1. Trang chủ >
  2. Kinh Doanh - Tiếp Thị >
  3. Quản trị kinh doanh >

Ở cấp vi mô

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (191.97 KB, 29 trang )


II. Sự ảnh hưởng của các đặc điểm đầu tư phát triển đến công tác đầu tư. 1.Trong công tác quản lý vĩ mô và vi mô

1.1 Cấp vĩ mô


Nhà nước cần ban hành các văn bản pháp luật về đầu tư một cách chặt chẽ và có hệ thống cũng như các văn bản liên quan như luật đất đai, luật đấu
thầu...Các văn bản này có tác dụng khuyến khích đầu tư, hướng các hoạt động đầu tư theo định hưóng của Nhà nước, khuyến khích các nhà đầu tư tư nhân
tham gia vào các lĩnh vực đầu tư phát triển. Nhà nước cần có các chính sách để huy động mọi nguồn vốn cho đầu tư
phát triển. Các nguồn vốn có thể huy động được bao gồm nguồn vốn ngân sách, vốn từ dân cư, vốn ODA, FDI, vốn vay thương mại quốc tế. Nhà nước cần có
các quy định chặt chẽ về phân bổ vốn đầu tư hợp lý theo tiến độ, đầu tư chiều sâu để mang lại hiệu quả cao nhất.
Mặt khác, nhà nước cũng cần có các quy định về quy hoạch, tránh tình trạng quy hoạch treo gây thất thốt lãng phí nguồn tài ngun. Cùng với đó là
đào tạo nguồn nhân lực một cách hiệu quả, đáp ứng kịp thời nhu cầu về nguồn lực con người trong hoạt động đâu tư.
Ngoài ra, Hệ thống cơ quan chuyên trách về quản lý dự án đầu tư và cán bộ có trình độ chun mơn cao đáp ứng yêu cầu thực tế cũng cần được nhà nước
chú trọng xây dựng.

1.2 Ở cấp vi mô


Khi nhà nước đã có những chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư thì các nhà đầu tư cũng cần có các biện pháp để quản lý hoạt động đầu tư
ở tầm vi mơ một cách có hiệu quả. Trước khi tiến hành các hoạt động đầu tư, chủ đầu tư cần nghiên cứu kỹ
các điều kiện về mơi trường tự nhiên, kinh tế, chính trị, văn hố xã hội ở địa phương. Nó giúp cho chủ đầu tư có thể khai thác tối đa lợi thế vùng và nâng cao
hiệu quả vốn đầu tư. Ngoài ra, doanh nghiệp cần xây dựng một chiến lược đầu tư rõ ràng, khoa
học để hạn chế đến mức thấp nhất các rủi ro có thể gặp phải. Cần rõ ràng trong
Nhóm I
6
chuẩn bị về vốn đầu tư, tiến trình đầu tư...Một điều cũng rất quan trọng đó là cần xác định chính xác sự thay đổi của cung cầu trên thị trường về đầu vào và đẩu ra
của dự án, đưa ra được dự báo chính xác trong tương lai để có các biện pháp điều chỉnh kịp thời.
