1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Thạc sĩ - Cao học >

Việc thực hiện các chế độ chính sách

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.64 MB, 181 trang )


Các chế độ chính sách được cơng khai đưa ra trao đổi tại các đơn vị phòng, khoa, trung tâm trước khi đưa ra hội nghị viên chức. Trên cơ sở lấy ý kiến hợp lý của số
đơng trình lên Lãnh đạo Đài, các quy chế, quy định có giá trị pháp lý để thực hiện. Sau một năm ban hành, với những điều khoản chưa phù hợp, tập thể nhà trường sẽ
cùng xem xét và thay đổi. Các quy chế, quy định được in, sao gửi tới tất cả cá bộ phận trong trường
là: - Quy chế trường cao đẳng do Bộ giáo dục-Đào tạo ban hành.
- Quy chế Trường Cao đẳng PT-TH II. - Quy định chế độ công tác giảng viên Trường Cao đẳngPT-TH II.
- Quy định tạm thời về việc phân nhiệm và phối hợp công tác. - Quy định tạm thời về định mức thu - chi đối với bậc đào tạo Cao đẳng,
Trung cấp chuyên nghiệp và Trung cấp nghề hệ chính quy. - Quy định tạm thời về định mức thu - chi đối với lớp Trung cấp chuyên
nghiệp vừa học, vừa làm tại Quảng Ngãi 05TCBC, An Giang 06TCBC. - Quy định tạm thời về định mức thu chi đối với các lớp đại học liên kết.
- Quy định lề lối làm việc của cán bộ, giảng viên và nhân viên Trường Cao đẳng PT-TH II.
- Quy định vv “Bình xét mức độ hồn thành nhiệm vụ” Để hưởng phần lương tăng thêm trong tháng.
Một số các mục phần quan trọng liên quan đến trách nhiệm, quyền lợi của giảng viên được Hiệu trưởng trích, sao thành văn bản riêng gửi xuống khoa để thảo
luận như: - Nhiệm vụ của người giảng viên trong trường cao đẳng .
- Chương IV Nhà giáo: Nhiệm vụ và quyền lợi của nhà giáo Luật giáo dục năm 2005.
- Quy định về công tác giáo viên chủ nhiệm. Một trong các quy chế được lãnh đạo nhà trường đầu tư xây dựng nhiều nhất
là “quy chế chi tiêu nội bộ”. Vận dụng các văn bản chung của nhà nước, của Đài TNVN, BGH đã chi tiết hóa các điều khoản về các mặt như: quy chế về giờ chuẩn,
phụ trội, hệ số môn học, giờ giảng với các lớp liên kết ngồi trường, chế độ cơng tác giáo viên chủ nhiệm, chế độ thưởng trong dịp lễ, tết, chế độ với những người đi
công tác xa, đi học nâng cao nghiệp vụ, chuyên môn, chế độ về hiếu, hỉ, nghỉ mát dịp hè hàng năm vv…
Cùng với quy chế trên, quy chế vế cơng tác bình xét cơng tác thi đua cũng được cán bộ công nhân viên, đội ngũ giảng viên rất quan tâm. Trong những năm
trước đây, công tác thi đua được dư luận đánh giá làm chưa tốt, thiếu công bằng, và nhiều người làm việc chạy theo thành tích thường xuyên đạt danh hiệu cao. Theo
quy định của Ban thi đua Đài TNVN, các danh hiệu thi đua cao trong nhiều năm liên quan đến những tiêu chuẩn chế độ khác. Chính vì vậy, sự thiếu công bằng và
khách quan tác động rất nhiều đến tâm lý của đội ngũ giảng viên. Xây dựng được các tiêu chí đánh giá hợp lý, khoa học là một cố gắng lớn. Tuy vậy, trong quá trình
thực hiện cũng còn có những vấn đề phải xem lại, tránh hiện tượng xuê xoa trong đội ngũ lãnh đạo vì sợ mất đồn kết nội bộ.
Nhìn chung đối với đội ngũ giảng viên, những quy chế, quy định trên là thật sự cần thiết. Qua trao đổi thảo luận, giảng viên hiểu rõ trách nhiệm, quyền của bản
thân trong sự nghiệp giáo dục cũng như nhiệm vụ hiện nay đang công tác tại nhà trường. Điều quan trọng là đội ngũ giảng viên cảm thấy bản thân được tôn trọng,
khi ý kiến được cấp trên lắng nghe sẽ có những phản hồi tích cực trong cơng tác giảng dạy và các cơng tác khác của nhà trường.
Thăm dò ý kiến của giảng viên về việc đánh giá việc thực hiện một số chế độ, chính sách trong thời gian qua của Hiệu trưởng chúng tơi có kết quả được thể
hiện trong bảng 2.8 và 2.9:
Hợp lý Chưa hợp lý
Nội dung N N
Giờ chuẩn 25
86,2 4
13,8 Giáo trình, giáo án
15 51,8
14 48,3
