1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Thạc sĩ - Cao học >

Một số khái niệm liên quan đến đề tài

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.64 MB, 181 trang )


trình xây dựng. Các khái niệm “biện pháp”, “xây dựng”, “phát triển” được gắn kết trong một tổ hợp từ thể hiện vai trò của hoạt động chủ thể quản lý tác động vào đối
tượng nhằm đi đến một mục tiêu xác định. Đây thực sự là một hoạt động điều khiển của chủ thể con người, có mục đích, có suy nghĩ; là q trình lao động trí óc vận
dụng những tri thức cá nhân nhằm giải quyết vấn đề vì mục tiêu chung của hệ thống. Những “cách thức” này biểu hiện cụ thể của một trình tự cần theo trong
những bước có quan hệ với nhau khi tiến hành một việc có mục đích. Nói cách khác, đó là một hoạt động quản lý cho mọi loại hình tổ chức, các cán bộ chủ chốt ở
mọi cấp độ, và là một quyết định quan trọng chủ yếu của nhà quản lý trong nhiệm
vụ xác định mục tiêu, vạch ra kế hoạch hành động. 1.1.2. Đội ngũ giảng viên trường cao đẳng

1.1.2.1. Đội ngũ


Là một tổ chức gồm nhiều người tập hợp lại thành một lực lượng. Nội hàm của khái niệm này thể hiện tính thứ tự trong sự liên kết của số đơng người, có cùng
một nghề nghiệp hoặc khơng cùng nghề nghiệp, để thực hiện một hoặc nhiều chức năng có cùng chung một mục đích. Nói đến đội ngũ là nói đến cơ cấu và sự kỷ
cương của các thành viên. 1.1.2.2. Giảng viên
Là người làm nhiệm vụ giảng dạy ở các trường đại học hoặc cao đẳng, hay
các lớp huấn luyện cán bộ.
Khoản 3, Điều 70, Luât giáo dục năm 2005 có nói rõ: “Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo
viên; ở cơ sở giáo dục đại học gọi là giảng viên”.
Tiêu chuẩn để tuyển dụng giảng viên trong trường cao đẳng và đại học được điều 79 của Luật giáo dục 2005 ghi rõ: “Nhà giáo của trường cao đẳng, trường đại
học được tuyển dụng theo phương thức ưu tiên đối với sinh viên tốt nghiệp loại khá, loại giỏi, có phẩm chất tốt và những người có trình độ đại học, trình độ thạc sĩ, trình
độ tiến sĩ, có kinh nghiệm hoạt động thực tiễn, có nguyện vọng trở thành nhà giáo. Trước khi được giao nhiệm vụ giảng dạy, giảng viên cao đẳng, đại học phải được
bồi dưỡng về nghiệp vụ sư phạm” 1.1.2.3. Trường cao đẳng
Là một bậc học của giáo dục đại học trong hệ thống giáo dục quốc dân. Theo
Luật giáo dục 2005, điều 38, giáo dục đại học gồm:
- Đào tạo trình độ cao đẳng - Đào tạo trình độ đại học
- Đào tạo trình độ thạc sĩ - Đào tạo trình độ tiến sĩ,
Khoản 1, điều 38 nêu rõ: “Đào tạo trình độ cao đẳng được thực hiện từ hai đến ba năm học, tuỳ theo ngành nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp
trung học phổ thơng hoặc người có bằng tốt nghiệp trung cấp; từ một năm rưỡi đến hai năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung cấp cùng chuyên ngành.
Mục a, khoản 1, điều 42 nêu rõ: “trường cao đẳng đào tạo trình độ cao đẳng”. Khoản 1, điều 43 qui định: “Sinh viên học hết chương trình cao đẳng, có đủ
điều kiện thì được dự thi và nếu đạt yêu cầu theo qui định của Bộ trưởng Bộ giáo dục đào tạo thì được hiệu trưởng trường cao đẳng hoặc trường đại học cấp bằng tốt
nghiệp cao đẳng”. Trường Cao đẳng PT-TH là một trường ngành, trực thuộc Đài Tiếng nói Việt
Nam “có nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức” theo điều 49, Luật giáo dục qui định. Về đặc điểm, tình hình của trường, chúng tôi sẽ trở lại trong chương
2. Xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên trong trường cao đẳng cũng như
bất kỳ một bậc học nào khác trong hệ thống giáo dục quốc dân là việc luôn luôn được quan tâm cả về số lượng và chất lượng. Đội ngũ giảng viên không phải là một
tập hợp các giảng viên theo một phép cộng, mà là một tập thể sư phạm, cùng chung mục đích, có tổ chức, có kỷ cương, cùng nhau thực hiện mục tiêu giáo dục đã đề ra.
Đội ngũ giảng viên là chủ thể trực tiếp của quá trình quản lý, tổ chức và hướng dẫn quá trình giáo dục và học tập của học sinh, sinh viên. Ba chức năng vốn có của giáo