2. Trong cơng tác chuẩn bị, thực hiện và vận hành các kết quả đầu tư 2.1Công tác chuẩn bị đầu tư
Giai đoạn chuẩn bị đầu tư quyết định sự thành công hay thất bại ở hai giai đoạn sau, đặc biệt là với giai đoạn vận hành kết quả đầu tư. Ở giai đoạn này, vấn
đề chất lượng, chính xác kết của kết quả nghiên cứu. Tổng chi phí giai đoạn chuẩn bị chiếm từ 0,5- 15 vốn đầu tư chảy vào dự án. Làm tốt công tác chuẩn
bị đầu tư sẽ tạo tiền đề cho việc sử dụng tốt phần vốn còn lại, tạo cơ sở cho quá trình hành động của dự án được thuận lợi, nhanh chóng thu hồi vốn đầu tư,
nhanh chóng phát huy hết nguồn lực phục vụ dự kiến. Quá trình chuẩn bị đầu tư gồm 4 bước: nghiên cứu cơ hội đầu tư, nghiên
cứu tiền khả thi, nghiên cứu khả thi và thẩm định dự án. Sự quán triệt các đặc điểm của đầu tư phát triển trong công tác chuẩn bị
đầu tư được thể hiện qua các mặt như: - Với đặc điểm vốn, vật tư lao động cho dự án đầu tư lớn:
Thứ nhất là có giải pháp huy tạo vốn và huy động vốn hợp lý. Các chính sách và giải pháp huy động vốn cho các dựa án đầu tư phải gắn với chiến lược
phát triển kinh tế-xã hội trong từng giai đoạn. Trong điều kiện mà nhu cầu vốn đầu tư rất lớn như hiện nay việc đa dạng hóa các kênh huy động vốn, hiện đại
hóa các hình thức và phương tiện huy động vốn là vô cùng cần thiết. Các nguồn huy động vốn cho đầu tư phát triển có thể qua phát hành cổ phiếu, trái phiếu,
vay ngân hàng, các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước... Các chính sách huy động vốn phải được tiến hành đồng bộ cả về nguồn vốn và biện pháp thực hiện,
phù hợp với quy hoạch ngành, lãnh thổ và lĩnh vực ưu tiên. Thứ hai là thực hiện đầu tư có trọng tâm trọng điểm, tránh đầu tư dàn trải,
gây thất thoát lãng phí nguồn lực. Với các dự án trọng điểm cần tập trung thực hiện dứt điểm, kiên quyết cắt giảm các hạng mục công trình chưa thực sự cần
Nhóm I
7
thiết, khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải. Đồng thời có các biện pháp bố trí vốn theo tiến độ của dự án, kế hoạch bố trí vốn phải bám sát những định hướng, chủ
trương của chính phủ, các bộ ngành có liên quan. Thứ ba, cần có các giải pháp về tuyển dụng, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ lao
động một cách hợp lý, sao cho đáp ứng tốt nhất nhu cầu về nhân lực theo tiến độ đầu tư. Hiện nay vẫn xảy ra tình trạng nhân lực cho các dự án rất dồi dào nhưng
số lượng đáp ứng được các yêu cầu của dự án lại rất thấp, phần lớn lao động không được đào tạo bài bản, hoặc không đáp ứng được yêu cầu của dự án. Nhiều
dự án mặc dù đã chính thức đầu tư và khởi công nhưng lại không thực hiện được đúng tiến độ do bài toán về lao động. Để tránh tình trạng trên, các dự án
khi chuẩn bị đầu tư cần phải xây dựng kế hoạch tuyển dụng , phương án đào tạo lao động kịp thời, để việc đào tạo lao động sát với nhu cầu thực tế.
-Với đặc điểm thời kỳ đầu tư kéo dài:Yêu cầu đặt ra là cần tiến hành quản lý chặt chẽ tiến độ kế hoạch đầu tư, lập tiến độ thi công xây dựng cụ thể trong
từng giai đoạn, đảm bảo tiến độ ngay từ khâu giải phóng mặt bằng. Tiến độ thi công xây dựng công trình phải phù hợp với tiến độ của dự án đã được phê duyệt.
Một trong các yếu tố làm cho thời kỳ đầu tư thực tế thường kéo dài hơn nhiều so với dự kiến đó là tình trạng thiếu vốn. Chính vì vậy cần có các giải pháp về bố
trí vốn và các nguồn lực tập trung hoàn thành dứt điểm từng hạng mục công trình, bố trí xen kẽ các công việc cần thực hiện nhằm đảm bảo đúng thời gian
hoàn thành dự án. - Về đặc điểm đầu tư phát triển phụ thuộc vào các điều kiện tự nhiên kinh
tế-xã hội vùng. Trước hết cần nghiên cứu tiềm năng thế mạnh của từng vùng, địa phương, các chính sách khuyến khích đầu tư phát triển. Điều này ảnh hưởng rất
lớn đến việc ra quyết định đầu tư. Chủ đầu tư cần nghiên cứu kỹ và lựa chọn địa điểm đầu tư phù hợp nếu không chủ đầu tư sẽ phải đối mặt với nhiều rủi ro về
nhiều mặt cả về tự nhiên lẫn kinh tế xã hội. Do đó, khi lựa chon địa điểm đầu tư cần dựa trên những căn cứ khoa học, dựa vào hệ thống các chỉ tiêu về tự nhiên,
kinh tế, chính trị, xã hội...nhằm khai thác tối đa lợi thế của vùng, nâng cao hiệu quả vớn đầu tư.
