317800 319300 319800 321399 334255 Lợi nhuận
57700 13500
12300 16300
15900 12900
10700 -11800
-7300 -5774
5042 1994
1995 1996
1997 1998
1999 2000
2001 2002
2003 2004
Biều đồ 2: Thống kê doanh thu - chi phi - lợi nhuận của vận tải hàng không quốc tế giai đoạn 1994-2004
Đv: Triệu USD
Nguồn: Tạp thí thông tin hàng không số 03-2004
1.1.3.2 Bài học
kinh nghiệm của các hãng hàng không lớn Trong những năm trở lại đây, vận tải hàng không rơi vào thời kỳ khủng
hoảng, nhiềøu hãng hàng không thua lỗ kéo dài trong nhiều năm và buộc phải thu
hẹp quy mô hoạt động, sa thải nhân viên, phá sản, giải thể hoặc sát nhập với các hãng hàng không lớn khác. Bên cạnh đó có những hãng hàng không lớn vẫn duy
trì tốt hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Những thành công của những hãng này có thể đúc kết thành những bài học chủ yếu sau:
Một là, bài học về chính sách con người: đây là một yếu tố được các hãng
này hết sức coi trọng. Theo quan điểm của các hãng này, các nhân viên của họ phải thể hiện được tính tích cực của mình đối với hoạt động của hãng. Mức độ
thay đổi nhân viên được giảm đến mức thấp nhất. Các hãng này xây dựng môi trường làm việc rất tốt. Không khí làm việc vui vẻ được xem là một nét văn hóa
mà các hãng này tạo nên sự khác biệt. Mỗi một nhân viên đều phải tạo được cho mình một tính cách hài hước và chuyển sự hài hước đó vào trong môi trường làm
việc chung. Các nhân viên có thể pha trò hoặc thậm chí tham gia các trò chơi với hành khách trên các chuyến bay điều đó tạo nên sự thân thiện giữa khách hàng
với hãng. Việc xây dựng được đội ngũ nhân sự hợp lý giúp giảm rất nhiều chi phí, trong thực tế nó là một gánh nặng lớn đối với những hãng hàng không thất
bại.
Hai là, bài học về chính sách giá vé thấp: các hãng hàng không này cam
kết áp dụng mức giá vé thấp nhất và có cấu trúc vé đơn giản nhất. Hiện nay đa số khách hàng của các hãng hàng không này không sử dụng vé in và mua vé trực
tiếp thông qua hình thức vé điện tử trên mạng Internet, không phải thông qua hệ thống đại lý hoặc nhà phân phối. Sử dụng nhiều hình thức khuyến mãi về giá vé
cho những khách hàng thường xuyên. Việc sử dụng vé điện tử đã giảm một phần chi phí đáng kể cho các hãng này so với việc dùng vé in.
Ba là, bài học về chính sách khách hàng: luôn đảm bảo cho hành khách
những dòch vụ tốt nhất có thể ở trước, trong và sau khi bay. Thậm chí ngay những hãng có các hãng con hoạt động theo mô hình chi phí thấp thì những hãng hàng
không con này cũng đảm bảo cho hành khách những dòch vụ tối thiểu đáp ứng
nhu cầu của hành khách đi tuyến ngắn, không nối chuyến và đi lại trên các tuyến đường có tần suất bay cao. Hơn nữa các hãng này có tần suất khai thác cao đáp
ứng yêu cầu đa dạng đi lại của hành khách xét về mặt thời gian đi lại. Đối với việc thực hiện thủ tục trước khi bay, các hãng này đã áp dụng các kỹ thuật tiên
tiến để tạo thuận lợi cho hành khách và giảm thủ tục tại quầy. Các hãng này còn sử dụng dòch vụ mới cấp thẻ lên máy bay cho hành khách thông qua mạng cho
phép hành khách đi từ nhà ra thẳng máy bay mà không phải qua quầy thủ tục. Các máy bay của các hãng này được nâng cấp về chỗ ngồi, bố trí lại hàng ghế,
phương tiện giải trí, thông tin liên lạc, thái độ phục vụ của tiếp viên, tất cả tạo cảm giác thoải mái cho hành khách trong khi bay.
Bốn là, bài học về chính sách khai thác: ngoài việc thực hiện các chuyến
bay đến các sân bay trục, các hãng này còn tận dụng khai thác đến các sân bay loại 2 có giá rẻ hơn so với sân bay trục để giảm chi phí. Các hãng này còn chọn
những sân bay có mật độ khai thác không cao để tránh tắc nghẽn không lưu để tiết kiệm thời gian và tiền bạc làm tăng vòng quay máy bay. Đối với máy bay,
các hãng này đã có nhiều giải pháp kỹ thuật để tiết kiệm nhiên liệu, cố gắng tạo sự đồng nhất trong đội máy bay để giảm chí phi bảo trì, bảo dưỡng, huấn luyện
và khai thác. Mặt khác thay vì hoạt động theo kiểu trục nan-hoa của các hãng truyền thống, đường bay của các hãng này tạo nên một mạng giống như mạng
nhện, trên đó các chuyến bay phục vụ giữa các cặp điểm tạo sự thuận lợi cho hành khách và máy bay.
Năm là, bài học chính sách marketing: ngoài việc phục vụ phân khúc thò
trường truyền thống gồm những hành khách có thu nhập cao, các doanh nhân hay các quan chức đi công tác, các hãng này còn thành lập các hãng con hoạt động
theo mô hình chi phí thấp không chỉ nhằm vào tầng lớp bình dân mà còn tạo nên một tiêu chuẩn dòch vụ đáp ứng yêu cầu của tầng lớp trên để phát triển khách
hàng.