dục cao đẳng, đại học là: đào tạo, nghiên cứu và phục vụ gắn liền với hoạt động sư phạm của đội ngũ giảng viên trong nhà trường. Chính vì lẽ đó, số lượng của giảng
viên so với học sinh, sinh viên cần tương đồng với một tỉ lệ nhất định với những môn học, ngành đào tạo của chương trình đào tạo. Giảng viên phải có tâm, tài, am
tường kiến thức chuyên môn. Chỉ thị của Bộ trưởng Bộ Giáo dục-Đào tạo ngày 482003 đã nói rõ điều này: “Xây dựng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục
có phẩm chất chính trị và đạo đức, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, chuẩn về trình độ đào tạo”.
Xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên là một thuật ngữ khoa học quản lý giáo dục, bao gồm các hoạt động cụ thể:
- Tuyển chọn. - Phân công, sắp xếp.
- Quản lý bộ máy hoạt động. - Bồi dưỡng đào tạo.
- Đánh giá. - Kiểm tra.
Đội ngũ giảng viên trường cao đẳng bao gồm những người trực tiếp giảng dạy và quản lý giáo dục. Theo quyết định số 538TCCP-TC của Ban Tổ chức chính
phủ, giảng viên trong trường cao đẳng, đại học được xếp ở ba ngạch sau: giảng viên, giảng viên chính, giảng viên cao cấp. Với mỗi ngạch đều có những qui định cụ
thể về tiêu chuẩn nghiệp vụ riêng.
1.2. Quan điểm của Đảng và Nhà nước chỉ đạo về việc xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên
Đội ngũ giáo viên nói chung và đội ngũ giảng viên ở bậc cao đẳng, đại học nói riêng cùng với những người làm cơng tác quản lý giáo dục là lực lượng chính để
thực hiện thành công đường lối giáo dục của Đảng và Nhà nước. Chính vì lẽ đó, bên cạnh những quan điểm chỉ đạo về chiến lược giáo dục, Đảng và Nhà nước luôn luôn
quan tâm tới đội ngũ những người tham gia vào việc đào tạo giáo dục ở mọi cấp học. Trải qua nhiều thời kỳ khác nhau, từ những ngày thành lập nhà nước cách
mạng 1945 cho đến giai đoạn những năm gần đây, những văn kiện chỉ đạo của Đảng qua các kỳ đại hội cũng như các văn bản của Nhà nước thể hiện tính nhất
quán về lý luận trong chiến lược giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên nói chung
và đội ngũ giảng viên nói riêng thực sự là một nhiệm vụ cấp bách, một trong những giải pháp chủ yếu để thực hiện thành công chiến lược phát triển giáo dục
trong thời kỳ cơng nghiệp hóa CNH, hiện đại hóa HĐH đất nước.
Nghị quyết TW lần thứ II, khóa VIII về định hướng chiến lược phát triển giáo dục-đào tạo trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước đã chỉ rõ việc cấp bách trong
việc xây dựng đội ngũ giáo viên, tạo động lực cho người dạy và học. Nghị quyết xác định: “Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng của giáo dục và được xã hội
tôn vinh. Giáo viên phải có đủ đức, đủ tài”. Đây là giải pháp thứ hai trong bốn giải
pháp chủ yếu mà nghị quyết đề cập.
Báo cáo của Ban chấp hành TW Đảng khóa IX ngày 1042006 về phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội 5 năm 2006-2010 cũng đã chỉ rõ: “Ưu
tiên hàng đầu cho việc nâng cao chất lượng dạy và học. Đổi mới phương pháp dạy và học, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên”. Trên tinh thần này Đại hội Đảng
lần X đã đề ra nhiệm vụ của việc phát triển đội ngũ giáo viên về số và chất lượng để
đủ sức đáp ứng yêu cầu của kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội thời kỳ mới.
Cụ thể hóa sự chỉ đạo của Đảng về công tác xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo, các văn bản của Nhà nước đã luật hóa nhiệm vụ, quyền và cơng tác đào
tạo, bồi dưỡng của nhà giáo. Sau nhiều lần thay đổi, luật giáo dục năm 2001 đã
dành hẳn chương IV với 2 mục, 13 điều qui định về nhà giáo:
- Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường hoặc
các cơ sở giáo dục khác. - Nhà giáo phải có những tiêu chuẩn sau đây:
+ Phẩm chất, đạo đức tư tưởng tốt .
+ Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ + Đủ sức khoẻ theo yêu cầu nghề nghiệp.
+ Lý lịch bản thân rõ ràng.