Nhóm I
8
- Với đặc điểm đầu tư phát triển có độ rủi ro cao: Cần có biện pháp tổng thể quản lý rủi ro bao gồm từ việc nhận diện rủi ro, đánh giá mức độ rủi ro và xây
dựng biện pháp phòng và chống rủi ro, điều này rất quan trọng. Xác định đúng nguyên nhân rủi ro là khâu quan trọng đầu tiên để tìm ra giải pháp phù hợp để
khắc phục. Mặt khác, việc đánh giá xếp thứ tự ưu tiên rủi ro sẽ đưa ra được biện pháp tối ưu xử lý rủi ro, hạn chế thấp nhất được các thiệt hại có thể có do rủi ro
gây ra trong śt vòng đời của dự án.
2.2Q trình thực hiện đầu tư
Giai đoạn thực hiện đầu tư: Vấn đề thời gian là quan trọng hơn cả, 85- 95.5 vốn đầu tư được chia ra và huy động trong suốt những năm thực hiện đầu
tư. Đây là những năm vốn không sinh lời, thời hạn thực hiện đầu tư cũng kéo dai, vốn ứ đọng càng nhiều, tổn thất càng lớn. Thời gian thực hiện đầu tư phụ
thuộc nhiều vào công tác chất lượng công tác chuẩn bị đầu tư, quản lý quá trình việc thưc hiện những hoạt động khác có liên quan trực tiếp đến các kết quả của
q trình thực hiện những hoạt động khác có liên quan trực tiếp đến các kết quả của quá trình thực hiện đầu tư đã được xem xét trong dự án đầu tư.
Q trình thực hiện đầu tư gồm: hồn tất thủ tục đầu tư, thiết kế lập tổng dự toán, xây dựng mua sắm trang thiết bị, tuyển dụng đào tạo lao động, nghiệm thu,
thanh quyết toán, bàn giao kết quả. Sự quán triệt các đặc điểm của đầu tư phát triển ở giai đoạn hai này được
thể hiện ở chỗ: Thứ nhất cần quản lý và sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư. Do ở giai đoạn
này vốn nằm khê đọng trong thời gian dài nên để nâng cao hiệu quả vốn đầu tư, cần tiến hành phân kỳ hoạt động đầu tư, bố trí vốn và các nguồn lực tập trung
hoàn thành dứt điểm từng hạng mục cơng trình, quản lý chặt chẽ tiến độ kế hoạch đầu tư, khắc phục tình trạng thiếu vốn, nhất là trong xây dựng cơ bản. Do
yếu kém trong quản lý mà nhiều chủ đầu tư đã làm thất thoát nguồn vốn, khiến cho vốn đầu tư thực tế cao hơn rất nhiều so với dự tốn ban đầu..Cần có chính
sạch đào tạo nguồn nhân lực, đãi ngộ cơng nhân và chuyên gia. Điều này càng đảm bảo hơn cho sự thành cơng của giai đoạn thực hiện đầu tư.
Nhóm I
9
Mặt khác, cần rút ngắn thời gian đầu tư, đảm bảo đúng tiến độ thi công công trình. Thời gian hoàn thành dự án càng ngắn thì chi phí và rủi ro càng ít.
