1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Thạc sĩ - Cao học >

Trình độ tin học và ngoại ngữ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.64 MB, 181 trang )


Trong số 34 giảng viên kể cả số cán bộ quản lý kiêm nhiệm có 3 giáo viên tiếng Anh trình độ đại học. Nếu lấy tiếng Anh là ngoại ngữ chính để thống kê, thì số
người có trình độ C rất ít, dù về ngun tắc, số người có bằng thạc sỹ đương nhiên phải có. Đây là một điểm yếu của nhà trường trong việc cử cán bộ, giáo viên tham
gia các lớp bồi dưỡng chuyên môn của các tổ chức PT-TH và các Đài quốc gia lớn trên thế giới có quan hệ với Đài TNVN và nhà trường như: Viện phát triển phát
thanh châu Á-Thái Bình Dương AIDB, Đài phát thanh Quốc gia ĐứcDW, BBC, các đài phát thanh của Pháp, Hà Lan vv…Thực tế những năm vừa qua, những đợt
cử giảng viên đi cơng tác nước ngồi có khả năng biết sử dụng ngoại ngữ làm việc độc lập rất khó khăn. Với những lớp quốc tế đã mở tại trường, nếu khơng có phiên
dịch thì cơ hội tiếp thu kiến thức mới cũng rất hạn chế. Nguyên nhân của tình trạng này do quá trình nâng cấp liên tục của nhà
trường trong thời gian 10 năm trở lại đây chưa chuẩn bị kỹ yếu tố con người. Hiện tại, phong trào học ngoại ngữ trong đội ngũ giáo viên đã có nhiều tín hiệu tốt. Nhiều
giáo viên trẻ tranh thủ thời gian học các lớp tối tại các trung tâm ngoại ngữ. Nhà trường nên có chế độ khuyến khích số cán bộ, giáo viên có tinh thần ham học hỏi.
Trong điều kiện có thể, nên mở các lớp tại trường để số đơng có điều kiện theo học thuận lợi về thời gian. Có vậy, việc mở rộng giao lưu quốc tế mới có cơ hội nhiều
hơn, kết quả hơn, phấn đấu đưa nhà trường trở thành một trung tâm đào tạo PT-TH khu vực phía Nam và khu vực Đông - Nam Á.
x x x
Trên đây là một số vấn đề chúng tôi đã phân tích thực trạng đội ngũ giáo viên qua trải nghiệm thực tế, quan sát, ghi nhận các số liệu của bộ phận tổ chức. Để
có cái nhìn tổng thể, chúng tôi xin đưa ra bảng so sánh ý kiến giữa cán bộ quản lý, giảng viên và ý kiến HSSV về một số phẩm chất khác nữa của đội ngũ giảng viên.
Giảng viên Học viên
Một số phẩm chất TB ĐLTC TB ĐLTC
F P
1 Khả năng
và kỹ năng chuyên
môn 3,28 0,52 3,54 0,73 3,64 0,05
2 Năng lực sư phạm
3,38 0,56 3,37 0,85 0,00 0,94 3
Đạo đức nghề nghiệp 3,66 0,97 3,78 1,09 0,34 0,55
4 Năng lực
nghiên cứu khoa học kể cả năng lực biên soạn
chương trình và tài liệu dạy học
2,76 0,73 3,24 1,02 6,11 0,01
5 Năng lực
nghiên cứu khoa học 2,38 0,94 2,99 1,03 9,35 0,00
6 Thực hiện kế hoạch và chương
trình giảng dạy đã được duyệt 3,24 0,73 3,42 1,04 0,77 0,38
7 Tham gia các hoạt động chính
trò xã hội 3,24 0,83 3,39 1,12 0,49 0,48
8 Đóng góp ý kiến cho các cấp
quản lý 3,00 0,70 3,09 1,22 0,14 0,70
Bảng 2.3: Ý kiến đánh giá về chất lượng đội ngũ giáo viên trong trường hiện nay
Qua kết quả của bảng 2.3 cho thấy:
- Về nội dung có số thứ tự 4 và 5: Năng lực nghiên cứu khoa học có P mức độ ý nghĩa 0, 05. Chỉ số này có sự khác biệt ý nghĩa giữa các tham số so sánh,
nghĩa là ý kiến của giảng viên khác ý kiến của học sinh. Lý do: vấn đề nghiên cứu khoa học của giảng viên thì giảng viên hiểu và biết rõ hơn học viên. Chính vì vậy,
khi phân tích thực trạng NCKH ở phần trên, chúng tôi chỉ lấy số liệu của cán bộ quản lý và giảng viên để dẫn giải.
- Sáu nội dung còn lại nói về phẩm chất của đội ngũ giảng viên trong trường hiện nay có P mức độ ý nghĩa 0,05. Chỉ số này không có sự khác biệt ý nghĩa
giữa các tham số so sánh giữa cán bộ quản lý, giảng viên và HSSV. Trong đó: + Ba phẩm chất quan trọng bậc nhất của đội ngũ giảng viên trong nhà trường
được được cả giảng viên và HSSV đánh giá tương đối tốt là: Đạo đức nghề nghiệp, tham số trung bình giữa GVHSSV là 3, 663, 78
Năng lực sư phạm, tham số trung bình giữa GVHSSV là 3, 383, 37 Chuyên mơn, tham số trung bình giữa GVHSSV là 3, 283, 54
+ Ba phẩm chất tiếp theo trong bảng được cả hai nhóm đánh giá cũng rất cao:
Thực hiện kế hoạch và chương trình giảng dạy đã được duyệt Tham gia các hoạt động chính trị xã hội
Đóng góp cho các cấp quản lý Như vậy, đánh giá chung về chất lượng đội ngũ giảng viên của nhà trường
chúng tôi thấy đây là một tập thể trẻ, có hướng phấn đấu đi lên. Mặc dù còn có một số hạn chế về một số điểm như đã phân tích ở trên, nhưng lãnh đạo đơn vị biết quan
tâm, khích lệ, chắc chắn sẽ nhanh chóng khắc phục những nhược điểm, xây dựng đội ngũ giảng viên thành một tập thể mạnh, có đạo đức nghề nghiệp, năng lực
chuyên môn vững vàng.
2.6. Thực trạng các biện pháp xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên của Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Phát thanh -Truyền hình II