- Nhà giáo có những nhiệm vụ sau đây: + Giáo dục, giảng dạy theo mục tiêu, nguyên lý giáo dục, thực hiện đầy đủ
và có chất lượng chương trình giáo dục.
+ Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, các qui định của pháp luật và điều lệ nhà trường.
+ Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo; tôn trọng nhân cách của người học, đối xử công bằng với người học, bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng
của người học.
+ Khơng ngừng học tập, rèn luyện để nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chính trị chun mơn, nghiệp vụ, đổi mới phương pháp giảng dạy, nêu gương tốt
cho người học. + Các nhiệm vụ khác theo qui định của pháp luật. Điều 72
Trong xu thế hội nhập chung của thế giới, giáo dục phải đi trước một bước, và là chìa khóa để kích cầu sự chuyển động hệ thống kinh tế-xã hội phát triển.
Chiến lược giáo dục giai đoạn 2001-2010 của Đảng và Nhà nước đã đáp ứng được
yêu cầu tất yếu tình hình mới, đề ra 7 giải pháp để phát triển giáo dục. Ngoài giải pháp đầu tiên là đổi mới mục tiêu, nội dung, chương trình giáo dục thì giải pháp
được đề cập tiếp theo là phát triển đội ngũ giáo viên, đổi mới phương pháp giáo dục. Nội dung của giải pháp này nêu rõ:
- Phát triển đội ngũ nhà giáo đảm bảo đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu và chuẩn về chất lượng đáp ứng nhu cầu vừa tăng qui mô, vừa nâng cao chất lượng và
hiệu quả giáo dục. - Đổi mới và hiện đại hóa phương pháp giáo dục. Chuyển từ việc truyền đạt
tri thức thụ động, thầy giảng, trò ghi sang hướng dẫn người học chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức; dạy cho người học phương pháp tự học, tự thu nhận
thơng tin một cách hệ thống và có tư duy phân tích, tổng hợp; phát triển được năng lực của mỗi cá nhân; tăng cường tính chủ động, tính tự chủ của học sinh, sinh viên
trong q trình học tập, hoạt động tự quản trong nhà trường và tham gia các hoạt động xã hội.
- Đổi mới chương trình đào tạo và bồi dưỡng giáo viên, giảng viên, chú trọng việc rèn luyện, giữ gìn và nâng cao phẩm chất đạo đức nhà giáo.
Giáo viên các trường dạy nghề và trung học chuyên nghiệp: Đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên các trường dạy nghề và trung học chuyên nghiệp theo
chuẩn, bổ sung giáo viên cho một số lĩnh vực ngành nghề mới, thực hiện luân phiên bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ theo chu kỳ 5 nămlần. Nâng tỉ lệ giáo viên trung
học chuyên nghiệp có trình độ sau đại học lên 10 vào năm 2010. Phát triển đội ngũ giáo viên thỉnh giảng bao gồm các công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ
trình độ cao trong các doanh nghiệp, các giảng viên của các trường đại học, cao đẳng và các viện nghiên cứu công nghệ.
Giảng viên đại học, cao đẳng: Khẩn trương đào tạo, bổ sung và nâng cao trình độ đội ngũ giảng viên đại học, cao đẳng để một mặt giảm tỉ lệ sinh viên trung
bình đang quá cao hiện nay từ 30 xuống khoảng 20, trong đó 10-15 đối với các ngành khoa hoc tự nhiên, kĩ thuật và công nghệ, 20-25 đối với các ngành khoa học
xã hội và nhân văn, các ngành kinh tế; mặt khác, đón đầu sự phát triển giáo dục đại học những năm sắp tới. Tăng chỉ tiêu đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ bổ sung nhân lực trình
độ cao cho các trường đại học, cao đẳng. Tăng tỉ lệ giảng viên đại học có trình độ thạc sĩ lên 40, có trình độ tiến sĩ lên 25 vào năm 2010. Chú trọng đào tạo giảng
viên nữ có trình độ cao. Giảng viên được tạo điều kiện để tiếp cận với tri thức và các thành tựu khoa học - công nghệ mới của thế giới.
Lựa chọn các sinh viên giỏi bổ sung nguồn giáo viên cho các trường đại học, cao đẳng và tiếp tục đào tạo trong và ngoài nước. Ưu tiên gửi giảng viên đại học
cao đẳng đi đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước và các nguồn kinh phí khác. Mời và tạo điều kiện thuận lợi cho các cán bộ khoa học-cơng
nghệ có trình độ cao, có kinh nghiệm thực tiễn đang làm việc cho các viện nghiên cứu, các cơ quan quản lý, các doanh nghiệp và các nhà khoa học Việt Nam ở nước
