1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Thạc sĩ - Cao học >

Năng lực nghiên cứu khoa học

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.64 MB, 181 trang )


- Trường Cao đẳng PT-TH II được mang tên năm 2006. Cũng trong năm này, bước đầu nhà trường có được một số thành tích nhất định về cơng tác nghiên
cứu khoa học cấp Đài mà trước đó khơng hề có. Những cơng trình đó là: + Nghiên cứu cải tiến chương trình đào tạo tin học ứng dụng trong việc
sản xuất chương trình PT-TH. Chủ nhiệm đề tài do thạc sỹ Nguyễn Quốc Anh làm chủ nhiệm cùng các cộng sự: Trần Minh Hùng, Cao Văn Trực, Trà Phúc Vĩnh Uy,
Hà Nguyễn Nguyên Phương. + Nâng cao năng lực quản lý đào tạo nghề. Chủ nhiệm đề tài: Phan Lê
Lưu cùng Đỗ Thanh Hiền. - Năm 2007, Trường có 02 cơng trình khoa học cấp Đài là:
+ Nghiên cứu xây dựng chương trình đào tạo cao đẳng, chuyên ngành báo chí PT-TH. Chủ nhiệm đề tài: Tiến sỹ Trần Thị Tri, cùng nhóm cộng sự: Đinh
Khắc Quỳnh Giang, Nguyễn Thị Phước, Nguyễn Thị Mai Thu, Đoàn Thị Thoa. + Nghiên cứu xây dựng chương trình đào tạo cao đẳng chuyên ngành điện
tử và tin học truyền thông đa phương tiện. Chủ nhiệm đề tài: Thạc sỹ Lưu Ngọc Điệp.
- Năm 2008, Trường đã nhận 02 đề tài cấp đài là: + Thiết kế và thi cơng một số bộ thí nghiệm mạch xung, mạch số và mạch
tương tự. Chủ nhiệm đề tài: Trần Văn Công. + Nghiên cứu xây dựng bộ giáo trình các học phần nghiệp vụ cơ bản của
chương trình cao đẳng báo chí PT-TH. Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Tài Hoạt. Như vậy, trong gần 3 năm qua nhà trường đã thực hiện được 04 đề tài cấp
Đài, với tổng kinh phí là 180.000.000 đ; trong năm 2008 triển khai 2 đề tài với kinh phí là 115.000.000 đ Nguồn: Phòng Kế hoạch-Tài chính. Những đề tài này
phải được đăng ký với Đài TNVN, và được cấp trên duyệt, cấp kinh phí. Các đề tài khoa học kể trên tập trung giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn đang đặt ra, có
ý nghĩa rất lớn trong quá trình nhà trường vừa được nâng cấp, thực hiện sự chỉ đạo của ĐTNVN:
- Khẳng định vị thế của nhà trường có đủ năng lực khi được nâng cấp lên hệ cao đẳng.
- Nghiên cứu khoa học là một nhiệm vụ của nhà trường, của người giảng viên nhằm giải quyết những vấn đề bức xúc tại cơ sở, có tính thực tiễn cao. Giáo
viên giảng dạy trong trường trung cấp cũng như người giảng viên giảng dạy trong trường cao đẳng, đại học đều có quyền hạn và nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, phục
vụ xã hội theo điều 59 của Luật giáo dục năm 2005; điều 25: quyền của giảng viên, điều 26: Tiêu chuẩn và nhiệm vụ của giảng viên trong Điều lệ trường cao đẳng.
- Thông qua nghiên cứu khoa học, trình độ chun mơn, năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên từng bước được nâng lên, tạo không khí hoạt động chun
mơn chất lượng, mơi trường sinh hoạt học thuật và là “bà đỡ”, thúc đẩy phong trào NCKH của HSSV trong môi trường giáo dục hệ cao đẳng.
- Đáp ứng các yêu cầu cấp bách về nội dung chương trình giảng dạy hệ cao đẳng báo chí, cơng nghệ điện tử, tin học cũng như khai thác các thiết bị thực hành
vốn có trong trường được ĐTNVN đầu tư nhiều tỉ đồng có hiệu quả nhất trong công tác đào tạo.
Tuy nhiên, qua các đề tài nghiên cứu khoa học thời gian qua đã được nghiệm thu đưa vào sử dụng cũng như các đề tài đang được triển khai có những vấn đề đặt
ra cần được rút kinh nghiệm, khắc phục hạn chế trong khâu tổ chức thực hiện và quản lý:
- Công tác nghiên cứu khoa học tại trường là một nhiệm vụ bắt buộc do cấp trên chỉ đạo chứ chưa phải xuất phát từ sự say mê tự giác của giảng viên. Các đề tài