Bảng 2.8:Ýù kiến đánh giá về quy chế giảng dạy của giáo viên trong nhà trường hiện nay về giờ chuẩn, giáo trình giáo án.
Công việc liên quan đến cuộc sống giáo viên
Trung bình
Độ lệch chuẩn
Thứ bậc
1 Nâng cao thu nhập của giáo viên 2,93 0,961 6
2 Tổ chức việc hiếu, hỷ 3,34
1,010 4
3 Tổ chức hoạt động văn hoá cho GV 3,03
1,085 1
4 Tổ chức hoạt động thể thao cho GV 3,14
0,915 2
5 Tổ chức tham quan nghỉ mát cho GV 3,69
0,967 5
6 Quan tâm giáo viên gặp khó khăn 3,14
1,187 3
Bảng 2.9: Ý kiến đánh giá về việc thực hiện một số chế độ chính sách liên quan đến đời sống giảng viên
Qua kết quả bảng 2.8, cho thấy: - Số đông: 86,2 cho thấy giờ chuẩn theo quy định hiện tại 320 tiếtnăm là
hợp lý. Số ít: 13,8 cho rằng chưa hợp lý.
- Quy định về việc soạn bài giảng và giáo án có 51 cho là hợp lý và 48,3 cho là chưa hợp lý.
Về số giờ chuẩn của giảng viên, chúng tôi được biết Trường Cao đẳng PT- TH I Phủ Lý Hà Nam quy định giờ chuẩn của giảng viên cao hơn, gần 600
tiếtnăm. Theo chúng tôi, số giờ chuẩn được xây dựng như trên là hợp lý, nhưng phải đồng bộ thực hiện với các số giờ quy định về nghiên cứu khoa học, cùng các
công tác chuyên môn khác. Kết quả bảng 2.9 cho thấy cán bộ giảng viên đánh giá việc thực hiện các chế
độ chính sách khác có tham số trung bình đều trên 3 trở lên, trong 5 mức độ đánh giá. Ngoại trừ nội dung tham khảo ý kiến về nâng cao thu nhập của giảng viên có
tham số dưới 3, chúng tơi sẽ trình bày riêng trong phần dưới. Thứ tự, mức độ đánh giá câu hỏi được mọi người quan tâm là:
+ Tổ chức hoạt động văn hóa cho giáo viên. + Tổ chức hoạt động thể thao cho giáo viên.
+ Quan tâm giáo viên gặp khó khăn. + Tổ chức việc hiếu hỉ.
Xét về mức độ đánh giá như trên là tương đối tốt. Lãnh đạo trường cần phát
huy và quan tâm tới các hoạt động trên thông qua hoạt động của tổ chức Cơng đồn, Đồn thanh niên.
Về giáo trình, Lãnh đạo nhà trường chỉ đạo các khoa có kế hoạch viết các học phần chuyên ngành trong năm nay. Học sinh, sinh viên hiện tại chủ yếu tiếp
nhận kiến thức thông qua bài giảng của giảng viên. Công tác duyệt giáo án do khoa phụ trách, sau đó báo cáo Lãnh đạo trường. Nhìn chung, yêu cầu của nhà trường về
việc chuẩn bị giáo án giảng dạy trước khi lên lớp tương đối chặt chẽ, nhưng còn thiếu kiểm tra thường xun. Chúng tơi có thống kê so sánh ý kiến của cán bộ giảng
viên và học sinh, sinh viên về thực trạng việc biên soạn chương trình và các tài liệu dạy học, quản lý thực hiện chương trình đào tạo trong bảng 2.10 như sau:
Giảng viên Học viên
Nội dung
TB ĐLT
C TB
ĐLT C
F P
Thực trạng biên soạn chương trình và các tài liệu dạy học
1 Đầy đủ cho các quy trình đào
tạo
2,93 1,00 2,95 1,48 39,274 0,000
2 Chất lượng của các chương
trình đào tạo 3,10 1,01 2,89 1,45 39,111 0,000
3 Tài liệu dạy học đầy đủ 2,90 0,90 2,84 1,44 65,278 0,000
4 Chất lượng của các tài liệu dạy
học 3,07 1,03 2,78 1,49 21,662 0,000
Quản lý thực hiện các chương trình đào tạo
1 Quản lý chặt chẽ, thực hiện
nghiêm túc các chương trình đào tạo
3,48 0,87 3,03 1,62 69,822 0,000
2 Quản lý chất lượng thực hiện
các chương trình đào tạo 3,31 0,89 2,87 1,65 1,662 0,198
Bảng 2.10: Ý kiến về thực trạng biên soạn chương trình và các tài liệu dạy học, quản lý thực hiện chương trình đào tạo
Qua bảng 2.10 chúng tôi nhận thấy, ý kiến nhận xét của HSSV và cán bộ,
giáo viên có những điểm: -
Tương đối gần nhau: +
Về quy trình đào tạo, tham số trung bình 3, chưa đạt yêu cầu +
Về tài liệu dạy học, tham số trung bình 3, mức độ yếu, chưa đạt yêu cầu. - Có những điểm khác nhau:
+ Chất lượng các chương trình đào tạo: Khối CBGV đánh giá khá tham số trung bình3.
Khối HSSV đánh giá chưa đạt yêu cầu tham số trung bình3. + Chất lượng các tài liệu giảng dạy:
Khối CBGV đánh giá khá tham số3. Khối HSSV đánh giá chưa đạt yêu cầu tham số3.

