1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Thạc sĩ - Cao học >

Thông báo kế hoạch tuyển dụng Thu nhận hồ sơ dự tuyển.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.64 MB, 181 trang )


i. Thời gian thử việc đối với nhân sự trúng tuyển là 1 năm. Đơn vị quản lý là khoa, bộ môn. Hết thời gian tập sự khoa, bộ môn họp nhận xét, làm báo cáo gửi
lên Hội đồng. k. Hội đồng tuyển dụng họp ra quyết định tuyển dụng chính thức căn cứ vào
báo cáo của khoa, bộ mơn và các thành viên của Hội đồng. 3.2.3.2. Tăng cường biện pháp tuyển chọn và sử dụng đội ngũ giảng viên
Trong những đợt tuyển dụng giảng viên gần đây, theo đánh giá của chúng tôi, chất lượng đạt tương đối tốt. Lãnh đạo Đài TNVN rất quan tâm đến các đợt
tuyển chọn giảng viên, trực tiếp tham gia phỏng vấn và kiểm tra năng lực sư phạm của các ứng viên dự tuyển. Tuy nhiên, quá trình chuẩn bị tuyển dụng có một số
khâu cần được phải rút kinh nghiệm để việc tuyển dụng đạt kết quả cao hơn nữa: - Khâu quảng cáo chưa rộng. Thông tin về việc tuyển dụng giảng viên được
đăng trên báo Tuổi trẻ, Thanh niên, Tiếng nói Việt Nam, trên trang Web của trường và phát trên Đài TNVN. Số lần đăng báo chưa nhiều. Khả năng thông tin rộng rãi
đến các đối tượng ứng viên còn hạn chế. Theo chúng tôi, thông tin trên cần đăng thêm trên báo Kiến thức ngày nay tờ báo mà giảng viên đại học hay đọc và các
báo khác thêm nhiều kỳ nữa. Về lâu dài, nhà trường nên đăng ký trang chủ trên mạng Internet giúp người truy cập website của nhà trường dễ dàng hơn. Mặt khác,
để thông tin tới đối tượng cần tuyển, nhà trường cần có những thơng báo gửi qua các trường Đại học hoặc các cơ quan hữu quan quảng bá thông tin tuyển dụng.
- Trong thông báo tuyển chọn nên nêu thêm thông tin về quyền lợi ứng viên cần tuyển lương bổng, cơ hội được đào tạo thăng tiến, môi trường được làm việc
vv…. - Bộ phận tổ chức khi lên danh sách thống kê chưa đầy đủ thông tin, nên đã
để xảy ra tình trạng có những ứng viên được miễn thi viết vẫn phải làm bài, hoặc ứng thi vào chuyên ngành không đúng học vị đào tạo theo bằng thạc sỹ được ưu
tiên xét tuyển.
- Với các ứng viên có bằng thạc sỹ, tiến sỹ được ưu tiên xét tuyển, Hội đồng tuyển chọn cần rà soát, tuyển chọn kỹ lưỡng, tránh hiện tượng bằng cấp không phản
ánh đúng năng lực chun mơn. - Nên có bảng biểu mẫu chi tiết gửi về các thành viên trong khoa, tổ bộ môn
để nhận xét giảng viên sau thời gian tập sự. - Đối với việc tuyển giảng viên khoa báo chí, theo chúng tơi hiện nay khơng
nên tuyển các ứng viên được đào tạo từ khoa ngữ văn trường Đại học sư phạm và trường Đại học khoa học xã hội nhân văn. Lý do:
+ Chuyên ngành đào tạo không sát với chuyên ngành báo chí. Thời gian bồi dưỡng, đào tạo để đứng lớp dạy được chuyên ngành báo chí lâu.
+ Khả năng bồi dưỡng để theo học cao học báo chí khó khăn. Hiện tại khoa Báo chí trường Đại học khoa học xã hội -Nhân văn chỉ nhận hồ sơ
thi tuyển cao học báo chí khi những thí sinh dự thi phải tốt nghiệp từ ngành báo chí.