Hoạt động đầu tư luôn luôn gắn liền với yếu tố rủi ro, điều quan trọng là nhận biết và khắc phục được chúng trong quá trình thực hiện đầu tư. Kéo dài thời gian
thực hiện là kéo thêm một khoản chi phí, tăng thêm những rủi ro, những bất trắc, mất đi cơ hội cạnh tranh trên thị trường, hiệu quả đầu tư vì thế cũng giảm
sút.Bên cạnh đó cần quản lý chặt chẽ việc sử dụng nguyên vật liệu, tránh lãng phí, nâng cao hiệu suất sử dụng. Bên cạnh đó, cũng cần có sự đầu tư về mặt
công nghệ, lắp đặt các dây chuyền thiết bị hiện đại, phù hợp với trình độ quản lý và sử dụng giúp cho chủ đầu tư nâng cao được chất lưọng sản phẩm, mặt khác
lại tiết kiệm được đáng kể chi phí về vận hành, về nhân cơng, ngun vật liệu và năng lường, góp phần nâng cao hiệu quả trong thực hiện đầu tư.
2.3Quá trình vận hành kết quả đầu tư
Giai đoạn vận hành các kết quả của giai đoạn thực hiện đầu tư nhằm đạt được các giai mục tiêu của dự án, nếu các két quả do giai đoạn thực hiện đầu tư
tạo ra đảm bảo tính đồng bộ, tồn tại thấp, chất lượng tốt, đúng tiến độ tại thời điểm thích hợp, với quy mơ tối ưu thì hiệu quả hoạt động của các kết quả này và
mục tiêu của dự án chỉ còn phụ thuộc trực tiếp vào q trình tổ chức quản lý hoạt động. Làm tốt công tác của giai đoạn chuẩn bị và thực hiện đầu tư sẽ tạo
thuận lợi cho quá trình tổ chức quản lý phát huy tác dụng của các kết quả đầu tư. Thời gian phát huy tác động của các kết quả đầu tư chính là đời của dự án nó
gắn với đời sống của sản phẩm trên thị trưòng. Đây là giai đoạn thu hồi vốn, dự án có đạt mục tiêu hay không phụ thuộc
vào kết quả hoạt động của giai đoạn này. Giai đoạn vận hành khai thác là giai đoạn mà hiệu quả khai thác nguồn lực được thể hiện rõ nét phụ thuộc vào năng
lực tổ chức quản lý điều hành. Sự quán triệt các đặc điểm của đầu tư phát triển
trong công tác vận hành kết quả đầu tư bỉểu hiện ở các mặt: Thứ nhất, xây dựng cơ chế và phương pháp dự báo khoa học nhằm có
những bước đi phù hợp trong mỗi giai đoạn cụ thể cả ở cấp vĩ mô và vi mô về nhu cầu thị trường đối với sản phẩm đầu tư tương lai, dự kiến khả năng cung
Nhóm I
10
ứng từng năm và toàn bộ vòng đời của dự án. Từ đó nắm bắt được thời cơ để tạo ra những bứơc nhảy vọt trong đời của dự án.
Thứ hai, quản lý tốt q trình vận hành, nhanh chóng đưa thành quả đầu tư vào sử dụng, hoạt động tối đa cơng suất để nhanh chóng thu hồi vốn, tránh các
hao mòn vơ hình. Đờng thời cần tn thủ chiến lược về công suất. Vòng đời sản phẩm của dự án càng dài thì lợi nhuận thu được càng lớn, do đó hiệu quả đầu tư
càng cao. Ngoài ra, cần chú ý đúng mức đến yếu tố độ trễ thời gian trong đầu tư. Đầu
tư trong năm nhưng thành quả đầu tư chưa chắc đã phát huy tác dụng ngay trong năm đó mà từ những năm sau và kéo dài trong nhiều năm. Đây là đặc điểm rất
riêng của lĩnh vực đầu tư, ảnh hưỏng lớn đến công tác quản lý hoạt động đầu tư.
Nhóm I
11
CHƯƠNG II:THỰC TRẠNG CỦA ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN VÀ TÌNH HÌNH QUÁN TRIỆT CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN
TRONG CÔNG TÁC ĐẦU TƯ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.
I,Thực trạng đầu tư phát triển ở Việt Nam 1,Huy động nguồn lực cho đầu tư phát triển.