được giao, người chủ trì thường là những người có vị trí chủ chốt trong trường đảm nhận, bên cạnh công tác quản lý, giảng dạy kiêm thêm nhiệm vụ nghiên cứu khoa
học.
- Giảng viên ngại tham gia đề tài, vì ngồi giờ giảng dạy phải đi học nâng cao trình độ theo u cầu đòi hỏi trước mắt về học vị. Các đề tài được đăng ký cấp
Đài có thời gian quá hạn hẹp, gấp rút, kinh phí ít, chi phí nhiều. - Theo cơ cấu tổ chức, nhà trường có Phòng Nghiên cứu khoa học và Hợp
tác quốc tế. Hiện tại do bộ phận này chưa có biên chế nên việc triển khai cơng tác nghiên cứu khoa học thông qua chỉ đạo của Ban Giám Hiệu, thiếu tính chiến lược
tầm xa. - Chưa có quy định cụ thể để giảng viên nghiên cứu khoa học tương xứng
với chức vụ khoa học của mình. Các quy định về nhiệm vụ NCKH chưa được quán triệt và chấp hành. Giảng viên chỉ quan tâm hoàn thành lượng giờ chuẩn giảng dạy
trong tuần, trong năm rất khiêm tốn, coi đó là nhiệm vụ duy nhất được giao trong năm 320 tiết năm.
- Các đề tài cấp trường chưa được quan tâm và đưa vào đăng ký hoạt động thường xuyên. Kinh phí được cấp trên cấp phát hàng năm cần dành ra một khoản
cho hoạt động NCKH đề tài cấp trường. Qua phiếu thăm dò cán bộ, giáo viên được thống kê bảng 2.2 chúng tôi nhận
thấy: - Phần đánh giá năng lực nghiên cứu khoa học riêng biệt có tham số trung
bình là 2, 38. Xếp loại trung bình yếu. Thứ bậc được quan tâm 88 mức. - Phần đánh giá năng lực nghiên cứu khoa học kể cả năng lực biên soạn
chương trình và tài liệu dạy học có tham số trung bình là 2,76. Xếp loại trung bình. Thứ bậc được quan tâm là 78.
Những vấn đề nêu trên đây giúp lãnh đạo cơ quan có tư liệu tham khảo, phân tích để có sự chỉ đạo kịp thời về công tác NCKH. Cụ thể là:
- Đội ngũ giảng viên trong trường có năng lực nghiên cứu khoa học còn yếu. Cơng tác NCKH, kể cả việc biên soạn chương trình và tài liệu dạy học ít được
giảng viên quan tâm so với các vấn đề khác trong bảng thăm dò.
- Trước khi nhà trường được nâng lên hệ cao đẳng, công tác nghiên cứu khoa học chưa được chú trọng. Sau khi lên cao đẳng, nhà trường đã quan tâm tới mặt
này, và bước đầu tác động tích cực đến nhận thức của đội ngũ giáo viên. Với lực lượng trẻ, được đào tạo bài bản, có sự hướng dẫn, chỉ đạo thường xuyên của lãnh
đạo đơn vị và phòng chức năng khi đi vào hoat động, nhất định trình độ NCKH của giảng viên sẽ đi vào nề nếp.
- Mối quan tâm của đội ngũ giảng viên hiện nay là vấn đề biên soạn chương trình và tài liệu giảng dạy theo hướng: các học trình giảng dạy phải có giáo trình
cấp trường. Giảng viên khi lên lớp dựa trên giáo trình có sẵn phát triển vấn đề, cung cấp cho HSSV phương pháp tư duy và những tài liệu nghiên cứu của cá nhân.
Đề tài nghiên cứu khoa học năm 2008 của nhà trường đã đi theo hướng quan tâm này, tất nhiên phải được hoàn thiện và tiếp tục nâng cao trong những năm kế tiếp.
Một số phẩm chất Trung
bình Độ lệch tiêu
chuẩn Thứ
bậc 1 Khả năng và kỹ năng chuyên môn
3,28 0,528
3 2 Năng lực sư phạm
3,38 0,561
2 3 Đạo đức nghề nghiệp 3,66
0,974 1
4 Năng lực nghiên cứu khoa học kể cả
năng lực biên soạn chương trình và tài liệu dạy học
2,76 0,739 7
5 Năng lực nghiên cứu khoa học 2,38
0,942 8
6 Thực hiện kế hoạch và chương trình
giảng dạy đã được duyệt 3,24 0,739 4
7 Tham gia các hoạt động chính trò xã hội 3,24
0,830 5
8 Đóng góp ý kiến cho các cấp quản lý 3,00
0,707 6
Bảng 2.2: Ý kiến đánh giá về chất lượng đội ngũ giảng viên của khối cán bộ quản lý và giảng viên

