Tải bản đầy đủ - 69 (trang)
Các yếu tố của môi trường

Các yếu tố của môi trường

Tải bản đầy đủ - 69trang

Vietnam Airlines như đội ngũ nhân viên kỹ thuật ngày càng có chuyên môn sâu nhưng xét về tổng thể thì trình độ đội ngũ nhân viên chưa đạt.

2.2.2 Các yếu tố của môi trường


Các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của Vietnam Airlines bao gồm môi trường vó mô và môi trường vi mô. Các yếu tố này đem lại
cho Vietnam Airlines những cơ hội phát triển nhưng đồng thời cũng đem lại những mối đe dọa. Vì thế cần phải nhận diện rõ những đặc điểm này để Vietnam
Airlines có những bước đi thích hợp với môi trường hơn so với các đối thủ thông qua phân tích phản ứng của hãng với các yếu tố này.

2.2.2.1 Môi trường vó mô


Việc phân tích môi trường vó mô giúp cho Vietnam Airlines trả lời được câu hỏi: “Hiện nay hãng đang đối mặt với những vấn đề gì?”. Môi trường vó mô
gồm các yếu tố chủ yếu sau:
Một là các yếu tố kinh tế:
Các yếu tố kinh tế đều mang đến cho cả Vietnam Airlines và Pacific Airlines, là hai hãng hàng không của Việt Nam có
đường bay quốc tế, những lợi thế cạnh tranh so với các hãng hàng không nước ngoài. Nhưng trong giai đoạn 2000-2005 Vietnam Airlines đã tận dụng tốt các
yếu tố về kinh tế hơn Pacicific Airlines. Trong khi hãng hàng không Pacific Airlines liên tục làm ăn thua lỗ, doanh số giảm sút, dẫn đến việc cổ đông lớn
nhất của hãng Vietnam Airlines rút lui, và Chính phủ Việt Nam đã tổ chức lại hoạt động của hãng này. Trong khi đó mặc dù có những khó khăn nhất đònh
nhưng sản lượng, doanh thu của Vietnam Airlines vẫn tăng qua các năm, góp phần vào sự tăng trưởng của ngành Hàng không dân dụng Việt Nam.
Tuy nhiên, các hãng hàng không đối thủ cũng hưởng lợi nhất đònh từ các yếu tố kinh tế của Việt Nam và họ đã tận dụng tốt các yếu tố này hơn Vietnam
Airlines, điều này thể hiện ở việc các hãng này ngày càng có nhiều chuyến bay đi và đến Việt Nam, lấy một lượng khách nhất đònh tại thò trường Việt Nam trên
các chuyến bay quốc tế. Việc hội nhập nền kinh tế các nước đồng thời cũng tạo ra các mối nguy cơ xuất hiện những đối thủ cạnh tranh nước ngoài có tiềm năng
mạnh hơn. Đó là một cơ hội thuận lợi, đồng thời cũng là một thách thức to lớn đối với Vietnam Airlines trong hoạt động kinh doanh vận tải hàng không, bởi xét
về cả tuổi đời, kinh nghiệm kinh doanh và tiềm lực khai thác, Vietnam Airlines đều chưa đủ khả năng cạnh tranh ngang tài ngang sức với các đối thủ chính của
mình ngay ở trong khu vực.
Hai là yếu tố chính phủ, chính trò: Trong các yếu tố thuộc về môi trường
thì yếu tố chính phủ chính trò được Vietnam Airlines tận dụng nhiều nhất để nâng cao khả năng cạnh tranh của mình so với tất cả các đối thủ cạnh tranh. Vì
Vietnam Airlines là một doanh nghiệp Nhà nước, trực thuộc Chính phủ nên được Chính phủ quan tâm ủng hộ mạnh Vietnam Airlines như: ưu tiên vay vốn, các
điều kiện bảo hộ kinh doanh, các chính sách tài chính; chính sách kinh tế đối ngoại và hỗ trợ của Chính phủ cho Vietnam Airlines làm tăng khả năng cạnh
tranh của hãng trên thò trường vận tải hàng không nội đòa và quốc tế. Trong khi đó, đối thủ trong nước của Vietnam Airlines Pacific Airlines là một công ty cổ
phần gồm nhiều cổ đông mặc dù các cổ đông cũng là các doanh nghiệp Nhà nước nên hoạt động có rất nhiều hạn chế về vốn và các nguồn lực khác. Còn
các hãng hàng không đối thủ nước ngoài hoàn toàn không được hưởng hỗ trợ gì từ Chính phủ Việt Nam.
Tuy nhiên Vietnam Airlines phải thận trọng với lợi thế này, mặc dù các hãng hàng không đối thủ là những hãng hàng không cổ phần trừ các hãng hàng
không thuộc các nước tiểu vùng CLMV nhưng họ vẫn được sự hỗ trợ nhất đònh về cơ chế chính sách của chính phủ nước họ mang lại. Hơn nữa trong tương lai
khi thực hiện chính sách bầu trời mở, thì những lợi thế tạo ra từ các hiệp đònh hàng không song phương sẽ không còn nữa.
Ba là những yếu tố tự nhiên - xã hội, Vietnam Airlines đã tận dụng những
yếu tố này tốt hơn đối thủ trong nước là Pacific Airlines nhờ những nguồn lực vït trội so với đối thủ này. Điều này thể hiện thông qua việc Vietnam Airlines
đã có một mạng đừơng bay nội đòa hoàn chỉnh và đã có đường bay đi Mỹ. Hơn nữa sản lượng vận chuyển trong nước của Vietnam Airlines cũng hơn hẳn đối thủ
này. Tuy nhiên hiện nay giá vé máy bay vẫn còn cao so với mức sống của nhân dân, nên thò trường hàng không trong nước chưa thật sự bùng nổ và chấp nhận
bởi nhiều tầng lớp dân cư như hiện nay. Hơn nữa Vietnam Airlines vẫn chưa tận dụng những ưu thế về mặt vò trí
đòa lý đối hãng hàng không đối thủ trong khu vực, thể hiện thông qua việc các hãng Singapore Airlines, Malaysia Airlines và Thai Airways đã tận dụng lợi
điểm này để lập những trung tâm trung chuyển của các hành lang bay Đông-Tây và Nam-Bắc, từ đó nâng cao khả năng hoạt động của mình.
Bốn là công nghệ và khoa học kỹ thuật: So với những hãng hàng không
đối thủ trong tiểu vùng CLMV và hãng hàng không Pacific Airlines, Vietnam Airlines phản ứng tốt hơn với những yếu tố này, tuy nhiên so với các đối thủ
khác trong khu vực thì Vietnam Airlines phản ứng chậm hơn. Điều này thể hiện ở việc các đối thủ đã trang bò công nghệ bán vé điện tử và tự làm thủ tục, các
hãng hàng không đang xây dựng một chiến lược kinh doanh qua mạng hoàn chỉnh, thực hiện việc liên kết với khách hàng qua mạng, đặt vé qua mạng, dò
lòch trình bay, dòch vụ điện thoại vệ tinh trong chuyến bay cho phép hành khách có thể liên lạc với mặt đất, dòch vụ gởi fax trong các chuyến bay, dòch vụ cung
cấp thông tin liên lạc trong chuyến bay, cung cấp các dòch vụ nghe nhìn theo yêu cầu của hành khách trên các chuyến bay theo các kênh audio, video, tin tức, trò
chơi, các dòch vụ thông tin, thông tin mua bán, duyệt Web và nhắn tin SMS.