Thực tiễn Việt Nam từ khi thực hiện chính sách đổi mới mở cửa ,bên cạnh
việc thốt khỏi khủng hoảng kinh tế Việt Nam còn đạt đựoc thành tích tăng trưởng kinh tế cao liên tụcbình qn GDP hàng năm trong giai đoạn 1991_2005
đạt 7.5có những giai đoạn cá biệt 2 năm tăng liên tục trên 9 mỗi năm. Điều đó làm cho khả năng huy động ,khai thác và sử dụng các nguồn vốn đầu tư được
mở rộng hơn.Tốc độ gia tăng quy mô đầu tư gia tăng đáng kể trung bình tăng hơn 20năm.Tỷ trọngvốn đầu tư phát triển gia tăng mạnh mẽ năm 1991 chỉ
khoảng 17.6 GDP thì đến năm 2005 đã đạt xấp xỉ 38.7GDP.Trong đó cả nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngồi đều có sự chuyển biến về quy
mơ và tốc độ tăng trưởng.
Trong nguồn vốn đầu tư của nước ta nguồn vốn trong nước chiếm 70 tổng sổ vốn đầu tư và 30 tổng vốn đầu tư là huy động từ nước ngồi. Trong
nguồn vốn trong nứoc thì vốn tư ngân sách Nhà nước và các doanh nghiệp Nhà nước là chủ yếu,chiếm khoảng 53.7.Trong đó vốn đầu tư từ ngân sách Nhà
nứơc chiếm khoảng 22.5trong tổng số vốn đầu tư phát triển tồn xã hội, vốn tín dụng đầu tư của nhà nước chiếm tỷ 15,7, vốn đầu tư của những doanh
nghiệp Nhà nước chiếm 17.1.Vốn đầu tư của khu vực tư nhân và dân cư chiếm 25,3,vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm 17,8,các nguồn vốn huy động
khác chiếm khoảng 4,7.
Tổng vốn đầu tư toàn xã hôi tăng đáng kể năm 2005 số vốn đầu tư toàn xã hội là 3.301,780 tỷ đồng; năm 2006 tổng số vốn đầu tư tòan xã hội là 4.027,166
tỷ đồng; và năm 2007 con số đó là 4.851,917 tỷ đồngtính theo giá trị hiệ hành. Như vậy trong vòng 3 năm 2005-2007 tổng số vốn đầu tư toàn xã hội tăng
khoảng 46,95.
Vốn nhà nước tăng liên tục qua các năm;năm 2005 là 1.198,814 tỷ đồng, năm 2006 là 1.244,303 tỷ đồng, năm 2007 là 1138,762 tỷ đồng. Ngân sách nhà
Nhóm I
12
nước chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số vốn đầu tư phát triển và vốn ngân sách nhà nước chiếm khoảng 70 vốn nhà nước.Trong ngân sách nhà nước thì nguồn
thu chủ yếu là từ thuế và phí chiếm tới 90,tăng trung bình 17năm.Trong đó ngân sách trung ương chiếm khoảng 10năm 2007 vốn ngan sách trung
ương là 74,911 tỷ đồng trong tổng ngân sách nhà nước là 778,46 tỷ đồng, chiếm khoảng 9,624;ngân sách địa phương đóng góp khoảng 90năm 2007 vốn
ngân sách đia phương là 703,549 tỷ đồng, chiếm khoảng 90,376 .GDP đóng góp vào ngân sách nhà nứơc khoảng 23.5.Tỷ lệ đầu tư phát triển chiếm 29.7
trong tổng vốn ngân sách nhà nước. Nguồn vốn tín dụng đầu tư cũng cố những chuyển biến tiến bộ, tuy nhiên trong những năm gần đây nguồn vốn đầu tư tín
dụng Nhà nước xu hướng giảm dần do nhà nước có chủ trương thu hẹp đối tương cho vay ,hạn chế cho vay theo dự án và đẩy mạnh thực hiện hỗ trợ lãi suất
đầu tư.Năm 2005 số vốn tín dụng nhà nước là 159,816 tỷ đồng, năm 2006 là 117,554 tỷ đồng,, và năm 2007 là 91,877 tỷ đồng; giảm khoảng 42,5 trong
vòng 3 năm. Nguồn vốn tín dụng từ các nguồn khác tăng lên rất nhanh;năm 2005 là 122,317 tỷ đồng, năm 2006 là 288,165 tỷ đồng;năm 2007 là 221,608 tỷ
đồng; mức tăng khoảng 81,17.