h. Trình độ tin học và ngoại ngữ


- Về tin học Tất cả giảng viên của trường đều có trình độ tin học bằng A, sử dụng phương
tiện máy tính để soạn bài, thiết kế chương trình giảng dạy. Năm 2005, thực hiện Đề án 112 của chính phủ, tất cả cơng chức, viên chức của nhà trường đều đã qua đào
tạo và được cấp chứng chỉ. 13 giảng viên mới tuyển qua kỳ thi tuyển cơng chức năm 2007 biết sử dụng máy tính thành thạo.
Được Đài TNVN đầu tư nhiều tỉ đồng trang bị cơ sở vật chất, hiện nay tại các phòng, khoa, hệ thống máy vi tính được trang bị đầy đủ. Mỗi khoa đều có 3
máy vi tính đủ mạnh, có gắn các phần mềm chuyên ngành để giảng viên sử dụng. Trong trường có kết nối mạng nội bộ, và đường truyền Internet tới tất cả máy tính.
Website của trường có nội dung phong phú. Ngồi thơng tin chung về trường, trang website còn là tờ báo đăng tải các tin, bài, diễn đàn giảng dạy và học tập của giảng
viên và HSSV trong trường. Nhìn chung, giảng viên của trường đã biết khai thác lợi thế của công nghệ
thông tin phục vụ cho công việc chuyên môn. Tuy nhiên, với các phần mềm phục vụ cho chuyên ngành PT và TH, mức độ khai thác, sử dụng thành thạo của giảng
viên còn hạn chế. Nhà trường cần trang bị thêm cho giảng viên về cách thiết kế bài giảng bằng Power Point, cũng như sử dụng thành thạo các phần mềm Fast Edit,
Cool Edit trong các kỳ tập huấn hè. - Về ngoại ngữ
Trong số 34 giảng viên kể cả số cán bộ quản lý kiêm nhiệm có 3 giáo viên tiếng Anh trình độ đại học. Nếu lấy tiếng Anh là ngoại ngữ chính để thống kê, thì số
người có trình độ C rất ít, dù về nguyên tắc, số người có bằng thạc sỹ đương nhiên phải có. Đây là một điểm yếu của nhà trường trong việc cử cán bộ, giáo viên tham
gia các lớp bồi dưỡng chuyên môn của các tổ chức PT-TH và các Đài quốc gia lớn trên thế giới có quan hệ với Đài TNVN và nhà trường như: Viện phát triển phát
thanh châu Á-Thái Bình Dương AIDB, Đài phát thanh Quốc gia ĐứcDW, BBC, các đài phát thanh của Pháp, Hà Lan vv…Thực tế những năm vừa qua, những đợt
cử giảng viên đi công tác nước ngồi có khả năng biết sử dụng ngoại ngữ làm việc độc lập rất khó khăn. Với những lớp quốc tế đã mở tại trường, nếu khơng có phiên
dịch thì cơ hội tiếp thu kiến thức mới cũng rất hạn chế. Nguyên nhân của tình trạng này do quá trình nâng cấp liên tục của nhà
trường trong thời gian 10 năm trở lại đây chưa chuẩn bị kỹ yếu tố con người. Hiện tại, phong trào học ngoại ngữ trong đội ngũ giáo viên đã có nhiều tín hiệu tốt. Nhiều
giáo viên trẻ tranh thủ thời gian học các lớp tối tại các trung tâm ngoại ngữ. Nhà trường nên có chế độ khuyến khích số cán bộ, giáo viên có tinh thần ham học hỏi.
Trong điều kiện có thể, nên mở các lớp tại trường để số đơng có điều kiện theo học thuận lợi về thời gian. Có vậy, việc mở rộng giao lưu quốc tế mới có cơ hội nhiều
hơn, kết quả hơn, phấn đấu đưa nhà trường trở thành một trung tâm đào tạo PT-TH khu vực phía Nam và khu vực Đơng - Nam Á.
x x x
Trên đây là một số vấn đề chúng tơi đã phân tích thực trạng đội ngũ giáo viên qua trải nghiệm thực tế, quan sát, ghi nhận các số liệu của bộ phận tổ chức. Để
có cái nhìn tổng thể, chúng tơi xin đưa ra bảng so sánh ý kiến giữa cán bộ quản lý, giảng viên và ý kiến HSSV về một số phẩm chất khác nữa của đội ngũ giảng viên.

Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (181 trang)

×