ngoài tham gia giảng dạy ở các trường đại học, cao đẳng. Hoàn thiện định mức lao động, chế độ làm việc, chế độ chính sách đối với
nhà giáo: Từng bước xây dựng chế độ trả lương theo số lượng và chất lượng dạy học. Thực hiện tốt các chính sách ưu đãi đối với nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục ở
các vùng có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn, giáo dục các đối tượng đặc biệt. Nhà nước có chế độ, chính sách ưu đãi về lương đối với nhà giáo. Mở rộng diện tuyển
giáo viên, giảng viên theo chế độ hợp đồng dài hạn. Tăng cường năng lực đào tạo và đổi mới chương trình đào tạo của các trường
sư phạm và các khoa sư phạm: Thành lập mới các khoa sư phạm, các trung tâm đào tạo, bồi dưỡng giáo viên trong một số trường đại học và cao đẳng khác. Tập trung
xây dựng hai trường sư phạm trọng điểm vừa đào tạo giáo viên có chất lượng cao, vùa nghiên cứu khoa học giáo dục đạt trình độ khoa học tiên tiến. Ưu tiên đào tạo
giáo viên người dân tộc và giáo viên biết tiếng dân tộc cho các cơ sở giáo dục ở vùng có nhiều người thuộc các dân tộc thiểu số.
1.3. Vai trò, nhiệm vụ và yêu cầu đối với đội ngũ giảng viên 1.3.1. Vai trò của đội ngũ giảng viên
Đội ngũ giảng viên là một tập thể sư phạm có cùng chung một nghề nghiệp,
thực hiện mục đích giáo dục theo tinh thần của UNESCO là:
- Giáo dục phải góp phần vào việc đào tạo một lực lượng lao động lành nghề và sáng tạo thích ứng được với bước tiến hóa của cơng nghệ và tham gia cuộc “cách
mạng trí tuệ” đang là động lực của các nền kinh tế.
- Giáo dục đẩy tới trí thức sao cho phát triển kinh tế đồng hành với việc quản
lý có trách nhiệm mơi trường vật thể và con người.
- Đào tạo nên những công dân được bắt rễ trong chính nền văn hóa của họ
mà vẫn mở ra với các nền văn hóa khác và một lòng vì tiến bộ xã hội [33.101-102].
Giáo dục cao đẳng, đại học và dạy nghề có nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội. Chính vì vậy, đội ngũ giảng viên dạy ở bậc cao đẳng và đại học có vai
trò rất lớn, trực tiếp đào tạo ra một lực lượng lao động có tri thức, trình độ tay nghề cao, thực hiện thành công mục tiêu tổng quát của Chiến lược phát triển kinh tế-xã
hội 2001-2010: “Đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020
nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiên đại hóa”[14.01]. Đội ngũ giảng viên đã góp phần hình thành phẩm chất, năng lực cần thiết của
người lao động, có thái độ tích cực trong cuộc sống, có nhân cách và có tư duy cao, thực hiện mục tiêu của giáo dục đại học Việt Nam: Đào tạo ra những con người
năng động, sáng tạo, tự chủ, có óc phê phán, có năng lực giải quyết vấn đề, có năng lực tự học, tự nghiên cứu suốt đời, có năng lực tạo nghiệp, tiến thân lập nghiệp
trong thị trường sức lao động. Đây chính là sản phẩm cần thiết nhất mà xã hội đã đặt hàng cho những người Thầy, người Cô phải có trách nhiệm cao đối với đất
nuớc. Như vậy, đội ngũ giảng viên ở bậc cao đẳng cũng phải có trách nhiệm như các nhà giáo giảng dạy ở bậc trung học cơ sở hay trung học phổ thông là góp phần
vào việc hình thành và phát triển nhân cách người học, qua dạy học để giáo dục những phẩm chất tốt đẹp của người lao động, giúp người học hình thành và phát
triển những thái độ, những đặc điểm, những thuộc tính tâm lý riêng trong quan hệ với mọi người, xã hội và bản thân.
Đối tượng giảng dạy của đội ngũ giảng viên là học sinh, sinh viên đã qua giai đoạn phổ thông, khát khao được mở rộng về trí tuệ và tính tự lập. Đội ngũ giảng
viên thông qua những người Thầy vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng, tư vấn hoạt động học, phát triển trí tuệ người học. Sự phát triển về khoa học
công nghệ, sự bùng nổ về thông tin, đặc biệt là sự phát triển mạnh mẽ của Internet và công nghệ truyền thông cùng với sự phát triển của nền kinh tế trong nước, xu