Vốn đầu tư của khu vực ngoài quốc doanh trong những năm gần đây được chú trọng, tăng khoảng 78,5trong vòng 3năm 2005-2007 năm 2005 là
2024,563 tỷ đồng và năm 2007 là 3613,629 tỷ đồng.Theo điều tra thực tế năm 2007 thì số vốn của các hộ gia dình là 1283,919 tỷ đồng và vốn của các tổ chức
doanh nghiệp là 2329,71 tỷ đồng.
Để tăng vốn cho đầu tư phát triển, chính phủ thực hiện huy động vốn thơng qua việc phát hành trái phiếu chính phủ từ năm 2003.Năm 2003 là 8.1 nghìn tỷ
đồng, năm 2004 là 6.5 nghìn tỷ đồng và năm 2006 khoảng 13.1 tỷ đồng.
Bên cạnh đó, chúng ta luôn coi trọng việc thu hút nguồn vốn từ bên ngoài. Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản luật và cơ chế chính sách với mục đích
khuyến khích nhà đầu tư nước ngồi mang vốn,cơng nghệ quản lý hiện đại vào Việt Nam.Cùng với đó là tạo lập môi trường đầu tư thuận lợi cho các nhà đầu tư
nước ngồi,giữ vững mơi trường kinh tế vĩ mơ ổn định,giảm chi phí đầu tư,giải quyết những vướng mắc cụ thể cho các nhà đầu tư trong nước và ngoài nước.
Đặc biệt từ khi Việt Nam là thành viên của tổ chúc thương mại thế giới WTO
Nhóm I
13
vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam gia tăng đáng kể.Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 2005 là 78,400 tỷ đồng, năm 2006 là 97,175 tỷ đồng, năm 2007
99,525 là tỷ đồng.Vốn đầu tư nước chiếm khoảng 30 tổng vốn đầu tư phát triển của nền kinh tế.Ngoài các nguòn vốn chủ yếu là ODA và FDI,vào Việt
Nam còn có lượng vốn mà doanh nghiệp tự đi vay nước ngồi hoặc vốn huy động thơng qua phát hành trái phiếu chính phủ bằng ngoại tệ ra nước ngồi.Tuy
nhiên chúng ta cũng chỉ mới phát hành tráiphiếu chính phủ ra nước ngoài nên nguồn vốn này chưa đáng kể.
Nguồn vốn ODA trong thời gian qua đạt thành tựu quan trọng.tổng mức ODA các nhà tài trợ cam kết cho nước ta trong giai đoạn 2000-2006 ước tính đạt 31 tỷ
USD,trong đó các khoản viện trợ khơng hồn lại chiếm 15-20.Nguồn vốn ODA đã được giải ngan khoảng 15.5 tỷ USD ,chiếm khoảng 50 giá trị ODA cam kết
tài trợ,trong đó 80 nguồn vốn đầu tư cho đầu tư phát triển còn lại là chi cho sự nghiệp,tốc độ giải ngân là 11.3.Hiện nay có 25 nhà tài trợ song phương,14 tổ
chức tài trợ đa phương và trên 350 NGO hoạt động tại Việt Nam.
Thu hút vốn FDI cũng đạt kết quả tích cực khoảng 298,4 nghìn tỷ đồng,tương ứng khoảng 19.5 nguồng vốn đầu tư phát triển của toàn nền kinh
tế.Trong số 64 nước đầu tư tại Việt Nam ,các nước châu Á chiếm trên 76 số dự án và trên 70 số vốn đăng kí,trong đó Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc
,Hồng Kơng chiếm trên 605 số dự án và đăng kí còn các nước EU chiếm khoảng 16 vê số dự án và 24 số vốn đăng kí,Hoa Kì chiếm khoảng 19.55 số dự án
va 2.7sơ vốn đăng kí.