2.2.2.2 Môi trường vi mô


Môi trường vi mô của Vietnam Airlines bao gồm các yếu tố trong ngành hàng không và các yếu tố ngoại cảnh với doanh nghiệp, quyết đònh tính chất và
mức độ cạnh tranh trong ngành hàng không. Các yếu tố thuộc môi trường vi mô của Vietnam Airlines gồm các yếu tố sau:
Một là đối thủ cạnh tranh: Ngoài đối thủ trong nước là Pacific airlines,
hiện nay tại Việt Nam có trên 23 hãng hàng không quốc tế của 20 nước và lãnh thổ khai thác đi và đến Việt Nam. Bên cạnh những hãng hàng không nói trên
Vietnam Airlines còn có những hợp đồng liên chặng, mua chỗ với các hãng hàng không khác. Ngoài ra còn có 50 hãng hàng không của 40 nước quá cảnh các sân
bay quốc tế của Việt Nam để đi nước khác:
Bảng 11: Các đối thủ của Vietnam Airlines tại Việt Nam
Khu vực Hãng hàng không đối thủ
Đông Bắc Á Cathay Pacific, Korean Airlines, Eva Airlines, China
Airlines, Japan Airlines, China Southern Airlines Đông Nam Á – Thái Bình
Dương Singapore Airlines, Malaysian Airlines, Quantas,
Philippine Airlines, Garuda Airlines, Thai Airways International
Đông Dương Lao Airlines, XiemReap Airways
Châu âu – Trung Cận Đông
Air France, KLM, Aeroflot, Lufthansa Bắc Mỹ
United Airlines, American Airlines, Delta Airlines vaø North West Airlines, Air Canada
Nguồn: Tổng công ty Hàng không Việt Nam
Tiềm lực của các hãng hàng không nước ngoài rất lớn. Các hãng này có các chuyến bay theo lòch và ngày có xu hướng tăng tần suất bay. Một số
hãng hàng không nước ngoài tuy chưa có đường bay tới Việt Nam nhưng vẫn đặt văn phòng đại diện tại Việt Nam để bán vé cho hành khách có nhu
cầu đi trên những tuyến mà hãng mình đang khai thác, ví dụ như British Airways, SAS Scandinavia Air System. So với Vietnam Airlines, các
hãng này có nhiều ưu thế cạnh tranh hơn nhờ tiềm lực tài chính lớn, công
nghệ, đội bay hiện đại, tiên tiến. Vì vậy, các hãng nước ngoài này có ưu thế hơn Vietnam Airlines trong việc chủ động điều hành các chuyến bay
khi có sự cố kỹ thuật xảy ra đối với một máy bay nào đó thì khả năng sẵn có của những máy bay thay thế khác giúp hãng luôn giữ được uy tín với
khách hàng. Hơn nữa, các hãng hàng không nước ngoài thường là những hãng đã hoạt động lâu năm, nên họ có nhiều kinh nghiệm kinh doanh trong
lónh vực vận chuyển hàng không, dòch vụ đa dạng và được chuẩn hóa ở mức độ cao thỏa mãn được yêu cầu khác nhau của các phân khúc thò
trường. Các hãng hàng không đối thủ của Việt Nam đều là những hãng có truyền thống kinh doanh và thường được xếp hạng cao trên thế giới. Tình
hình cạnh tranh về giá vé rất khốc liệt của các hãng hàng không nước ngoài tại Việt Nam. Cuộc cạnh tranh bằng giá vé trở thành nỗi lo thường
xuyên của các hãng hàng không nước ngoài tại Việt Nam, khi có một hãng hàng không công bố khung giá mới cho mỗi vé máy bay, thì lập tức có sự
phản ứng lại từ các hãng hàng không nước ngoài khác. Một số hãng hàng không nước ngoài đã đưa ra giá khuyến mãi cho cùng một loại chuyến bay,
đôi khi bất ngờ khi các hãng này chuẩn bò nhảy vào thò trường Việt Nam. Vì những tính toán lâu dài, nhiều trường hợp, nhiều hãng thậm chí chấp
nhận bán vé với giá không có lãi vì phải mượn đường bay của các đối thủ để nối chuyến. Một hãng hàng không nước ngoài có thể hạ giá vé cho