hướng hội nhập quốc tế đã có những ảnh hưởng rất lớn đến đời sống con người nói chung và q trình giảng dạy của người giảng viên nói riêng. Trong dạy học xuất
hiện nhiều hình thức giảng dạy mới như dạy học trên truyền hình, dạy học trực tuyến. Với các phương tiện dạy học mới, hiện đại, các phương pháp dạy học mới đã
làm thay đổi quá trình và cách thức truyền đạt tri thức từ người giảng viên tới học sinh, sinh viên. Vai trò của người Thầy cũng có những thay đổi đáng kể. Từ vị trí
trung tâm, chủ động truyền thụ kiến thức, kinh nghiệm, vai trò của người Thầy ngày nay đang chuyển dịch theo hướng chỉ đạo, định hướng, tư vấn, hướng dẫn cho
người học. Người học trở thành trung tâm của quá trình dạy học, chủ động, sáng tạo tìm tòi, làm chủ kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp. Người Thầy càng phải có trách
nhiệm cao hơn trước, giúp người học nhận thức được những kiến thức đúng, bổ ích, đồng thời tư vấn cho người học cách thức tổ chức cũng như phương pháp học tập
phù hợp để họ có thể lĩnh hội và sử dụng đúng đắn những tri thức mà họ đã thu
lượm được.
Nói cho cùng, dù xét ở góc độ nào chăng nữa đối với các phương pháp dạy học tích cực, hay phương pháp lấy người học làm trung tâm, thì vai trò của người
Thầy trong mối quan hệ giữa GV và HS là quan trọng nhất. Hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò là hai thành tố trung tâm đặc trưng cho tính hai mặt của
q trình dạy cao đẳng, đại học. Trong khi thực hiện nhiệm vụ sư phạm của mình, người thầy phải biết thiết kế và tổ chức quá trình dạy học để làm nảy sinh tri thức ở
người học. Người học dù có tiềm năng đến mấy mà khơng có sự hướng dẫn của
thầy dạy thì cũng khó có thể định hướng được quá trình học tập của bản thân đến mục tiêu mong muốn. Vai trò chủ đạo của thầy có ý nghĩa rất lớn đối với sự hình
thành phương pháp tư duy khoa học và tính tích cực nơi người học: Chủ động về nội dung, phương pháp truyền giảng, khai thác mọi điều kiện và phương tiện làm
việc, chủ động tạo ra mơi trường giáo dục, hình thành động cơ học tập, quyết định phương pháp học tập của học sinh. Người Việt nam ta thường có câu: “Khơng thầy
đố mày làm nên” là vậy.
GV dạy
MÔI TRƯỜNG
học
NỘI DUNG
HS
Sơ đồ 1.1: Cấu trúc 3 yếu tố hoạt động dạy học của G.Brousseau, Margolinas Đội ngũ giảng viên trong trường cao đẳng là một tập thể bao gồm các giảng
viên giảng dạy theo chương trình đào tạo của nhà trường. Các giảng viên của nhiều phân môn thông qua các học phần chuyên sâu cùng tác động vào đối tượng người
học, giúp họ hình thành khối kiến thức nền tảng, kỹ năng nghề nghiệp, phương pháp tư duy và thái độ. Đó chính là cơ sở của việc hình thành thế giới quan, nhân sinh
quan phù hợp với yêu cầu, mục đích giáo dục mà chương trình đào tạo đặt ra. Điều cũng cần nói thêm nữa là: sự chặt chẽ khoa học của chương trình được các chuyên
gia truyền đạt sinh động sẽ tạo niềm say mê và niềm tin cho chính người học. Và,
tấm gương của từng cá nhân mỗi giảng viên cũng như cả một tập thể giảng viên đoàn kết tác động rất lớn đến thái độ sống của học sinh, sinh viên trong quá trình
học tập cũng như sau này bước vào đời. Xét về mặt hệ thống điều khiển học, đội ngũ giảng viên thực sự là cánh tay
nối dài của hiệu trưởng được tổ chức qua các đơn vị khoa về mặt chuyên môn.Các đơn vị khoa, bộ môn, trực tiếp là các giảng viên theo sự chỉ đạo của hiệu trưởng
thực hiện nhiệm vụ chun mơn để đạt mục đích, mục tiêu giáo dục được nhà nước giao.
Khẳng định vai trò của đội ngũ thầy, cơ giáo trong sư nghiệp giáo dục hiện nay, ngày 19112007, Tổng bí thư Nơng Đức Mạnh trong bài phát biểu nhân kỷ
niệm 25 năm ngày nhà giáo Việt Nam tại trường Trung học cơ sở Trưng Vương-Hà nội đã nêu rõ: Đội ngũ thầy, cơ giáo có vai trò quyết định trong viêc giáo dục thế hệ
tương lai của đất nước. Mỗi thầy giáo, cô giáo, mỗi cán bộ quản lý giáo dục phải là một tấm gương về đạo đức và phong cách; phải khơng ngừng nâng cao trình độ và
năng lực; có lòng u nghề; hết lòng vì thế hệ trẻ, tận tuỵ và sáng tạo trong công việc.

