1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Thạc sĩ - Cao học >

Cơ cấu giảng viên so với cán bộ, nhân viên phục vụ giảng dạy

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.64 MB, 181 trang )


vực phía Nam thì cơ cấu đội ngũ giảng viên và lực lượng phục vụ giảng dạy như vậy quá ít, chưa tương xứng với tầm vóc của một Trường Cao đẳng. Chính vì đội
ngũ giảng viên mỏng, dù trong năm vừa qua được sự cho phép của Đài TNVN, nhà trường đã tuyển thêm được 12 giảng viên, nhưng chỉ tiêu tuyển sinh cấp trên giao
hàng năm mới chỉ là 300 sinh viên hệ cao đẳng, 200 học sinh trung cấp. Qua khảo sát điều tra và thực tế yêu cầu đào tạo tại các địa phương, chúng tôi thấy rõ nhu cầu
đào tạo hệ cao đẳng, cũng như đại học là rất lớn. Trước mắt, đội ngũ kỹ thuật viên, phóng viên trình độ trung cấp của các địa phương cần được đào tạo gấp để lấp chỗ
trống. Vì vậy nhu cầu tăng cường đội ngũ giảng viên trong thời gian tới rất cấp bách để đáp ứng thực tế trên.

b. Cơ cấu giảng viên so với sinh viên


Tỉ lệ giữa số giảng viên sinh viên hiện nay là 139. Nếu chỉ tính số học sinh, sinh viên tuyển theo chỉ tiêu chính quy thì tỉ lệ đó là 120.
Thực tế số giảng viên được biên chế tại các khoa chuyên môn như đã thống kê ở trên là 26 người. Như vậy tỉ lệ giảng viên sinh viên thực tế là 151. Nếu tính
số học sinh, sinh viên theo chỉ tiêu chính quy là 1 26. Theo phó Vụ trưởng Vụ ĐH Sau ĐH Phan Mạnh Tiến, bình quân tỉ lệ của
giảng viên sinh viên hiện nay trong các trường công lập là 128,5. Ở các nước khác tỉ lệ này 115 hoặc 120 Dẫn theo ViệtNamNet: Đại học ngồi cơng lập: Phổ biến
cơm chấm cơm,ngày 3112007; Dân trí.com.vn- Giáo dục khuyến học: Giảng viên đại học: Vừa thiếu, vừa yếu, ngày 2112007 .
Trường Cao đẳng PT-TH II là một trường chuyên ngành, dạy nghề phục vụ ngành PT-TH. Chính vì vậy số tiết thực hành lý thuyết ở hệ cao đẳng thường chiếm
tỉ lệ trên 30, hệ trung cấp trên 40. Theo qui định về việc giảng dạy thực hành, giảng viên giảng dạy theo tổ, nhóm, từ 15 -20 học sinh, sinh viên. Số tiết thực dạy
tại mỗi lớp khi triển khai đào tạo gấp 3-4 lần so với thực tế quy định của mơn học. Với các lớp Báo chí PT-TH, sĩ số hiện nay từ 100-120 học sinh, sinh viên, việc
giảng dạy thực hành ngoài trường rất tốn thời gian và khó khăn trong việc liên hệ
chọn địa điểm thực tập. Nếu tính bình qn số tiết giảng dạy thì gần như giảng viên nào cũng phải dạy vượt giờ, đảm bảo tiến độ đào tạo.
2.5.1.2. Thực trạng về chất lượng đội ngũ giảng viên a. Về độ tuổi, giới tính
Thời điểm chúng tơi điều tra, nhà trường có 34 giảng viên. Trong đó: - Nam: 15 người; chiếm: 44, 1
- Nữ : 19 người; chiếm: 55, 9 Phân loại độ tuổi
Tổng số Dưới 30
Từ 30-40 Trên 40
Số lượng 34 8
17 9
Tỉ lệ 100
23,5 50
26,5 nguồn: Phòng Tổ chức – Hành chính
Qua những số liệu trên đây, chúng tơi có một số nhận xét: - Số lượng giảng viên nữ nhiều hơn giảng viên nam, chiếm 55, 88.
- Số giảng viên nam chiếm 44, 12. Nhìn chung tỉ lệ này tương đối hợp lý trong mơi trường giáo dục. Độ tuổi
trung bình của giảng viên tương đối trẻ, có thể nói đó là độ tuổi lý tưởng năng động, sáng tạo, có trình độ, dễ tiếp thu kiến thức mới, cầu tiến. Số đông tuổi từ 30-40,
chững chạc trong nghề nghiệp, tâm lý ổn định. Lãnh đạo đơn vị biết khơi dây ý thức nghề nghiệp, tinh thần cống hiến dễ nhận được sự đồng tình hưởng ứng một cách
tích cực. Đây chính là nguồn lực tiềm ẩn của đội ngũ giáo viên trong nhà trường, là điểm mạnh để xây dựng và thúc đẩy mọi hoạt động trong nhà trường trước mắt,
cũng như sự phát triển sau này khi nhà trường tiếp tục được nâng cấp lên Học viện PT-TH.

Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (181 trang)

×