hành khách, nếu biết được mức giá mà đối thủ của họ mời chào hành khách cho thấy sự linh hoạt về chính giá vé của các hãng hàng không nước
ngoài. Cuộc cạnh tranh của các hãng hàng không nước ngoài còn nóng thêm lên
bởi sự cạnh tranh đại lý bán vé. Các đại lý tạo thuận lợi cho việc tiếp cận những
khách hàng mà hãng hàng không nước ngoài không có điều kiện tiếp cận. Mỗi hãng hàng không nước ngoài có thể nhận khoảng 15-20 đại lý, một số hãng
muốn tăng thò phần nhanh thì có thể mở thêm. Đại lý trở thành một dạng marketing đơn giản là bán vé để hưởng hoa hồng. Tuy nhiên dùng đại lý có mặt
trái là chiết khấu hoa hồng trở thành gánh nặng doanh thu, bởi lẽ hoa hồng cho các hãng hàng không nước ngoài cho đại lý trung bình lên tới 9, có khi lên đến
12. Có nhiều lý do để các đại lý thích bán vé cho các hãng hàng không nước ngoài hơn là bán vé cho các hãng hàng không Việt Nam. Các đại lý thường được
các hãng nước ngoài mời sang thăm chính quốc, tặng quà dòp lễ tết, tổ chức các cuộc đi chơi, thưởng phiếu mua hàng siêu thò nếu bán được nhiều vé … thu nhập
chính thức của các đại lý có khai báo của cơ quan thuế là từ hàng không Việt Nam, thế nhưng thu nhập không chính thức cũng là nguồn nuôi các đại lý lại từ
các hãng hàng không nước ngoài. Nhưng thực tế hiện nay cho thấy, do cạnh tranh mà mức thu từ bán vé cho
các hãng hàng không nước ngoài ngày càng giảm. Các đại lý hiện nay phải chi lại cho người mua từ 6 - 7 tiền vé. Có trường hợp một khách hàng tiếp xúc
với nhiều đại lý khác nhau của cùng hãng này và được đề nghò những mức giá khác nhau. Một số đại lý còn cho cả khách hàng mua vé theo hình thức trả chậm.
Trong tình hình như vậy, các đại lý đã mất dần sức hấp dẫn và một số hãng hàng không đã không tiêu thụ vé qua đại lý mà tìm cách tiêu thụ trực tiếp với khách
hàng. Mỗi hãng hàng không nước ngoài đều có cách tiếp cận riêng để giành thò
phần, như phương pháp bán hoặc giảm giá vé hoặc áp dụng hàng loạt các dòch vụ nhỏ, từ tiện nghi trên máy bay, đào tạo tiếp viên, đón khách ở sân bay đối
với một số hạng ghế, chương trình hậu mãi cho đến việc liên doanh với một số cơ sở dòch vụ khách sạn … để hỗ trợ khuyến mãi. Ngoài ra hành khách còn được
thưởng điểm cho mỗi chuyến bay. Trước đây điểm chỉ có giá trò trong một thời
gian nào đó, nhưng nhiều hãng hàng không nước nước ngoài đã áp dụng điểm có giá trò vónh viễn để giữ khách hàng.
Hai là yếu tố khách hàng: So với Pacific Airlines và các hãng hàng không
trong tiểu vùng CLMV thì Vietnam Airlines chiếm ưu thế cạnh tranh vượt trội về số lượng và loại khách hàng nhờ các nguồn lực lớn hơn. Tuy nhiên so với các đối
thủ còn lại trong khu vực, Vietnam Airlines chỉ chủ yếu đáp ứng được các đối tượng là khách bình dân do phân khúc khách hàng này thường không có những
yêu cầu quá cao về chất lượng phục vụ, sự đa dạng của những dòch vụ trên chuyến bay như suất ăn, các dòch vụ giải trí. Tuy nhiên với đối tượng khách du
lòch, do thiếu sự kết hợp chặt chẽ giữa ngành Hàng không và ngành Du lòch tạo ra sự cạnh tranh giữa hai ngành.