1.3.2. Nhiệm vụ của đội ngũ giảng viên


Ngoài điều 72 của Luật giáo dục, ban hành năm 2005, quy định về nhiệm vụ của nhà giáo nói chung, Điều 26 trong Điều lệ trường cao đẳng ban hành kèm theo
quyết định số 562003QĐ-BGDĐT ngày 10122003 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo đã nêu rõ nhiệm vụ của giảng viên như sau: - Chấp hành nghiêm chỉnh chủ trương, Nghị quyết của Đảng, chính sách,
pháp luật của nhà nước; thực hiện các quy chế của Bộ GD-ĐT, Bộ LĐ-TB-XH,
Điều lệ trường cao đẳng và quy chế tổ chức và hoạt động của trường.
- Giảng dạy theo đúng nội dung, chương trình đã được Bộ GD-ĐT, Bộ LĐ-
TB-XH và trường quy định; viết giáo trình, phát triển tài liệu phục vụ giảng dạy học tập theo sự phân công của Trường, Khoa, Bộ môn.
- Chịu sự giám sát của các cấp quản lý về chất lượng, nội dung, phương pháp
đào tạo và nghiên cứu khoa học. - Tham gia hoặc chủ trì các đề tài nghiên cứu khoa học, ứng dụng chuyển
giao công nghệ theo sự phân công của Trường, Khoa, Bộ mơn. -
Giữ gìn phẩm chất, uy tín danh dự của nhà giáo; tôn trọng nhân cách của người học, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người học, hướng dẫn người học
trong học tập, nghiên cứu khoa học, rèn luyện tư tưởng, đạo đức tác phong, lối sống.
- Không ngừng tự bồi dưỡng nghiệp vụ, cải tiến phương pháp giảng dạy để nâng cao chất lượng đào tạo; Hồn thành tốt các cơng tác khác được Trường, Khoa,
Bộ môn giao. Những nhiệm vụ của giảng viên trên đây đã được quy định dưới các điều
khoản của văn bản luật, điều lệ. Dưới góc độ lý luận dạy học, theo PGS-TS Đoàn Văn Điều, nhiệm vụ của giảng viên dạy bậc cao đẳng và đại học gồm 4 vấn đề:
- Dạy tri thức + dạy kỹ năng. - Dạy nghề.
- Dạy phương pháp học tập và tư duy. - Dạy thái độ.
Trong đó, nội dung dạy, phương pháp học tập và tư duy là một vấn đề rất quan trọng, giúp sinh viên có khả năng tự thân vận động, tự học, tự tìm kiếm tài liệu
học tập và nghiên cứu khoa học. Nội dung này đáp ứng yêu cầu trình độ phát triển của tâm lý, trí tuệ đối tượng sinh viên và phù hợp với mục đích, yêu cầu của giáo
dục đại học.
1.3.3. Yêu cầu đối với đội ngũ giảng viên 1.2.3.1. Nhận thức chính trị, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp
Giảng viên là những người đào tạo nguồn nhân lực. Nguồn nhân lực này quyết định bước đi thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước trong 20 năm đầu của thế kỷ 21. Chưa bao giờ yêu cầu về nguồn nhân lực có trình độ cao mà chúng ta lại thiếu như hiện nay. Sự phát triển của khoa học kỹ thuật
và q trình tồn cầu hóa đang diễn ra đòi hòi nền kinh tế của chúng ta muốn phát triển phải đi theo hướng kinh tế trí thức. Giảng viên là nhà giáo, nhà khoa học đồng
thời cũng là những người lính trên mặt trận khoa học, kỹ thuật cần phải nắm được sứ mệnh thiêng liêng mà Tổ quốc, xã hội, cộng đồng đã đặt niềm tin. UNESCO đã
từng đưa ra những khuyến nghị, nhấn mạnh vai trò của nghề dạy học cao quý như sau:
- Dạy học là một sự nghiệp suốt đời nhằm phục vụ xã hội, Tổ quốc và nhân loại.
- Dạy học là một hiện thân và là một thử thách đối với lòng tận tụy, đức hy sinh, sự phấn đấu suốt đời; tình u và cơng việc dạy học sẽ đòi hỏi phải hành động
vì lợi ích cơng việc, cũng như vì thành tựu của đối tượng phục vụ thay vì những lợi ích vị kỷ vật chất.
- Dạy học được tôi luyện nhờ hiểu biết sâu sắc bộ môn khoa học mà mình phụ trách và nhân cách của bản thân khi tham gia đầy đủ vào quá trình giáo dục
giảng dạy hướng tới việc hình thành nên bầu khơng khí tơn trọng, hiểu biết lẫn nhau và hợp tác giữa thầy và trò, giữa các đồng nghiệp.
- Dạy học là một lĩnh vực của những nỗ lực không mệt mỏi, người thầy phải huy động hết sức những hiểu biết đầy đủ nhất của mình để thực hiện chức năng của
ngưới thầy theo những chuẩn mực cao nhất về chất lượng. Nhận thức được ý nghĩa chính trị chính là hiểu được vị trí của sứ mệnh
thiêng liêng của nghề nghiệp, trách nhiệm cao quý của đạo làm thầy nói chung và yêu cầu cấp bách của sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực hiện nay. Cố Thủ tướng
Phạm Văn Đồng đã từng nói: Nghề dạy học là một nghề cao quý trong những nghề cao quý. Chiến lược giáo dục 2001-2010 đã khẳng định giáo dục là quốc sách hàng
đầu và tơn vinh vị trí của các nhà giáo, của đội ngũ giảng viên góp phần đắc lực thực hiện các mục tiêu của Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2001-2010.
Yêu cầu về nhận thức chính trị của đội ngũ giảng viên phải gắn với đạo đức làm Thầy. Không phải chỉ là những người truyền thụ kiến thức, đội ngũ giảng viên
còn phải là những nhà giáo dục. Nhân cách của người thầy có ảnh hưởng trực tiếp đến học sinh, sinh viên. Chính vì vậy đạo đức của giảng viên phải được đưa lên là
tiêu chí quan trọng hàng đầu cùng với các tiêu chí quan trọng khác. Có thể tóm lược vấn đề này ở những điểm sau:
- Yêu nghề, tận tâm, có trách nhiệm cao trong giảng dạy. - Có nếp sống lành mạnh.
- Trung thực, ngay thẳng. - Có tinh thần kỷ luật cao.
- Thương yêu học sinh, quý trọng đồng nghiệp. Tình yêu thương và sự chuẩn mực, gương mẫu trong cuộc sống, đó là con
đường ngắn nhất để người Thầy chinh phục trái tim người học, truyền giảng kiến thức, mở mang trí tuệ theo mục đích, mục tiêu đề ra. Lý luận và thực tiễn đã chứng
minh: phong cách, đạo đức của người thầy ảnh hưởng trực tiếp đến thái độ môn học, lương tâm đối với nghề của sinh viên. Với kiến thức và kinh nghiệm của mình,
một người thầy tâm huyết có khả năng thích nghi và phát huy tác dụng tích cực mọi điều kiện dạy học, dù rất hạn chế, giúp sinh viên khắc phục khó khăn để hồn thành
tốt nhiệm vụ học tập.