- Trong q trình ra quyết định tuyển chọn, các yếu tố “có thể làm tốt” và muốn làm tốt của ứng viên cần được xem xét và nghiên cứu kỹ lưỡng, cho điểm
một cách hệ thống sao cho quyết định cuối cùng về tuyển chọn ứng viên là khách quan và chính xác.
Về các nguồn thu hút giảng viên qua các lần tuyển, chúng tôi nhận thấy mỗi nguồn tuyển đều có những ưu, khuyết riêng. Đa số các giảng viên được tuyển chọn
có lòng u nghề, có trình độ về lý thuyết và thực hành. Tuy nhiên, một số giảng viên còn có tâm lý: về trường dạy có thời gian rảnh rỗi nhiều hơn để lo cho cơng
việc gia đình. Ngồi giờ lên lớp với số tiết quy định, họ ngại tham gia các công việc khác của cơ quan: như họp hành, trông coi thi, nghiên cứu khoa học vv… Khoa Báo
chí sau nhiều lần tuyển dụng, kết quả tuyển toàn nữ tỉ lệ 10 11. Tình hình trên đòi hỏi lãnh đạo phải quan tâm nhiều hơn đến vấn đề tư tưởng, tâm lý nữ giới cũng
như có kế hoạch hỗ trợ cơng tác khi giải quyết chế độ thai sản nhằm động viên lực lượng lao động này phát huy thế mạnh, hoàn thành nhiệm vụ được giao.
x x x
Tuyển dụng và sử dụng là hai mặt của một vấn đề của việc thu hút nguồn lực đội ngũ giảng viên.Tuyển dụng có dụng cơng, đòi hỏi khắt khe, đặt ra nhiều yêu cầu
cao, nhưng không sử dụng đúng khả năng của giảng viên, bố trí sai chun mơn, thiếu quan tâm đến cơng việc sẽ gây ra lãng phí tiền bạc, chất xám. Đó cũng là một
trong những nguyên nhân khiến số giảng viên có học vị thạc sỹ được tuyển những năm trước đây sau một thời gian nhận nhiệm sở đã bỏ việc. Vấn đề này, thiết nghĩ
cũng đang là khó khăn chung của ngành giáo dục. Sử dụng nguồn lực giảng viên có hiệu quả là khai thác hết thế mạnh của đội
ngũ giảng viên trong việc thực hiện mục đích giáo dục mà Hiệu trưởng chịu trách nhiệm trước cấp trên. Theo chúng tôi, biện pháp tăng cường công tác sử dụng đội
ngũ giảng viên cần lưu ý những vấn đề sau: - Về chuyên môn:
+ Phân công giảng viên sau khi tuyển dụng về các khoa, tổ bộ môn theo hoạch định, đảm bảo dạy đúng chuyên môn được đào tạo.
+ Các học phần giảng dạy nên có sự liên hệ logic về chun mơn. Thí dụ: các học phần về phát thanh nên để giảng viên nghiên cứu chuyên sâu
và đảm nhận: Câu chuyện truyền thanh, Tin phát thanh, Phóng sự phát thanh, Thực hành tin và phóng sự phát thanh, Phỏng vấn phát thanh, Làm chương trình phát
thanh trên máy vi tính. Tương tự các học phần về truyền hình hay các mơn cơ sở cũng vậy.
+ Qn triệt cho giảng viên về nhiệm vụ chính là giảng dạy đi liền với công tác nghiên cứu khoa học.
- Về tổ chức:
+ Nắm được lịch trình giảng dạy của giảng viên trong một năm, một học kỳ, trong một tháng, thậm chí trong một tuần thơng qua kế hoạch giảng dạy của khoa
mà phó Hiệu trưởng đào tạo phụ trách. Hiện nay chương trình máy tính cho phép Hiệu trưởng thực hiện được điều trên.
+ Bố trí những giảng viên giỏi về chun mơn, theo tiêu chí quy định về đạo đức, bằng cấp, năng lực quản lý làm phụ trách đơn vị khoa, phòng. Thơng qua
người đứng đầu cấp khoa, phòng để quản lý giảng viên về chiều sâu. + Bố trí sử dụng giảng viên khơng nên chỉ dựa vào bằng cấp. Với những
giảng viên, năng lực, trình độ chưa tương xứng với bằng cấp cần đào tạo lại hoặc điều chuyển công tác khác.