1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngành hàng không


Trước tình hình họat động nhiều khó khăn và cạnh tranh gay gắt như hiện nay, các hãng Hàng không cần không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh để tạo
nên lợi thế so với các đối thủ cạnh tranh. Có nhiều yếu tố tạo nên năng lực cạnh tranh của một hãng Hàng không. Cụ thể các yếu tố đó là:

1.2.1 Các yếu tố nội bộ


Cần thiết phải phân tích các yếu tố nội bộ của một hãng Hàng không để rút ra những điểm mạnh, điểm yếu, từ đó xây dựng các giải pháp nhằm phát huy
tối đa thế mạnh và khắc phục những hạn chế còn tồn tại. Các yếu tố nội bộ chủ yếu của một hãng Hàng không như sau:
Một là marketing: Marketing được mô tả như một quá trình xác đònh, dự báo, thiết lập và thỏa mãn các nhu cầu mong muốn của người tiêu dùng đối với
sản phẩm hay dòch vụ. Khi đánh giá hoạt động marketing của một hãng hàng không, thông thường người ta thường đánh giá các mặt sau: mạng đường bay, hệ
thống bán và phân phối vé máy bay; thò phần, hoạt động nghiên cứu thò trường, chính sách giá cả, các liên minh của hãng.
Hai là quản trò: Quản trò có vai trò quan trọng đối với một hãng hàng không. Khi đánh giá hoạt động quản trò của một hãng hàng không, thông thường
người ta thừơng đánh giá các mặt như: mục tiêu và chiến lược của hãng hàng không, cơ cấu tổ chức bộ máy của hãng, các hoạt động về quản trò chất lượng
của hãng … Ba là sản xuất: Sản xuất là hoạt động của doanh nghiệp gắn liền với việc
tạo ra sản phẩm. Đây là một trong những hình thức hoạt động chính yếu của doanh nghiệp và vì vậy có ảnh hưởng mạnh mẽ đến khả năng đạt tới thành công
của doanh nghiệp nói chung và của các hoạt động khác. Khi đánh giá hoạt động sản xuất của một hãng hàng không, thông thường người ta thường đánh giá các
mặt như: đội máy bay; khả năng bảo dưỡng bảo trì của hãng, các hoạt động liên
quan đến an toàn bay, chất lượng các sản phẩm và dòch vụ của hãng phục vụ hành khách trước, trong và sau khi bay ….
Bốn là tài chính – kế toán: Điều kiện tài chính thường được xem là phương pháp đánh giá vò trí tốt nhất và là điều kiện thu hút nhất đối với các nhà
đầu tư. Để xây dựng các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của hãng hàng không thì cần phải xác đònh những điểm mạnh và điểm yếu về tài chính của tổ
chức. Khi đánh giá hoạt động tài chính của một hãng hàng không, thông thường người ta thừơng đánh giá các mặt như: số vốn hiện có của hãng, các kênh và khả
năng huy động vốn …. Năm là nghiên cứu và phát triển: Chất lượng của các nỗ lực nghiên cứu
phát triển của hãng hàng không có thể giúp hãng có được vò trí tốt trên thò trường. Khi đánh giá hoạt động sản xuất của một hãng hàng không, thông thường
người ta thừơng đánh giá các mặt như: tổ chức và hoạt động nghiên cứu phát triển của hãng, tình hình chuyển giao công nghệ về bảo dưỡng và sửa chữa máy
bay, các hoạt động sáng kiến của hãng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động …. Sáu là hệ thống thông tin: Thông tin liên kết tất cả các chức năng trong
kinh doanh với nhau và cung cấp cơ sở cho tất cả các quyết đònh của quản trò. Thời đại hiện nay là thời đại thông tin. Một hãng hàng không có hệ thống thông
tin hiệu quả sẽ cho phép nó có được những khả năng đặc biệt trong những lónh vực khác nhau. Khi đánh giá hệ thống thông tin của một hãng hàng không, thông
thường người ta thừơng đánh giá các mặt như: việc cung cấp thông tin lữ hành, bán vé và đặt chỗ, việc thực hiện báo cáo thống kê theo luật đònh cho các cơ
quan có thẩm quyền và giữa các bộ phận của một hãng hàng không, việc xây dựng hệ thống văn bản quản lý và điều hành hoạt động …
Bảy là nguồn nhân lực: Nguồn nhân lực được hiểu là nguồn tài nguyên nhân sự và vấn đề nhân sự trong một tổ chức cụ thể tổ chức vi mô nghóa là toàn
bộ đội ngũ cán bộ – công nhân viên với tư cách vừa là khách thể trung tâm của
các nhà quản trò vừa là chủ thể hoạt động và động lực phát triển của tổ chức nói chung. Khi đánh giá về nguồn nhân lực của một hãng hàng không, người ta
thường đánh giá các mặt chủ yếu: số lượng đội ngũ nhân viên phi công, tiếp viên, thợ máy, kỹ sư bảo dưỡng máy bay và điện tử hàng không, các nhân viên
thương mại dòch vụ và khả năng đội ngũ này đáp ứng các hoạt động của hãng; chương trình đào tạo đội ngũ nhân viên …

1.2.2 Các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến caïnh tranh


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Khái niệm vận tải hàng không Các yếu tố nội bộ

Tải bản đầy đủ ngay(69 tr)

×