2.6.1. Một vài nét về cơng tác lãnh đạo trường


Kể từ năm 1998 Trường Trung học PT-TH II được thành lập, tiếp tục được nâng cấp lên Trường Cao đẳng PT-TH II đến nay, 10 năm nhà trường đã 3 lần đổi
hiệu trưởng. Các mốc ghi nhận là năm 2002, năm 2006. Trường Cao đẳng PT-TH II được thành lập, Đài TNVN cử TS Trần Thị Tri,
Phó Ban Đối ngoại Đài TNVN đảm nhận chức vụ Hiệu trưởng. Những vấn đề cần thiết để xây dựng đội ngũ giảng viên xứng tầm hệ đào tạo cao đẳng đã được hiệu
trưởng mới hoạch định, triển khai thực hiện với nhiều thành tích đáng trân trọng. Theo sự điều động luân chuyển cán bộ của Tổng Giám đốc Đài TNVN, trong năm
2008 này nhà trường tiếp tục sự thay đổi về lãnh đạo trường. Những vấn đề chúng tôi đề cập đến trong bản luận văn này nói về thực trạng, biện pháp xây dựng và phát
triển đội ngũ giáo viên của hiệu trưởng trong thời gian vừa qua, chú ý tới thời gian nhà trường được nâng cấp lên hệ cao đẳng, nhằm giúp cho lãnh đạo kế tiếp có cái
nhìn tổng qt và thực tế trong quá trình xây dựng, phát triển đội ngũ giảng viên của nhà trường.
2.6.2. Thực trạng các biện pháp xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên của hiệu trưởng Trường Cao đẳng PT-TH II
2.6.2.1. Tuyển dụng và sử dụng giảng viên. a. Thực trạng về số lượng và chất lượng giảng viên
Suốt một thời gian dài từ năm 1998 đến năm 2004, đội ngũ giáo viên cơ hữu của trường kể cả cán bộ quản lý tham gia giảng dạy cũng chỉ có trên dưới 20
người. Trước tháng 42007 thống kê số lượng giảng viên của trường cũng chỉ có 22 người.Trong hơn 10 năm qua, nhà trường có 3 đợt tuyển dụng giáo viên, giảng viên:
- Năm 2000 tuyển được 9 giáo viên trung học.
- Năm 2004 chuẩn bị cho việc nâng cấp trường, qua thi tuyển công chức, tuyển được 6 giáo viên trung học.
- Năm 2007 qua thi tuyển công chức tuyển được 13 giảng viên và 2 cán bộ làm công tác đào tạo, tổ chức hưởng lương ngạch giảng viên.
Số lượng giảng viên được tuyển dụng tổng cộng cả 3 đợt là 30 người. Dựa trên chỉ tiêu tuyển sinh hàng năm, lãnh đạo trường có kế hoạch bổ sung lực lượng
giáo viên, đáp ứng thực tế công tác giảng dạy. Trong 3 đợt tuyển dụng trên thì đợt tuyển năm 2007 có số lượng nhiều và đạt
yêu cầu về chất lượng. Năm Thạc sỹ Cao
học Cử nhân Cộng