+ Thông qua các kênh thông tin của HSSV, Giáo viên chủ nhiệm, Hội đồng sư phạm và dự giờ trực tiếp để đánh giá, sử dụng đúng khả năng giảng viên.
+ Thông qua đề xuất của khoa, cử những giảng viên nhiệt tình và có kinh nghiệm làm giáo viên chủ nhiệm. Hàng tháng có kế hoạch họp thường kỳ với giáo
viên chủ nhiệm để nắm bắt tình hình HSSV. + Cần xác định đội ngũ giảng viên là lực lượng rất quan trọng trong nhà
trường. Đây là đội ngũ có tổ chức, có tri thức, ngồi nhiệm vụ giảng dạy còn là nguồn bổ sung cho đội ngũ cán bộ của nhà trường. Chính vì vậy, việc bồi dưỡng
kiến thức quản lý nhà nước, và bồi dưỡng chính trị cho số giảng viên nằm trong diện quy hoạch là cần thiết. Trong trường hợp đội ngũ cán bộ cấp phòng, khoa còn
thiếu nên áp dụng chế độ kiêm nhiệm, tạo điều kiện cho số giảng viên có năng lực được đóng góp cho nhà trường nhiều nhất.
Nói tóm lại, tăng cường cơng tác tuyển chọn và sử dụng đội ngũ giảng viên là một trong những biện pháp quan trọng của các biện pháp xây dựng và phát triển
đội ngũ giảng viên. Công tác xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên phải dựa trên cơ sở đủ về số lượng, cân đối về cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu độ
tuổi, giới tính, đảm bảo sự phát triển bền vững lâu dài cho hoạt động giảng dạy của các khoa, bộ môn trong nhà trường .

3.2.4. Đẩy mạnh công tác đào tạo và bồi dưỡng


Đây là một trong những biện pháp cần thiết của Hiệu trưởng trong việc xây dựng đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng PT-TH II. Trong phần thực trạng, chúng
tôi đã khảo sát, điều tra và phân tích cơng tác đào tạo và bồi dưỡng của nhà trường. Qua ý kiến chung của giảng viên và cán bộ quản lý, công tác đào tạo và bồi dưỡng
là khâu được đánh giá thấp, cần phải được quan tâm nhiều hơn xin xem bảng 2.7 trang 78.
Theo từ điển tiếng Việt, khái niệm đào tạo được hiểu là gây dựng, làm phát triển và bồi dưỡng khả năng. Khái niệm bồi dưỡng được hiểu là gìn giữ và tăng
thêm sức khỏe, khả năng, đạo đức Theo từ điển Việt - Hán hiện đại, khái niệm đào tạo được hiểu như khái niệm
bồi dưỡng péi yăng, trong đó “bồi” có nghĩa là đắp thêm vào, “dưỡng” có nghĩa là ni, vun trồng, cung cấp. Cùng nghĩa với từ này còn có từ Hán – Việt: “Tạo tựu”,
đọc theo âm tiếng Hán là “zào jiù”, nghĩa là bồi dưỡng, đào tạo, nuôi dưỡng. Như vậy đào tạo và bồi dưỡng là hai mặt của một vấn đề, trong đó cơng việc
bồi dưỡng giảng viên với ý nghĩa đào tạo tiếp tục là yêu cầu cấp thiết với mục đích nâng cao trình độ về chính trị, chun mơn, nghiệp vụ làm giàu thêm tri thức, đáp
ứng yêu cầu của thực tế. Trước khi được tuyển vào trường với chức danh giảng viên, các ứng viên là những người đã được đào tạo qua trường lớp. Sau đó, từ
những nguồn khác nhau: giảng viên đại học, những nhà báo, kỹ sư, sinh viên mới tốt nghiệp yêu nghề đến với trường. Yêu cầu của chương trình đào tạo của nhà
trường buộc các giảng viên phải đào tạo và bồi dưỡng để chuyên sâu theo định hướng phân công. Công việc đào tạo và bồi dưỡng này không chỉ phục vụ cho yêu
cầu trước mắt mà còn hướng đến tương lai, mang ý nghĩa chiến lược lâu dài. Đội ngũ giảng viên của trường hiện tập trung tại hai khoa chính là: khoa Báo
chí, khoa Cơng nghệ kỹ thuật điện tử, và hai tổ bộ môn: tổ Cơ bản, tổ Công nghệ thông tin. Dù ở khoa hay tổ bộ môn nào cũng vậy, công tác đào tạo bồi dưỡng, theo
nguyên thứ trưởng Bộ GD-ĐT Hùynh Mai, phải dựa trên 3 lĩnh vực:
- Phẩm chất. - Năng lực.