Bên cạnh ODA và FDI thì một lượng vốn khơng nhỏ được chuyển vào nước ta là kiêu hối chuyển về hang năm .Lượng kiều hố năm 2006 dạt 4.5 tỷ
USDvà năm 2007 lên tới 10 tỷ USD, mức cao nhất từ trước tới nay.So với tổng mức ngoại tệ Việt kiều gửi về nước năm 2006, lượng kiều hối năm 2007 tăng gần
50. Nguyên nhân là do chính phủ Việt Nam áp dụng các quy chế mới đối với Việt kiều trong các lĩnh vực đầu tư, bất động sản và miễn thị thực nhập cảnh.
Đặc biệt gần đây quốc hội thông qua điều luật cho Việt kiều mua nhà tại Việt Nam.
Ngồi các nguồn vốn trên thì còn một lượng vốn vay của nước ngồi .Tuy nhiên, lượng vốn này khơng đáng kể, chỉ đạt khoảng 50 nghìn tỷ đồng. Lượng trái
phiếu chính phủ phát hành ra nước ngồi bằng ngoại tệ khoảng 5.5 nghìn tỷ đồng.
Nhóm I
14
II. Tình hình qn triệt các đặc điểm của đầu tư phát triển trong cơng tác đầu tư ở Việt Nam hiện nay.
1,Tình hình quán triệt các đặc điểm của đầu tư phát triển trong quản lý hoạt động đầu tư ở Việt Nam hiện nay.
1.1,Công tác quản lý đầu tư ở cấp độ vĩ mô.
Dựa trên việc nắm bắt các đặc điểm của đầu tư phát triển, ở mức độ vĩ mơ chính phủ đã có những cơ chế chính sách trong lĩnh vực đầu tư phát triển có
nhiều đổi mới, góp phần quan trọng trong việc cải thiện môi trường đầu tư, khuyến khích các chủ thể trong nền kinh tế đầu tư.Do nguồn vốn đầu tư phát
triển rất lớn, đầu tư phát triển có độ rủi ro cao đòi hỏi ở cấp độ vĩ mơ phải xây dựng các chính sách, quy hoạch, kế hoạch dầu tư đúng đắn, quản lý chặt chễ
tổng vổng vốn đầu tư, bố trí vốn đầu tư, thực hiện đầu tư có trọng tâm trọng điểm.Cùng với đó phải đưa ra các phương pháp dự báo nhận diện rủi ro cho các
doanh nghiệp trong nền kinh tế. Chính phủ đã ban hành các chính sách phù hợp huy động các nguồn lực
cho đầu tư phát triển, nguồn vốn đầu tư phát triển ngày càng được đa dạng hoá, cơ chế bao cấp trong dầu tư dần được xố bỏ. Cùng với đó đã nâng cao hiệu quả
sử dụng và nỗ lực cải thiện môi trường kinh tế chính trị cho đầu tư, củng cố lòng tin đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Cơ chế quản lý vốn đầu tư phát triển đã có nhiều thay đổi. Các văn bản pháp quy trong lĩnh vực đầu tư phát triển luôn được cập nhật, đổi mới, phù hợp
theo hướng phân cấp mạnh hơn trong quản lý đầu tư và xây dựng, đồng thời tăng cường vai trò kiểm tra, giám sát của các cơ quan quản lý nhà nước. Nhiều
nghị định mới, văn bản luật mới được ban hành thay thế cho những nghị định khơng còn phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế-xã hội và xu hướng tồn cầu
hố như luật đất đai, luật tài nguyên, luật đầu tư, luật đấu thầu…. Cùng với đó, Nhà nước cũng thực hiện đổi mới trong cơng tác quy hoạch,
thực hiện tốt vai trò định hướng đầu tư và là công cụ quản lý của nhà nước.Chất lưọng của công tác quy hoạch đã được chú ý,gắn kết với thực tế, bám sát với
nhu cầu thị trường, khai thác tốt hơn tiềm năng, thế mạnh của từng địa phương.
Nhóm I
15
Kiện tồn và tăng cường năng lực các bộ quản lý dự án đầu tư phát triển. Đa dạng hố các hình thức và mở rộng các lĩnh vực cho đầu tư nước ngoài là
một hướng đi mới mà Bộ kế hoạch và đ ầu tư đang nghiên cứu để kiến nghị Chính phủ nhằm thu hút nhiều hơn nữa nguồn vốn đầu tư cho phát triển.