Còn đối với đối tượng khách hàng lớn như giới thương nhân, những nhà lãnh đạo của những công ty lớn: đối tượng này tuy chiếm tỷ lệ nhỏ hơn, nhưng
lại là nhóm những hành khách thường xuyên của hãng vận chuyển và họ thường sẵn sàng trả giá vé cao để có được một dòch vụ hữu hiệu nhất phục vụ cho mục
đích chuyến công tác của họ. Tuy nhiên, đối tượng này thường có những đòi hỏi rất khắt khe về giờ giấc chuyến bay, những dòch vụ phục vụ trên chuyến bay như
sự đặc biệt quan tâm chăm sóc, sự tiệân nghi, quyền ưu tiên khi mua vé, làm thủ tục trước … Các hãng hàng không phục vụ cho đối tượng này thường kiếm được
lợi nhuận rất cao. Phân khúc này chưa phải là thế mạnh của Vietnam Airlines do những hạn chế về máy bay, chất lượng phục vụ trước khi bay, trong khi bay và
sau khi bay. Những hành khách thuộc đối tượng này khi thực hiện các chuyến bay quốc tế thường chọn các hãng hàng không nước ngoài đặc biệt là các hãng
hàng không đối thủ trong khu vực của Vietnam Airlines.
Ba là nhà cung cấp: Hai nhà cung cấp chính của thế giới hiện nay là
Boeing và Airbus. Có thể nói hầu hết tất cả các hãng hàng không trên thế giới đều phụ thuộc vào các nhà cung cấp này, và vì thế Vietnam Airlines và các hãng
đối thủ cạnh tranh đều có phản ứng ngang bằng về hai nhà sản xuất máy bay này. Tuy nhiên, sự khác biệt về phản ứng của Vietnam Airlines và các đối thủ
chính là với những nhà cho thuê máy bay trên thế giới. Hiện nay, số lượng các công ty cho thuê máy bay thì không nhiều, cộng với tiềm lực tài chính còn yếu,
vì vậy, nhà cung ứng máy bay có thể gây áp lực lớn hơn lên Vietnam Airlines so với các đối thủ cạnh tranh trong khu vực.
- Cảng hàng không: các hãng hàng không đối thủ lớn trong khu vực có tiềm lực tài chính, số lượng các chuyến bay đến các sân bay trục nhiều nên được
tạo điều kiện hơn trong việc phân bố giờ cất hạ cánh so với Vietnam Airlines.
Bốn là đối thủ tiềm ẩn mới: Đối với thò trường vận tải hàng không trong
nước thì khả năng xuất hiện những đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn trong giai đọan hiện nay khó xảy ra vì lượng khách hàng tiềm năng không lớn lắm,ï Vietnam
Airlines và Pacific Airlines đang khai thác thò trường này có thể đáp ứng được nhu cầu vận chuyển của khách hàng vận chuyển trong nước.
- Đối với các hãng hàng không chi phí thấp thì gần đây sự thành đạt của các hãng hàng không chi phí thấp trong khu vực đã cho thấy nhu cầu sử dụng
dòch vụ bay giá rẻ trong khu vực là rất lớn. Các hãng lớn đã nỗ lực cho ra đời các hãng hàng không chi nhánh giá vé thấp của họ. Sự ra đời của nhiều hãng hàng
không liên danh chuyên cung cấp dòch vụ giá rẻ giữa quốc gia và trong khu vực đang được coi là kẻ thù tiềm ẩn và sẽ tạo nên áp lực cạnh tranh rất lớn không chỉ
với các hãng hàng không quốc gia của mỗi nước mà còn đối với các hãng hàng không tư nhân của nước này.
Tuy nhiên, Vietnam Airlines chỉ mới chuẩn bò để bước một chân vào hội nhập. Sự chuẩn bò để khai thác thò phần hàng không giá rẻ còn chậm chạp. Các
chuyên gia nhận đònh, khi chưa hội nhập, cuộc chiến giá vé đã diễn ra rất căng thẳng trong mùa thấp điểm, liệu khi hội nhập, Vietnam Airlines sẽ phải chòu bao
sức ép từ các hãng hàng không giá rẽ có bề dày hoạt động trong khu vực.