- Kỹ năng sư phạm. Chỉ thị về công tác xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên nói chung của
Bộ trưởng Bộ Giáo dục – Đào tạo ngày 482003 đã nêu rõ: “Xây dựng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục có phẩm chất chính trị và đạo đức, đủ về số lượng,
đồng bộ về cơ cấu, chuẩn về trình độ đào tạo”.

3.2.4.1. Nội dung đào tạo và bồi dưỡng a. Phẩm chất chính trị và đạo đức


Phẩm chất chính trị, đạo đức là cái gốc của người Thầy trong sự nghiệp giáo dục hiện nay. Người Thầy trong bất cứ thời đại nào cũng là tấm gương về đạo đức
để học sinh, sinh viên học tập. Việc trau dồi đạo đức nhà giáo là một nhiệm vụ, một yêu cầu không thể thiếu của “đạo” làm thầy. Phẩm chất chính trị thể hiện trách
nhiệm công dân gắn liền với đạo đức người Thầy. Tiếp thu những truyền thống tốt đẹp của đạo đức nhà giáo Việt Nam và căn cứ tinh thần của luật giáo dục, Bộ Giáo
dục - Đào tạo đã ban hành Quy định về đạo đức nhà giáo theo quyết định số 16 2008QĐ-BGDĐT ngày 16 tháng 4 năm 2008. Nội dung của những Quy định về
đạo đức nhà giáo gồm những vấn đề cụ thể sau:
- Phẩm chất chính trị
+ Chấp hành nghiêm chỉnh chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước; thi hành nhiệm vụ theo đúng quy định của pháp luật.
Không ngừng học tập, rèn luyện nâng cao trình độ lý luận chính trị để vận dụng vào hoạt động giảng dạy, giáo dục và đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.
+ Có ý thức tổ chức kỷ luật, chấp hành nghiêm sự điều động, phân cơng của tổ chức; có ý thức tập thể, phấn đấu vì lợi ích chung.
+ Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ cơng dân, tích cực tham gia các hoạt động chính trị, xã hội.
- Đạo đức nghề nghiệp
+ Tâm huyết với nghề nghiệp, có ý thức giữ gìn danh dự, lương tâm nhà giáo; có tinh thần đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ đồng nghiệp trong cuộc sống và
trong cơng tác; có lòng nhân ái, bao dung, độ lượng, đối xử hòa nhã với người học, đồng nghiệp; sẵn sàng giúp đỡ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của
người học, đồng nghiệp và cộng đồng. + Tận tụy với công việc; thực hiện đúng điều lệ, quy chế, nội quy của đơn vị,
nhà trường, của ngành. + Công bằng trong giảng dạy và giáo dục, đánh giá đúng thực chất năng lực
của người học; thực hành tiết kiệm, chống bệnh thành tích, chống tham nhũng, lãng phí.
+ Thực hiện phê bình và tự phê bình thường xuyên, nghiêm túc; thường xuyên học tập nâng cao trình độ chun mơn nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học để hoàn
thành tốt nhiệm vụ được giao, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục.
