1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Thạc sĩ - Cao học >

Về cơ cấu học hàm, học vị và xếp ngạch giảng viên

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.64 MB, 181 trang )


+ Quản lý giáo dục : 3 + Báo chí học : 1
+ Văn hóa học : 2 Số liệu trên cho thấy: số giảng viên có trình độ tiến sỹ, thạc sỹ chiếm 23,5 .
Trong 1-2 năm tới, số học viên cao học bảo vệ luận án thì tổng số giảng viên có trình độ từ thạc sỹ trở lên là 15 người, chiếm 44,1. Nếu lấy đề án “Xây dựng,
nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005- 2010” do thủ tướng chính phủ phê duyệt quyết định 092005QĐ-TTg ngày
11012005 làm cơ sở phấn đấu với mục tiêu cần đạt được là cả nước có trên 40 giảng viên đại học, trên 30 giảng viên cao đẳng có trình độ thạc sỹ trở lên, và có
trên 25 giảng viên đại học và 5 giảng viên cao đẳng có trình độ tiến sỹ, thì số lượng thạc sỹ của nhà trường đến năm 2010 đạt chuẩn 44 so với yêu cầu là 30,
số lượng tiến sỹ lúc đó cũng chưa đủ chuẩn 2,94 so với yêu cầu phải có là 5 . Nếu nhà trường nâng cấp lên Học viện, yêu cầu về học vị còn đòi hỏi gắt gao nhiều
hơn nữa, nhất là số phần trăm về học vị tiến sỹ hiện chưa có kế hoạch được đào tạo bổ sung.
Điều đáng chú ý nữa là: qua số liệu thống kê ở trên, chúng ta còn thấy ngành được đào tạo bị lệch, chưa phục vụ cho nhiệm vụ đào tạo chuyên ngành PT-TH của
nhà trường. Hiện nay ngành đào tạo chính của nhà trường gồm: Báo chí PT-TH, Cơng nghệ điện tử PT-TH, Tin học PT-TH.Trong ba chun ngành trên thì chun
ngành Báo chí PT-TH có số lượng học sinh, sinh viên chiếm 23 học sinh, sinh viên toàn trường. Thế nhưng, hiện tại khoa Báo chí chưa có thạc sỹ báo chí. Số lượng
người đi học cao học hiện tại là 5 người, nhưng chỉ có 01 người học đúng chuyên ngành. Nhìn chung, số học vị thạc sỹ hiện có trong nhà trường cũng như số học viên
đang theo học cao học phản ánh sự không đồng bộ trong quy hoạch xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên. Trong tình hình thực tế của nhà trường, số giảng viên
có điều kiện phấn đấu đạt được trình độ trên là một điều đáng khích lệ. Nhà trường cần có sự điều chỉnh cần thiết về hướng quy hoạch xây dựng đội ngũ giảng viên
theo hướng chuyên ngành thông qua việc cử đi học đúng đối tượng, đúng chuyên môn, và thu hút những người có trình độ, năng lực đúng chun ngành cần bố trí tại
các khoa chun mơn qua các kỳ thi tuyển công chức vào ngạch giảng viên. Thông qua bảng trên, điều chúng ta thấy rõ là có sự hụt hẫng về đội ngũ giữa
giảng viên trình độ tiến sỹ và trình độ thạc sỹ. Hiện tại trong trường khơng có giảng viên nào học nghiên cứu sinh. Theo điều tra riêng của chúng tôi, qua báo cáo của
các phòng, khoa, việc đăng ký thi tuyển nghiên cứu sinh du học tại nước ngoài theo kế hoạch của nhà nước được Bộ GD-ĐT gửi xuống chưa được giảng viên quan tâm.
Nguyên nhân: những người có khả năng thi tuyển bị khống chế về số tuổi theo quy định, những người khác vì hồn cảnh gia đình, hoặc chưa đủ điều kiện về ngoại
ngữ. Việc đi thi và học nghiên cứu sinh trong nước trong tình hình hiện tại cũng nằm trong tình trạng như trên. Yêu cầu sự phát triển của nhà trường đòi hỏi, nhưng
chưa chuyển thành ý thức và hành động của lực lượng quan trong nhất trong nhà trường. Nhà trường cần quan tâm, Đài TNVN cần hỗ trợ nhiều trong chính sách cử
tuyển người đi thi và học nghiên cứu sinh, trên tinh thần coi đó là một sách lược quan trọng bậc nhất để nâng cao chất lượng giảng viên, điều kiện khơng thể khơng
có khi chuẩn bị tiếp theo bước nâng cấp trường lên Học viện PT-TH. Về cơ cấu ngạch bậc
Trong bảng: Thực trạng học hàm, học vị và xếp ngạch giảng viên, chúng tôi thấy đội ngũ giảng viên chưa có ai được cơng nhận là giảng viên chính, dù rằng có
8 người có thâm niên giảng dạy trên 10 năm. Qua bảng lương của tháng 42008 của phòng Kế hoạch-Tài chính, chúng tơi thống kê số bậc của ngạch giảng viên như
sau: Bậc 19 29 39 49 59 69 79 89 99
Số lượng 9 11 3 1 4 2
Có 4 trường hợp tham gia giảng dạy nhưng không ở ngạch giảng viên: - 2 trường hợp là cán bộ quản lý do Đài TNVN điều chuyển về:
+ 1 người có mã số 17140, bậc 38 + 1 người có mã số 15112, bậc 88.
- 2 trường hợp là kỹ thuật viên xếp bậc 712. Nhìn vào bảng trên, chúng ta thấy cũng có sự hụt hẫng từ bậc 69 đến 89. Có
thể thấy rõ rằng, nhìn chung số đơng có số bậc hưởng lương giảng viên thấp, phản ánh số lượng giảng viên này có số thâm niên công tác tại cơ quan không nhiều.
Sự thống kê về ngạch, bậc của đội ngũ giảng viên cùng về độ tuổi, thâm niên công tác đã phản ánh rõ sự non trẻ trong đội ngũ giảng viên. Bên cạnh mặt mạnh
của độ tuổi sung sức này, phần khiếm khuyết, hạn chế của đội ngũ giảng viên là: thiếu những người có kinh nghiệm ở vị trí đầu tàu về chun mơn, cùng các chức
danh cần có. Điều này cho thấy tính cấp thiết mặt bằng chất lượng của đội ngũ giảng viên trong nhà trường cần được nâng cao hơn nữa, phù hợp với yêu cầu của
Bộ GD-ĐT quy định về năng lực chuyên môn của đội ngũ giảng viên hệ cao đẳng và đại học.