2000 9 9
2004 3 2
1 6 2007 4
2 9 15
. Bảng 2.4: Tình hình tuyển dụng giảng viên Tuy nhiên, đợt tuyển dụng năm 2004 trụ lại tại trường sau 1 -2 năm còn lại
khơng bao nhiêu. Đợt tuyển năm 2004, trong số 6 giáo viên, nay chỉ còn 2 1 thạc sỹ, 1 cử nhân nay đã học lên thạc sỹ. Đợt tuyển năm 2007, nay còn lại 14 1 thạc sỹ
Anh văn xin nghỉ. Qua số liệu đã thống kê ở bảng 2.4, chúng tôi nhận thấy: - Để chuẩn bị nâng cấp trường năm 2006, lãnh đạo trường có tuyển lực
lượng giảng viên tương đối có chất lượng, số có bằng thạc sỹ chiếm 50, số học cao học chiếm 33. Trước đó trong trường chỉ có 1 thạc sỹ duy nhất.
- Sau khi nâng cấp trường, Hiệu trưởng mới có tuyển thêm 15 giảng viên, trong đó:
+ Khoa Báo chí: 6
+ Khoa Cơng nghệ Kỹ thuật điện tử: 1 + Khoa Cơ bản: 4
+ Khoa Tin học: 1 + Bộ phận Tổ chức: 1
+ Phòng Đào tạo: 1 Số lượng tuyển trên so với yêu cầu thực tế vẫn còn thiếu. Các khoa cần tuyển
thêm cho đủ số biên chế là: Khoa Cơ bản và Khoa Tin học. Chính vì vậy, lãnh đạo trường tiếp tục tuyển thêm đợt mới trong tháng 52008.
- Trong 2 đợt tuyển giảng viên gần đây, không tuyển được một giảng viên nào có học vị tiến sỹ. Số giảng viên có học vị thạc sỹ được tuyển so với chỉ tiêu cần
có tạm đạt yêu cầu so với quy định của Bộ GD-ĐT đối với trường cao đẳng. Về lâu dài, nhà trường chuẩn bị nâng cấp lên Học viện PT-TH, khơng thể trơng chờ vào
việc tuyển như tình hình vừa qua. Thu hút chất xám của xã hội phục vụ nghành PT- TH nói chung, và sự phát triển nhà trường nói riêng cần có sự hậu thuẫn về cơ sở vật
chất, điều kiện làm việc, chế độ lương bổng đảm bảo cuộc sống cho giảng viên phải tương xứng so với những người làm cùng chung ngành. Hiện nay, thu nhập của cán
bộ, giảng viên của nhà trường so với cán bộ ngành PT-TH có sự chênh lệch còn rất lớn. Khơng thể thu hút những người có học vị cao về làm việc tại trường mà môi
trường làm việc không đáp ứng cho yêu cầu của họ. Trong thực tế điều kiện của nhà trường hiện nay, cùng với những chính sách về tuyển dụng giảng viên qua thi tuyển,
lãnh đạo nhà trường cần quan tâm tới lực lượng giảng viên gắn bó với nhà trường, đào tạo, bồi dưỡng họ trở thành những người có trình độ cao, kể cả việc đầu tư cho
công tác đào tạo học vị tiến sỹ.