c.Về vấn đề lương và thu nhập của giảng viên


Theo quy chế chi tiêu nội bộ, thu nhập hàng tháng của giáo viên gồm lương và khoản thu nhập thêm ngoài lương. Trung bình thu nhập tồn cơ quan hiện nay có
hệ số lương x 1,85. Ngồi quỹ lương nằm trong khoản kinh phí được cấp, phúc lợi của cơ quan được trích một phần từ nguồn thu học phí các lớp chính quy, các lớp
liên kết, các lớp ngắn hạn. Giảng viên dạy vượt giờ được tính tiền giờ giảng bằng mức của giảng viên thỉnh giảng. Nhìn chung mức thu nhập của giảng viên trong
trường còn rất thấp, so với mức của cán bộ, phóng viên, biên tập viên trong ngành phát thanh hệ số lương x 3, và còn rất xa với cán bộ, nhân viên ngành truyền hình
trung bình năm 2007 là 7 triệu đồng. Trong năm thời gian vừa qua, BGH nhà trường đã có nhiều cố gắng đa dạng các loại hình đào tạo để nâng cao thu nhập cho
giảng viên. Do quy mô đào tạo còn nhỏ bé, số giảng viên được hưởng lợi trực tiếp từ những chương trình giảng dạy liên kết không nhiều, nên thu nhập chủ yếu từ
lương và phần tăng thêm còn q ít. Trước cơn lốc giá hiện nay, mức thu nhập của
giảng viên tại thành phố lớn nhất nước như vậy là rất khó khăn, chưa bảo đảm cuộc sống và sự gắn bó lâu dài của giảng viên với nhà trường.
Kết quả điều tra cho thấy ý kiến đánh giá của cán bộ về lương và các khoản thu nhập khác có tham số trung bình thấp: 2,93, tức chưa đạt nguỡng trung bình,
mức độ quan tâm xếp thứ 6, trong 6 vấn đề chúng tôi cần xin ý kiến xin xem lại bảng 2.8.
2.7. Đánh giá chung về thực trạng và các biện pháp quản lý của Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Phát thanh – truyền hình II
Trong mục 2.6.1, chúng tơi đã đề cập đến sự thay đổi công tác tổ chức lãnh
đạo cùng với việc nâng cấp lên hệ cao đẳng của nhà trường trong năm 2006. Thực trạng của nhà trường trước và sau năm 2006 có nhiều sự thay đổi về chất trong công
tác quản lý theo sự chỉ đạo của lãnh đạo Đài TNVN. Các quy chế được xây dựng lại phù hợp với tình hình và nhiệm vụ mới. Nội bộ nhà trường đồn kết, khơng có đơn
thư khiếu kiện như những năm trước đó. Về mặt đào tạo, quy mô của nhà trường được mở rộng. Lượng HSSV trong trường tăng lên. Công tác nghiên cứu khoa học
được triển khai gắn liền với công tác giảng dạy của giảng viên. Đời sống của cán bộ, cơng nhân viên, giảng viên cũng có phần tăng hơn trước. Khơng khí dân chủ, kỷ
cương, sư phạm bước đầu đã được xác lập. Tuy vậy, những vấn đề yếu kém vẫn còn tồn tại trong cách làm, cách nghĩ
của một số cán bộ, cơng nhân viên chưa thóat khỏi tầm của một trường vừa đi lên từ hệ trung cấp cùng một cơ chế bao cấp. Đó là tính lề mề, ngại phấn đấu, giờ giấc làm
việc trong cơ quan chưa được coi trọng. Thậm chí có một số giảng viên thường xuyên bỏ tiết, trễ giờ lên lớp vv…
Nguyên nhân của những hạn chế trên là do sự chuẩn bị trong quá trình nâng cấp trường chưa thật chu đáo. Yếu tố con người chưa được đầu tư kỹ càng. Chương
trình đào tạo được gấp rút xây dựng thiếu tính khoa học. Dựa trên đề án nâng cấp trường được duyệt, công tác tổ chức cũng như công tác tuyển sinh, đào tạo “vừa
chạy, vừa xếp hàng”.

Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (181 trang)

×