Tải bản đầy đủ - 69 (trang)
Nhóm giải pháp hỗ trợ .1 Giải pháp về chính sách sản phẩm

Nhóm giải pháp hỗ trợ .1 Giải pháp về chính sách sản phẩm

Tải bản đầy đủ - 69trang

sẽ cắt bớt một số dòch vụ đi kèm. Dó nhiên việc cắt bớt các dòch vụ đi kèm này không gây tâm lý khó chòu nơi hành khách vì nó chỉ thực hiện trên các chuyến
bay ngắn. Các dòch vụ của các chuyến bay giá rẻ mà hãng sẽ thực hiện như sau:
Bảng 15: Các dòch vụ cung cấp trên các chuyến bay giá rẻ
Tiêu chí so sánh Chuyến bay truyền
thống Vietnam Airlines
Chuyến bay giá rẻ Vassco
Giá vé thấp Không
Có Mua vé trực tiếp
Có Có
Không sử dụng vé giấy Có
Không Dòch vụ hành khách:
• Cung cấp đồ uống nhẹ • Phục vụ suất ăn
• Tự do chọn chỗ • Chuyển tiếp hàng hoá
• Chương trình khách hàng
thường xuyên Có
Có Có
Có Có
Có Không
Không Không
Không
Khai thác: • Đường bay
• Nối chuyến với các hãng khác • Đội bay
• Sân bay • Thời gian quay vòng máy bay
Theo mạng Có
Hiện nay Trục và lớn
40 phút Ngắn
Không Một lọai
Lọai 2 20 phút
Các chính sách như: đồng nhất đội máy bay, thời gian huy động máy bay và chi phí phân phối có thể giúp Vietnam Airlines hạ thấp chi phí hoạt động. Tuy
nhiên, hạ thấp chi phí không đồng nghóa với thỏa hiệp về mặt an toàn. Vietnam Airlines phải đảm bảo về mặt an toàn các chuyến, thì những lợi thế cạnh tranh
do chi phí thấp mang lại sẽ đem lại hiệu quả.
3.3 Nhóm giải pháp hỗ trợ 3.3.1 Giải pháp về chính sách sản phẩm
Vietnam Airlines phải trở thành hãng hàng không cung cấp nhiều loại sản phẩm nhằm mục đích khai thác thêm các phân khúc thò trường. Vì thế Vietnam
Airlines cần phải cung cấp dòch vụ vận chuyển không những cho thò trường hành khách mà còn cả cho thò trường hàng hoá.
Một là đối với các hoạt động vận chuyển hành khách, hiện nay trên các
chuyến bay Vietnam Airlines hầu hết chỉ cung cấp hai hạng ghế là hạng thường Economy và hạng thương gia Business. Điều này chứng tỏ sản phẩm của
Vietnam Airlines chưa thu hút được nhiều đối tượng khách hàng. Do đó Vietnam Airlines phải cung cấp các sản phẩm khác nhau để đáp ứng nhiều loại hành
khách, từ những hành khách trả tiền vé cao nhưng được cung cấp các dòch vụ đặc biệt mà chúng ta thường gọi là ghế hạng nhất First Class đến những hành
khách được chiết khấu giảm giá vé rất lớn. Vì thế đề xuất trong các chuyến bay trong khu vực, Vietnam Airlines nên cung cấp ba hạng: hạng nhất First Class,
hạng thương gia Business Class và hạng phổ thông Econmy Class. Trong đó, hạng phổ thông sẽ được bán với nhiều lọai giá khác nhau. Hành khách sẽ được
bố trí ngồi theo thứ tự ưu tiên từ đầu máy bay đến cuối máy bay và phục vụ cũng giảm từ đầu máy bay đến cuối máy bay. Tư tưởng này rất có lợi cho Vietnam
Airlines vì nó có thể đáp ứng nhiều yêu cầu khác nhau của hành khách và chắc chắn nó sẽ giúp gia tăng hệ số ghế khai thác của hãng. Ngoài ra Vietnam
Airlines cần chú trọng các yếu tố khác liên quan đến việc vận chuyển hành khách như sau:
- Mạng đường bay nội đòa và quốc tế khu vực tầm ngắn – trung: xây dựng hệ thống các sản phẩm phong phú với các yếu tố đặc trưng là lòch bay thuận tiện,
đúng giờ, kết hợp với chương trình khách hàng thường xuyên, hoạt động truyền thông tiếp thò hiệu quả và giá cả hợp lý.
- Mạng đường bay quốc tế khu vực: xây dựng các sản phẩm được tiêu chuẩn hóa, mang đặc thù Việt Nam, liên kết với các sản phẩm lữ hành, khách
sạn; chất lượng phục vụ và giá cả cạnh tranh.
Hai là đối với hoạt động vận chuyển hàng hoá, Vietnam Airlines phải
củng cố và mở rộng thò trường vận chuyển hàng hoá. Trước hết Vietnam Airlines phải lập kế hoạch phát triển đội máy bay hàng hoá. Đặc biệt đội máy bay này
nên được cùng loại với các máy bay hỗn hợp để tận dụng những lợi thế về giảm chí phí của hạ tầng khai thác như: phi công, bảo dưỡng. Đặc biệt chú trọng đến
