1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Báo cáo khoa học >

Quan hệ sản xuất tác động trở lại đối với Lực l ợng sản xuất.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (192.17 KB, 24 trang )


Trong qúa trình sản xuất, để lao động bớt nặng nhọc và đạt hiệu quả cao hơn con ngời luôn luôn tìm cách cải tiến công cụ lao động và chế tạo ra
những công cụ lao động tinh xảo hơn. Cùng với sự biến đổi, phát triển của công cụ lao động thì kinh nghiệm sản xuất, thói quen lao động, kỹ năng sản
xuất, kiến thức khoa học của con ngời cũng tiến bộ. Lực lợng sản xuất trở thành yếu tố động nhất, cách mạng nhất, còn Quan hệ sản xuất là yếu tố ổn
định, có khuynh hớng lạc hậu hơn sự phát triển của Lực lợng sản xuất. Lực l- ợng sản xuất là nội dung, là phơng thức, còn Quan hệ sản xuất là hình thức
xã hội của nó. Trong mối quan hệ giữa nội dung và hình thức, thì nội quyết định hình thức; hình thức phụ thuộc vào nội dung; nội dung thay đổi trớc sau
đó hình thức thay đổi theo, tất nhiên trong quan hệ với nội dung và hình thức không phải là mặt thụ động, nó tác động trở lại đối với sù ph¸t triĨn cđa néi
dung.
Cïng víi sù ph¸t triĨn cđa Lực lợng sản xuất, Quan hệ sản xuất cũng hình thành và biến đổi cho phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của
Lực lợng sản xuất, sự phù hợp đó là động lực làm cho Lực lợng sản xuất phát triển mạnh mẽ. Nhng Lực lợng sản xuất thờng phát triển nhanh, còn Quan hệ
sản xuất có xu hớng ổn định khi Lực lợng sản xuất đã phát triển lên một trình độ mới, Quan hệ sản xuất không còn phù hợp với nó nữa, sẽ nảy sinh mâu
thuẫn gay gắt giữa hai mặt của phơng thức sản xuất. Sự phát triển khách quan đó tất yếu dẫn đến xoá bỏ Quan hệ sản xuất cũ, thay bằng Quan hệ sản xuất
mới phù hợp với tính chất và trình độ của Lực lợng sản xuất, mở đờng cho Lực lợng sản xuất phát triển
.