1.3.3.2. Kiến thức chuyên môn


Người Thầy phải là những chuyên gia trên lĩnh vực chuyên môn. Kiến thức của người Thầy phong phú, sâu, chuẩn xác là cơ sở cho sự tự tin và sự sáng tạo trên
bục giảng. Người học tìm đến thầy học hỏi đầu tiên là kiến thức. Khơng lẽ gì người thầy lại khơng có, hoặc thiếu nền tảng quan trọng này. Kiến thức chun mơn của
người thầy được hình thành trong q trình tự nghiên cứu, tích lũy theo thời gian.
Thực tiễn cho thấy, những người thầy có chun mơn vững vàng dễ chinh phục được trí tuệ ham hiểu biết của đối tượng nghe giảng. Trên cơ sở sự chuẩn xác của
kiến thức, sự hấp dẫn của vấn đề mà người thầy trình bày có tác động trực tiếp đến sự suy nghĩ, gợi mở trong tư duy của học sinh, sinh viên.
Tất nhiên, ngồi kiến thức chun mơn sâu, rộng, người thầy còn cần trang bị thêm những kiến thức khác về xã hội, pháp luật, khả năng ứng xử giao tiếp để
giải quyết các tình huống, nghiệp vụ sư phạm. Nhưng, điều kiện cần có, tiên quyết ở người giảng viên vẫn phải là nắm chắc kiến thức chuyên môn trước khi lên bục
giảng.
1.3.3.3. Nghiệp vụ sư phạm và những kiến thức, kỹ năng cần thiết khác a. Nghiệp vụ sư phạm
Trình độ nghiệp vụ sư phạm là những kiến thức khoa học giáo dục, tâm lý học và phương pháp dạy học. Người thầy cần trang bị những kiến thức sư phạm,
kiến thức tâm lý học và xã hội học để có thể tổ chức, điều khiển, lãnh đạo hoạt động nhận thức của sinh viên.
Giảng viên phải thông hiểu sâu sắc cơ sở khoa học của các phương pháp và vận dụng nhuần nhuyễn vào các tình huống trong thực tế: sử dụng phương pháp
thuyết trình, hỏi-đáp, đàm thoại, sử dụng phương pháp tham quan, hoặc sử dụng phương tiện nghe - nhìn v.v. Khơng chỉ là người truyền đạt kiến thức một chiều
trong hệ thống phương pháp sư phạm đóng, giảng viên còn phải là một nhà “kiến trúc sư” tài năng, am hiểu con người cho cơng trình xây dựng tri thức nơi người
học. Điều đó có nghĩa là giảng viên khơng chỉ là thợ dạy, mà còn phải là người thực hiện một khối lượng công việc lớn hơn rất nhiều để có những giờ lên lớp hiệu quả.
Đối tượng người học với trình độ tâm sinh lý và mục đích, yêu cầu giảng dạy cao hơn so với học sinh trung học phổ thông, nên tất yếu phải có nghiệp vụ sư phạm
phù hợp, tương thích để đạt hiệu quả cao nhất. Người giảng viên cần phải giữ vai trò chủ đạo trong q trình tổ chức và điều khiển học tập, đáp ứng một loạt các yêu
cầu: nhận thức đúng đắn mục đích hoạt động dạy học, tổ chức các hoạt động sao
cho phù hợp với đối tượng người học thông qua sự lựa chọn và vận dụng phối hợp các phương pháp.
Để thực hiện thành cơng q trình sư phạm này, người giảng viên phải tìm hiểu những thơng tin cần thiết về sinh viên để xác định: Làm cách nào để sinh viên
học hiệu quả nhất? Trên cơ sở đó người giảng viên thực hiện công việc giảng dạy, hướng dẫn và giúp đỡ sinh viên một cách tích cực. Mỗi sinh viên đến lớp với những
nét khác nhau, từ nhu cầu, động cơ học tập, kiến thức nền tảng, phương pháp học tập và trình độ tư duy, tính cách và thái độ đến hồn cảnh gia đình. Nhận thức và
phân tích tốt những yếu tố này để hướng tới mục tiêu học tập, người giảng viên mới có thể tổ chức dạy thành công, đáp ứng được các nhu cầu khác nhau của người học.
- kiến thức đã có - phương pháp học đã có
- thái độ đã có đối với môn học
Nhu cầu cá nhân - điều kiện kinh tế – xã hội
- hoàn cảnh cá nhân
Giáo viên
- kiến thức chuyên ngành - kiến thức sư phạm
- kiến thức tâm lí giáo dục - kinh nghiệm giảng dạy
- đạo đức nghề
Xác đònh nội dung, mục
tiêu
Xác đònh phương pháp, phương tiện dạy học
Xác đònh hướng kiểm tra, đánh giá
Tạo các yếu tố tâm lí tích cực để SV thích nghi với điều kiện học tập
Thơng tin về sinh viên
Sơ đồ 1.2. Vai trò của giảng viên dạy cao đẳng, đại học trong phương pháp lấy người học làm trung tâm
Bước tiếp theo của quá trình sư phạm này là người giảng viên phải xây dựng được kế hoạch giảng dạy. Đây là lúc người giảng viên sử dụng kiến thức sư phạm của
mình để xác định trước một định hướng của cả quá trình học của người học và phương pháp của người dạy sao cho bảo đảm ngun tắc chung của dạy học có tính
chất nghiên cứu. Cụ thể của sự hoạch định này gồm những vấn đề sau: - Lựa chọn nội dung giảng dạy, xác định các mục tiêu cho từng nội dung sao
cho phù hợp với mục đích giáo dục chung và phù hợp với người học. - Xác định các phương pháp dạy có khả năng đưa chính người học đạt mục
đích tốt nhất, cùng sự chuẩn bị các phương tiện thiết bị giảng dạy phù hợp, đạt hiệu quả nhất.
- Xác định cách đánh giá và thời điểm đánh giá người học trong suốt quá trình học.
- Tạo nên một khơng khí thoải mái, cởi mở trong học tập để người học tiếp thu được nhiều kiến thức, kỹ năng nhất.