thò trường hàng hoá ở Đông Bắc Á,
giải pháp cụ thể trước mắt cho một số thò
trường hàng hóa hiện tại chủ yếu của Vietnam Airlines như sau:
- Thò trường hàng hoá Hongkong: Để đạt mục tiêu kế hoạch, Vietnam
Airlines cần thực hiện các biện pháp như: tiếp tục chọn lọc, củng cố mạng bán, giao chỉ tiêu cho các đại lý bán kém, thử thách thái độ hợp tác của các đại lý này
để nghiên cứu khả năng duy trì hợp đồng với họ; Xây dựng cơ cấu kênh bán, bao gồm 5 đại lý trong đó có một đại lý tập trung bán hàng theo thương quyền 6
transist chủ yếu đi Úc; duy trì mức giá hiện tại đối với hàng thương quyền 4, xem xét việc giảm giá đối với hàng đi PhnomPenh PNH để dành nguồn hàng
này. Áp dụng chính sách giá cước linh hoạt khi cần thiết. Khuyến khích và đảm bảo chỗ cho các lô hàng thương quyền 6 đi Úc và Phnômpênh, theo dõi sát sao
các hoạt động của Cathay Pacific để có những phản ứng kòp thời với những chính sách mới của hãng này.
- Thò trường hàng hoá Đài Loan: Duy trì mức giá trên các chặng TPE-
SGN, KHH-SGN để cạnh tranh các lô hàng lớn; điều chỉnh tăng giá phù hợp với các nguồn hàng đặc thù ổn đònh nhằm tăng doanh thu; Xem xét khả năng giao
giá trực tiếp TPE-SGN, KHH-SGN cho một số công ty giao nhận có nhu cầu với mức giá cao hơn từ 3 - 5 so với giá netnet của các đại lý; thực hiện hiệu quả
và đúng kế hoạch các chương trình quảng cáo, khuyến mãi nhằm khuyến khích các đại lý và các công ty giao nhận tăng cường bán cho Vietnam Airlines; Giữ
nguyên mạng bán gồm 4 đại lý; Tuy nhiên cần xem xét việc thay thế các đại lý hoạt động kém hiệu quả. Tiếp tục duy trì nguồn hàng đi PNH, sử dụng sản phẩm
TPE-SGN-HAN và TPE-HAN-SGN để linh hoạt bán giữa các đầu với nhau, tận dụng tải một cách hiệu quả nhất. Theo dõi sát hoạt động của các hãng hàng
không cạnh tranh.
- Thò trường hàng hoá Bắc Kinh: tiếp tục chọn lọc các đối tác có thể bán
tốt cho Việt Nam để chỉ đònh đại lý, thay dần đại lý kém hiệu quả, hoặc ít quan tâm hợp tác với Việt Nam; giao mục tiêu cho các đại lý với mức giá cạnh tranh;
tăng cường trực tiếp tại đầu thành phố Hồ Chí Minh hoặc Bắùc Kinh để tiếp cận trực tiếp với các nguồn hàng thương quyền 4; Đònh hướng khai thác hàng hóa
thương quyền 6 đi Sydney SYD, đi Melbourne MEL là chủ đạo; vẫn tiếp tục duy trì các nguồn hàng nhỏ, lẻ phù hợp với năng lực vận chuyển của Vietnam
Airlines, chẳng hạn như nguồn hàng hóa đi PhnômPênh, Viên Chăn; Phối hợp khai thác nguồn hàng trên chặng Hà Nội – Mát-cơ-va vì đây là những phân thò
khá lớn tại thò trường Bắc Kinh; tăng cường tiếp xúc gặp gỡ khách hàng, để củng cố mối quan hệ và phát động hàng đi trên Vietnam Airlines hơn nữa; Phối hợp
chuyển tiếp hàng giữa các đầu để các lô hàng thương quyền 6 đi đúng lòch trình; Theo dõi việc thực hiện bán hàng đi Nhật để có điều chỉnh giá hợp lý thu hút
nguồn hàng này
- Thò trường hàng hoá Côn Minh: tiếp tục tìm kiếm các nguồn hàng thương
quyền 4, tuy không nhiều, hướng bán chính vẫn là đi Nhật, đi Đài Loan, Kualalumpur, Châu Âu; Duy trì tiếp tục tục các nguồn hàng có sẵn, đang được
khai thác đi thành phố Hồ Chí Minh, Đài Bắc, tập trung các nguồn hàng nhỏ lẻ phù hợp nối chuyến đi Đài Bắc, PhnômPênh, Vien Chăn và các lô hàng đi Tây
Âu; Nghiên cứu thu hút hàng vận chuyển phụ tùng xe máy từ Trùng Khánh; Củng cố mạng bán bằng chọn lọc và thay thế những đại lý bán kém, tìm kiếm
các đối tác tốt hơn để hợp tác. p dụng mức giá cạnh tranh cho các đại lý.
Thực hiện thành công giải pháp này dự kiến sẽ giúp gia tăng thò phần vận chuyển hàng hóa quốc tế của Vietnam Airlines trung bình từ 42,87 hiện nay
lên khỏang 45 vào năm 2010.

3.3.2 Giải pháp phát triển dòch vụ trước, trong và sau khi bay


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Nhóm giải pháp hỗ trợ .1 Giải pháp về chính sách sản phẩm

Tải bản đầy đủ ngay(69 tr)

×