b. Thực trạng về qui trình tuyển dụng


Trường Cao đẳng PT-TH II trực thuộc sự quản lý của Đài TNVN. Các vấn đề về nhân sự đều được sự chỉ đạo trực tiếp của Tổng giám đốc Đài TNVN, thông
qua Ban Tổ chức Cán bộ. Trên cơ sở yêu cầu cần tuyển dụng giảng viên, nhà trường
báo cáo Lãnh đạo Đài. Được sự cho phép, nhà trường công khai việc tuyển dụng trên các phượng tiện truyền thơng như báo Thanh niên, Tuổi trẻ, Đài Tiếng nói Việt
Nam… Hội đồng tuyển dụng được thành lập bao gồm: đại diện Lãnh đạo Đài TNVN thường là P.Tổng giám đốc phụ trách trường, Trưởng ban Tổ chức Cán bộ-
Đào tạo, Ban Giám Hiệu, phụ trách cơng tác tổ chức trường chưa có trưởng phòng tổ chức, Phụ trách khoa chuyên môn. Đề thi do Ban Tổ chức Cán bộ Đài TNVN
soạn sẵn. Mổi thí sinh phải trải qua 3 vòng: - Phỏng vấn.
- Thi viết. - Giảng thử một bài tự chọn để kiểm tra năng lực sư phạm.
Trong kỳ thi tuyển năm 2004 có 12 thí sinh đăng ký, tuyển chọn được 6 giáo viên. Năm 2007 có 56 thí sinh đăng ký, tuyển chọn được 13 giảng viên và 2 cán bộ
đào tạo, tổ chức hưởng lương giảng viên 2 cán bộ này có học vị thạc sỹ Văn học và một người đang theo học cao học Kinh tế chính trị học. Thí sinh có học vị thạc sỹ
được ưu tiên tuyển chọn. Quy trình tuyển chọn giảng viên của nhà trường trong những đợt tuyển gần
đây, nhìn chung rất chặt chẽ, bảo đảm tính cơng khai, cơng bằng, chính xác. Thí sinh trúng tuyển đã đáp ứng được yêu cầu giảng dạy về mặt chuyên môn của các
khoa, bộ môn.

c. Thực trạng về sử dụng giảng viên


Trước năm 2006, khi trường chưa được nâng cấp, giáo viên sau khi trúng tuyển được phân về bộ phận chuyên môn quản lý. Khi chưa phân khoa, giáo viên
được phân về phòng Đào tạo. Sau khi các khoa được thành lâp, theo yêu cầu tuyển chọn, giáo viên chịu sự quản lý của khoa. Phần lớn giảng viên trong một vài năm
đầu thường đăng ký giảng dạy các môn cơ sở ngành, không ai dám đăng ký giảng dạy các môn chuyên ngành. Bởi lẽ, đối với giảng viên trình độ cử nhân, kể cả
những người có học vị thạc sỹ chưa từng đi sâu nghiên cứu các môn học này. Ở các

Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (181 trang)

×