2.2.2.3 Ma trận đáng giá các yếu tố bên ngoài


Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài dưới đây thể hiện một số yếu tố môi trường có vai trò quyết đònh đối với sự thành công của Vietnam Airlines.
Tầm quan trọng của các yếu tố được cho điểm từ 0,0 không quan trọng đến 1,0 rất quan trọng. Đồng thời các yếu tố được phân loại từ 1 đến 4 thể hiện sự
thành công của Vietnam Airlines trong việc phản ứng lại với các yếu tố này. Thông qua ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài dưới dây, chúng ta có
thể đưa ra những nhận xét rằng Vietnam Airlines tận dụng tốt các yếu tố môi trường đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của Vietnam Airlines: sự hỗ trợ
của Nhà nước, các yếu tố kinh tế trong nước và xã hội. Ma trận cũng chỉ ra những yếu tố mà nơi đó Vietnam Airlines phản ứng chậm như sự xuất hiện của
các hãng hàng không chi phí thấp. Tổng số điểm là 2,38 thấp hơn điểm trung bình, thể hiện Vietnam Airlines phản ứng chậm với những thay đổi từ môi trường
bên ngoài.
Bảng 12: Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài Các yếu tố
Mức quan
trọng Phân
loại Tổng số
điểm
1. Tận dụng tốt sự hỗ trợ của Nhà nước 0,20
4 0,80
2. Tận dụng tốt những yếu tố kinh tế trong nước
0,10 3 0,30 3. Đáp ứng tốt nhu cầu của khách du lòch
0,10 3
0,30 4. Tận dụng tốt các yếu tố về xã hội Việt
Nam 0,05 3 0,15
5. Phản ứng chậm với hàng không giá rẻ 0,15
1 0,15
6. Việc áp dụng các thành tựu khoa học còn chậm
0,20 2 0,40 7. Phụ thuộc lớn vào nhà cung cấp
0,05 1
0,05 8. Chưa tận dụng tốt yếu tố tự nhiên
0,08 2
0,16 9. Chưa thu hút được những khách hàng lớn
0,07 1
0,07 Tổng điểm
1 2,38

2.2.3 Ma trận hình ảnh cạnh tranh


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Các yếu tố của môi trường

Tải bản đầy đủ ngay(69 tr)

×