Nhiều giải pháp cải thiện môi trường đầu tư đang được triển khai mạnh mẽ. Đối với vốn ODA, những khó khăn sẽ được tập trung tháo gỡ là giải phóng mặt
băng, bảo đảm đối ứng trong các dự án, đấu thầu và sử dụng tư vấn, kiện toàn và tăng cường năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý dự án, cải thiện thủ tục hành
chính và h hồ hố các thủ tuch đối với các nhà tài trợ.Các giải pháp thu hút vốn FDI được chú trọng đẩy mạnh là khâu quy hoạch, nhất là gắn quy hoạch
ngành, sản phẩm với quy hoạch vùng, nâng cao chất lượng và tính khả thi của danh mục ưu tiên gọi vốn FDI.Liên quan đến giải pháp về cơ chế chính sách vĩ
mơ, Chính phủ u cầu các ngành chức năng khi soạn thảo, bổ sung, sữa đổi chính sách, luật phấp phải tính đến tác động của chúng tới FDI, bảo đảm tính
nhất qn, thơng thống hơn và áp sát hơn với cac quy định của tổ chức WTO. Các cơ chế chính sách ưu đãi về thuế, đất sẽ đặc biệt quan tâm đến các nhà đầu
tư đã có dự án đang hoạt động tại Việt Nam, đồng thời cũng có nhưng quy chế riêng đói với các cơng ty xun qc .
Tuy nhiên trong quản lý cơng tác đầu tư ở cấp vĩ mơ cũng còn một số hạn chê.Với một quốc gia đang phát triển nhanh như Việt Nam, nhu cầu vốn rất lớn.
Tuy nhiên thực tế hiệu quả sử dụng các nguồn vốn của Việt Nam thì chưa cao. Theo chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan: “ Việt Nam, tồn tại một nghịch lý là
nước nghèo nhưng khơng biết tiêu tinền hợp lý,gây lãng phí”.Chúng ta chưa quan tâm đầy đủ việc sử dụng hiệu quả các nguồn vốn đầu tư kể cả ngân sách,
nguồn đầu tư trong nước cũng như nước ngoài và ODA. Đầu tư trong nướ là một
nguồn lực tốt ,thậm chí năm 2006, đầu tư trong nước còn lớn hơn FDI. Hầu hết đầu tư trong nước là các DN tư nhân,các cá nhân, do đó, họ có lợi ích thực, thúc
đẩy hiệu quả càng cao càng tốt.Tuy nhiên hiệu quả sử dụng vốn trong nước vẫn còn hạn chế do tác động chung của cac ngn lực khác: Cơ chế chính sách, vấn
đề cơ sở hạ tầng và cả những ưu đãi lớn dành cho DN nhà nước. Đáng ra, tư
Nhóm I
16
nhân có thể sử dụng nguồn vốn hiệu quả hơn rất nhiều.Tất nhiên không phủ nhận sự yếu kém của DN tư nhân trong nước, nhưng yếu tố quan trọng chính là
mơi trường kinh doanh còn q nhiều nhân tố bất ổn, do chính nhà nước tạo ra.Về cơ sở hạ tầng, nhiều nhà đầu tư nước ngoài mong đầu tư nhưng bản
thânViệt Nam lai chưa tạo điều kiện đầy đủ.Hình thức BOT đã được luật hố nhưng chưa có hướng dẫn thực sự để DN nước ngoài tham gia.Cách đây chưa
lâu, Phần Lan đã mất 5-7 năm để đàm phán để tham gia xây dựng hạ tầng, để đạt được kí kết.Họ phải mất them 2 năm đàm phán về giá cung cấp điện nhưng
khơng có kết quả.Cuối cùng nước này đã rút dự án ra khỏi Vệt Nam. Chúng ta càn rút ra kinh nghiệm để tránh những sai lầm trong công tác quản lý đầu tư.

1.2, Tình hình quản lý đầu tư phát triển ở cấp độ vi mô.


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (29 trang)

×