b. Năng lực sư phạm


Năng lực sư phạm của người giảng viên được hình thành trên cơ sở các tri thức khoa học giáo dục và tâm lý học được thể hiện ở những kỹ năng sau đây:
- Kỹ năng chuẩn bị bài giảng và tiến hành bài giảng. - Kỹ năng nhận xét chất lượng bài giảng và sử dụng thiết bị.
- Kỹ năng tổ chức. - Kỹ năng giao tiếp sư phạm.

c. Kỹ năng công cụ


Sự phát triển của khoa học kỹ thuật, đặc biệt là công nghệ thông tin những năm cuối thế kỷ 20 đặt ra nhiều thuận lợi cho ngành giáo dục đào tạo và đội ngũ
giảng viên. Người giảng viên có điều kiện tiếp xúc, cập nhật kiến thức nhiều hơn với nguồn thông tin qua Internet lưu trữ tiếng Việt đồ sộ, nếu không đủ qua kho lưu
trữ tiếng Anh, tiếng Pháp vv… Chỉ cần môt cú click chuột, một thế giới xa lạ mà gần gũi hiện ra cho phép mọi nguời biết tất cả. Vấn đề ở chỗ phải biết sử dụng, kết
nối cho bản thân. Biết sử dụng máy tính cùng với các phần mềm tương thích cho mỗi chuyên ngành riêng cùng vốn ngoại ngữ là cơ hội cho người giảng viên làm
chủ được mình, làm giàu cho trí tuệ của mình. Muốn nắm bắt được tri thức phải biết và giỏi ngoại ngữ, vi tính.Với những trường ngành đặc biệt, các thiết bị công nghệ
thông tin phát triển trên nền tảng của kỹ thuật số được trang bị nhiều là cơ hội để đội ngũ giảng viên tiếp cận nghiên cứu, nâng cao chất lượng giảng dạy.
Biết và giỏi vi tính cũng như ngoại ngữ, đó là kỹ năng công cụ của người giáo viên giảng dạy ở mọi cấp học, đặc biệt là giảng viên dạy bậc cao đẳng, đại học.
Tóm lại, cơng việc lao động sư phạm của người giảng viên có những nét đặc thù riêng biệt. Vai trò, nhiệm vụ của người giảng viên rất quan trọng trong việc đào
tạo nguồn nhân lực cho Quốc gia, góp phần trực tiếp làm tăng trưởng kinh tế, tạo ra sự phân công lao động mới, đáp ứng yêu cầu cao của xã hội, thực hiện thành công
chiến lược kinh tế-xã hội giai đoạn 2001-2010 và chụẩn bị cho giai đoạn tiếp theo đến năm 2020.
Sự phát triển của xã hội đã tác động rất lớn đến lao động sư phạm của người thầy nói chung. Theo đánh giá của UNESCO, vai trò của người thầy trong xã hội
hiện nay thay đổi theo các hướng sau: - Đảm nhận nhiều chức năng hơn so với trước, có trách nhiệm lớn hơn trong
việc lựa chọn nội dung dạy học và giáo dục. - Chuyển mạnh từ chỗ truyền thụ kiến thức sang tổ chức việc học cho học
sinh, sử dụng tối đa nguồn trí thức trong xã hội. - Coi trọng việc cá biệt hóa trong học tập, thay đổi tính chất trong quan hệ
thầy trò. - Yêu cầu rộng rãi hơn những phương tiện dạy học hiên đại, do đó yêu cầu
trang bị thêm những kiến thức và kỹ năng cần thiết.

Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (181 trang)

×