f. Về năng lực sư phạm và chuyên môn


- Về năng lực sư phạm Năng lực sư phạm của giáo viên được hình thành thơng qua q trình bồi
dưỡng, rèn luyện phương pháp giảng dạy theo từng cấp độ. Qua số liệu của bộ phận quản lý đào tạo, chúng tôi thấy trong tổng số 34 giảng
viên, giáo viên tại trường hiện có: - Số giảng viên đã qua bồi dưỡng giảng dạy đại học : 19 người
- Số giảng viên đã qua bồi dưỡng sư phạm bậc I : 14 người - Số chưa qua đào tạo sư phạm : 3 người
Số liệu thống kê trên cho ta thấy yêu cầu về chứng chỉ sư phạm đối với đội ngũ giảng viên trong nhà trường chưa đạt yêu cầu. Theo luật giáo dục năm 2005,
tiêu chuẩn qui định đối với giảng viên giảng dạy trong trường cao đẳng, đại học phải được bồi dưỡng về nghiệp vụ sư phạm.
Quyết định số 612007QĐ-BGDĐT do Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân ký ngày 16102007 về chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên đại
học, cao đẳng quy định: giảng viên các trường đại học, cao đẳng phải có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm, được đào tạo về phương pháp giảng dạy đại học.
Hiện tại số giảng viên đã qua đào tạo sư phạm bậc I cần được tiếp tục nâng cấp. Số chưa qua đào tạo sư phạm cần gấp rút bổ sung chứng chỉ sư phạm theo quyết định
trên. -Về mặt chuyên môn
PT-TH là một chuyên ngành hẹp. Hiện tại, trong nước chưa có trường đại học đào tạo chun sâu về lĩnh vực này. Chính vì vậy, lực lượng giảng viên của trường
đa phần khi tuyển dụng lấy nguồn từ các trường đại học có chuyên ngành gần: + Kỹ thuật điện tử: tuyển dụng từ các trường Đại học Bách khoa, Đại học Sư
phạm Kỹ thuật, Đại học Khoa học tự nhiên. + Báo chí: tuyển dụng từ các trường Đại học Khoa học nhân văn, Học viện
Báo chí-Tun truyền, Đại học Sư phạm. Ngồi nguồn tuyển dụng trên, trong những năm qua, nhà trường đã tuyển
dụng một số học sinh giỏi sau khi tốt nghiệp ở lại trường. Những học sinh này sau đó tiếp tục theo học hết đại học với những trường có chun ngành gần, qua q
trình rèn luyện trở thành giáo viên, giảng viên của trường Kể từ khi trường còn mang tên Nghiệp vụ PT-TH II đến nay đã tuyển dụng 5 trường hợp giáo viên, giảng
viên nguyên là học sinh của trường . Một số giảng viên khác được tuyển trực tiếp từ các đài PT-TH, có q trình cơng tác thực tế là nguồn vốn rất quý khi làm công
tác giảng dạy.Trong kỳ thi tuyển công chức năm 2004 và 2007, nhà trường ưu tiên

Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (181 trang)

×