- Lối sống tác phong + Sống có lý tưởng, có mục đích, có ý chí vượt khó vươn lên, có tinh thần
phấn đấu liên tục với động cơ trong sáng và tư duy sáng tạo; thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí cơng vơ tư theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
+ Có lối sống hòa nhập với cộng đồng, phù hợp với bản sắc dân tộc và thích ứng với sự tiến bộ của xã hội; biết ủng hộ, khuyến khích những biểu hiện của lối
sống văn minh, tiến bộ và phê phán những biểu hiện của lối sống lạc hậu ích kỷ. + Tác phong làm việc nhanh nhẹn, khẩn trương khoa học; có thái độ văn
minh, lịch sự trong quan hệ xã hội, trong giao tiếp với đồng nghiệp, với người học; giải quyết cơng việc khách quan, tận tình chu đáo.
+ Trang phục, trang sức khi thực hiện nhiệm vụ phải giản dị, gọn gàng, lịch sự, phù hợp với nghề dạy học, không gây phản cảm và phân tán sự chú ý của người
học. + Đoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp cùng hoàn thành tốt nhiệm vụ; đấu tranh
ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật và các quy định nghề nghiệp. Quan hệ ứng xử đúng mực, gần gũi với nhân dân, phụ huynh học sinh, đồng nghiệp và người
học; kiên quyết đấu tranh với các hành vi trái pháp luật. + Xây dựng gia đình văn hóa, thương yêu quý trọng lẫn nhau; biết quan tâm
đến những người xung quanh; thực hiện nếp sống văn hóa nơi cơng cộng.
- Giữ gìn, bảo vệ truyền thống đạo đức nhà giáo
+ Không lợi dụng chức vụ, quyền hạn để thực hiện hành vi trái pháp luật, quy chế quy định; khơng gây khó khăn, phiền hà đối với người học và nhân dân.
+ Không gian lận, thiếu trung thực trong học tập, và nghiên cứu khoa học và thực hiện nhiệm vụ giảng dạy giáo dục.
+ Không trù dập, chèn ép và có thái độ thiên vị, phân biệt đối xử, thành kiến người học; không tiếp tay bao che cho những hành vi tiêu cực trong giảng dạy, học
tập, rèn luyện của người học và đồng nghiệp. + Không xâm phạm thân thể, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người học,
đồng nghiệp và người khác. Không làm ảnh hưởng đến công việc, sinh hoạt của đồng nghiệp và người khác.
+ Không tổ chức dạy thêm, học thêm trái với quy định. + Không hút thuốc lá, uống rượu bia trong công sở, trong trường học và nơi
không được phép hoặc khi thi hành nhiệm vụ giảng dạy và tham gia các hoạt động giáo dục của nhà trường.
+ Không sử dụng điện thoại di động, làm việc riêng trong các cuộc họp, trong khi lên lớp, học tập, coi thi, chấm thi.
+ Không gây bè phái, cục bộ địa phương, làm mất đoàn kết trong tập thể và trong sinh hoạt tại cộng đồng.
+ Không được sử dụng bục giảng làm nơi tuyên truyền, phổ biến những nội dung trái với quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước.
+ Khơng trốn tránh trách nhiệm, thóai thác nhiệm vụ, tự ý bỏ việc; không đi muộn về sớm, bỏ giờ, bỏ buổi dạy, cắt xén dồn ép chương trình, vi phạm quy chế
chuyên môn làm ảnh hưởng đến kỷ cương, nề nếp của nhà trường. + Không tổ chức, tham gia các hoạt động liên quan đến tệ nạn xã hội như: cờ
bạc, mại dâm, ma túy, mê tín, dị đoan; khơng sử dụng, lưu trữ, truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy, độc hại.

b. Chuyên môn


Nắm vững chuyên môn trong giảng dạy là phẩm chất quan trọng của người thầy trong việc cung cấp kiến thức chuẩn xác, khoa học cho HSSV. Hiệu trưởng cần
tạo mọi điều kiện cho đội ngũ giảng viên nâng cao kiến thức học thuật thông qua sự quản lý và tổ chức tại các đơn vị khoa chuyên môn theo hướng trọng tâm, trọng
điểm. Do Trường Cao đẳng PT-TH II hiện tại là một đơn vị có số lượng giảng viên chưa nhiều, nên ngoài phụ trách khoa, Hiệu trưởng cũng là người nắm vững tình
hình của đội ngũ giảng viên thơng qua nhiều kênh thơng tin, và qua phân tích thực trạng đội ngũ giảng viên.