3. Quan hệ sản xuất tác động trở lại đối với Lực l ợng sản xuất.


Sự hình thành, biến đổi và phát triển của Quan hệ sản xuất phụ thuộc vào tính chất và trình độ của Lực lợng sản xuất, nhng Quan hệ sản xuất là hình
thức xã hội mà Lực lợng sản xuất dựa vào đó để phát triển, nó tác động trở lại đối với Lực lợng sản xuất: có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của
Lực lợng sản xuất. Nếu Quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ
5
phát triển của Lực lợng sản xuất nó thúc đẩy sản xuất phát triển nhanh. Nếu nó không phù hợp, nó kìm hãm sự phát triển của Lực lợng sản xuất, song tác
dụng kìm hãm đó chỉ tạm thời theo tính tất yếu khách quan, ci cïng nã sÏ bÞ thay thÕ b»ng kiĨu Quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của
Lực lợng sản xuất.
Sở dĩ Quan hệ sản xuất có thể tác động mạnh mẽ trở lại đối với Lực lợng sản xuấtthúc đẩy hoặc kìm hãm; vì nó quy định mục đích của sản xuất, quy
định hệ thống tổ chức quản lý sản xuất và quản lý xã hội, quy định phơng thức phân phối và phần của cải ít hay nhiều mà ngời lao động đợc hởng. Do
đó nó ảnh hởng đến thái độ quảng đại quần chúng lao động- Lực lợng sản xuất chủ yếu của xã hội; nó tạo ra những điều kiện kích thích hoặc hạn chế
việc cải tiến công cụ lao động, áp dụng những thành tựu khoa học và kỹ thuật vào sản xuất, hợp tác và phân phối lao động.
Tuy nhiên, không đợc hiểu một cách đơn giản tính tích cực của Quan hệ sản xuất chỉ là vai trò của những hình thức sở hữu, mỗi kiểu Quan hệ sản
xuất là một hệ thống, một chỉnh thể hu cơ gồm ba mặt: quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý và quan hệ phân phối. Chỉ trong chỉnh thể đó, Quan hệ sản xuất
mới trở thành động lực, thúc đẩy con ngời hành động nhằm phát triển sản xuất.
Quy luật về sự phù hợp của Quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của Lực lợng sản xuất là quy luật chung nhất của sự phát triển xã hội, sự tác
động của quy luật này, đã đa xã hội loài ngời trải qua các phơng thức sản xuất: Công xã nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, t bản chủ nghĩa, xã
hội chủ nghĩa.
Thời kỳ đầu trong lịch sử là xã hội cộng sản nguyên thuỷ, với Lực lợng sản xuất thấp kém, Quan hệ sản xuất cộng đồng nguyên thuỷ, đời sống của
họ phụ tuộc vào săn bắt, hái lợm.
Trong qúa trình sinh sống, họ đã không ngừng cải tiến và thay đổi công cụLực lợng sản xuất, đến sau một thời kỳ Lực lợng sản xuất phát triển,
6
quan hệ cộng động bị phá vỡ, dần dần xuất hiện quan hệ t nhân. Nhờng chỗ cho nó là một xã hội chiếm hữu nô lệ, với Quan hệ sản xuất chạy theo sản
phẩm thặng d, chủ nô muốn có nhiều sản phẩm, dẫn đến bóc lột, đa ra công cụ lao động tốt, tinh xảo vào sản xuất, những ngời lao động trong thời kỳ này
bị đối xử hết sức man dợ. Họ là những món hàng trao đi đổi lại, họ lầm tởng do những công cụ lao động dẫn đến cuộc sống khổ cực của mình, nên họ phá
hoại Lực lợng sản xuất, những cuộc khởi nghĩa nô lệ diễn ra khắp nơi.
Chấm dứt chế độ xã hội chiếm hữu nô lệ, xã hội phong kiÕn ra ®êi, x· héi míi ra ®êi, giai cấp thời kỳ này là dịa chủ, thời kỳ đầu giai cấp địa chủ nới
nỏng hơn chế độ trớc, ngời nông dân có ruộng đất, t do thân thể.
Cuối thời kỳ phong kiến, xuất hiện những công trờng thủ công và dẫn tới Lực lợng sản xuất mẫu thuẫn với Quan hệ sản xuất, cuộc cách mạng t sản ra
đời, chế độ t bản thời kỳ này chạy theo giá trị thặng d và lợi nhuận, họ đa ra những kỹ thuật mới, những công cụ sản xuất hiện đại áp dụng vào sản xuất,
thời kỳ này Quan hệ sản xuất là quan hệ sản xuất t nhân về t liệu sản xuất nên dẫn tới cuộc đấu tranh gay gắt giữa t sản và vô sản, xuất hiện một số nớc
CNXH. CNXH ra đời quan tâm đến xã hội hoá công hữu, nhng trên thực tế CNXH ra đời ở các nớc cha qua thời kỳ t bản chủ nghĩa, chỉ có Liên Xô là
qua thời kỳ t bản chủ nghĩa, nhng chỉ là chủ nghĩa t bản trung bình.
Quy luật về sự phù hợp của Quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của Lực lợng sản xuất là quy luật vận động, phát triển của x· héi qua sù thay
thÕ kÕ tiÕp nhau tõ thÊp đến cao của phơng thức sản xuất.

4. Mối quan hệ biện chứng giữa Lực l ợng sản xuất và Quan hƯ s¶n


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (24 trang)

×