Trong phần thực trạng, chúng tôi đã nêu rõ: PT-TH là một chuyên ngành chuyên sâu dựa trên những tiến bộ khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông
tin. Hiện tại ở Việt Nam chưa có trường Đại học PT-TH. Vì vậy, việc đào tạo giảng viên chuyên ngành báo chí PT-TH cũng như kỹ thuật PT-TH là cơng việc mang tính
chất đặc thù, riêng biệt của nhà trường khi tuyển chọn giảng viên vào trường. Công tác xây dựng đội ngũ giảng viên gắn với việc hoạch định cùng quá trình tuyển chọn
phải gắn với quá trình đào tạo, bồi dưỡng theo hướng chuyên ngành PT-TH. Đây là vấn đề chuyên môn riêng biệt mà trong nội dung đào tạo ở nguồn tuyển giảng viên
tại các trường đại học kỹ thuật hoặc nhân văn mới chỉ cung cấp những nội dung đại
cương, rất sơ lược. Giảng viên giảng dạy chuyên sâu về PT-TH ở 3 chun ngành: Báo chí PT-TH, Cơng nghệ kỹ thuật điện tử PT-TH, Công nghệ tin học PT-TH cần
phải có q trình được đạo tạo, bồi dưỡng theo nhu cầu, mục tiêu từng giai đoạn và quá trình tự đào tạo hoàn thiện kiến thức của bản thân mỗi giảng viên.
Hiệu trưởng cần quan tâm đến việc xây dựng kế hoạch cũng như các điều kiện nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng hàng năm. Trong điều kiện cụ thể, nhà
trường nên xây dựng đội ngũ giảng viên giỏi làm nòng cốt để tổ chức, quản lý và hướng dẫn công tác tự đào tạo, tự bồi dưỡng, đồng thời tăng cường sự phối hợp
giữa các khoa về việc phân công giảng dạy các học trình như tin học, kỹ thuật làm chương trình phát thanh, kỹ thuật làm chương trình truyền hình, làm chương trình
phát thanh trên máy vi tính dựa trên phần mềm FastEdit, CoolEdit cũng như các học trình thuộc chương trình đào tạo chung: chính trị, ngoại ngữ … Thơng qua sự phối
hợp này đảm bảo kế hoạch phân công giảng dạy và từng bước chuyển giao chuyên môn, kỹ năng làm chương trình cho giảng viên khoa báo chí cũng như các giảng
viên của các bộ phận khác. Hiện tại, trong sơ đồ tổ chức của nhà trường có Trung tâm đào tạo nghề
cơng nghệ cao. Nhiệm vụ của Trung tâm này ngoài chức năng quản lý các trang thiết bị thực tập, các phương tiện dạy thực hành, thực tập của trường có nhiệm vụ
mở các lớp đào tạo nghề ngắn hạn, bồi dưỡng nghiệp vụ ngắn hạn. Đối với các lớp đào tạo nghề và bồi dưỡng do giảng viên thỉnh giảng đứng lớp đào tạo các nghành
nghề liên quan đến chuyên ngành PT-TH như: Đạo diễn, Viết kịch bản, Quảng cáo, Dẫn chương trình, DJ, Phát thanh viên vv…, Hiệu trưởng nên cắt cử các giảng viên
trong trường học tập, đào tạo họ trở thành những người có thể chuyên sâu về vấn đề đó, chí ít cũng góp phần hỗ trợ họ giảng dạy các học phần có liên quan gần gũi
trong chương trình đào tạo của nhà trường. Cơng tác đào tạo, bồi dưỡng giảng viên trong thời gian tới đây đòi hỏi yêu
cầu chất lượng ngày một cao hơn. Các hình thức đào tạo ngắn hạn nên phát huy và sắp xếp trong thời gian hè với nội dung thiết thực, tránh ơm đồm hoặc hình thức.

Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (181 trang)

×