1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Báo cáo khoa học >

Lực l ợng sản xuất: CNTB d ới ánh sáng của quy luật về sự thích ứng giữa Quan hệ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (192.17 KB, 24 trang )


Néi dung
Ch ¬ng I
: øng dơng quan điểm toàn diện của
triết học mác-lênin về quy luật Quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát
triển của Lực lợng sản xuất trong công cuộc đổi mới kinh tế ở Việt Nam.
Mỗi hình thái kinh tế xã hội, có một phơng thức sản xuất riêng, đó là cách thức con ngời thực hiện qúa trình sản xuất vật chất ở một giai đoạn lịch
sử nhất định. Phơng thức sản xuất vật chất là sự thống nhất biện chứng của Lực lợng sản xuất và Quan hệ sản xuất.

I. Lực l ợng sản xuất:


Lực lợng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con ngời với tự nhiên. Trình độ Lực lợng sản xuất thể hiện trình độ chinh phục thiên nhiên của con
ngời trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Lực lợng sản xuất là sự kết hợp giữa ngời lao động và t liƯu s¶n xt.
T liƯu s¶n xt do x· héi tạo ra, trớc hết là công cụ lao động. Ngời lao động với những kinh nghiệm sản xuất, thói quen lao động, sử
dụng t liệu sản xuất để tạo ra của cải vật chất. T liệu sản xuất gồm đối tợng lao động và t liệu lao động. Trong t liệu lao động có công cụ lao động và
những t liệu lao động khác cần thiết cho việc chuyển, bảo quản sản phẩm
Ngoài công cụ lao động, trong t liệu sản xuất còn có đối tợng lao động,
phơng tiện sản xuất nh đờng xá, cầu cống, xe cộ, bến cảng là yếu tố quan
trọng của Lực lợng sản xuất.
2
Trong thời đại ngày nay, khoa học kỹ thuật trở thành Lực lợng sản xuất trực tiếp. Nó là ngành sản xuất riêng, vừa xâm nhập vào các yếu tố cấu thành
Lực lợng sản xuất, đem lại sự thay đổi về chất của Lực lợng sản xuất. Các yếu tố cấu thành Lực lợng sản xuất tác động lẫn nhau một cách khách quan,
làm cho Lực lợng sản xuất trở thành yếu tố động nhất.

II. Quan hệ sản xuất


Mối quan hệ giữa ngời với ngời trong qúa trình sản xuất vật chất là Quan hệ sản xuất. Cũng nh Lực lợng sản xuất, Quan hệ sản xuất thuộc lÜnh vùc ®êi
sèng vËt chÊt x· héi. TÝnh chÊt cđa Quan hệ sản xuất thể hiện ở chỗ chúng tồn tại khách quan độc lập với ý thức của con ngời.
Quan hệ sản xuất là quan hệ kinh tế cơ bản của một hình thái kinh tế-xã hội. Mỗi kiểu Quan hệ sản xuất tiêu biểu cho bản chất của một hình thái kinh
tế- xã hội nhất định.
Quan hệ sản xuất gồm những mặt cơ bản sau:
Quan hệ sở hữu về t liệu sản xuất.
Quan hệ tổ chức quản lý.
Quan hệ phân phối sản phẩm lao động. Ba mặt nói trên có quan hệ hữu cơ với nhau, trong đó quan hệ sở hữu về
t liệu sản xuất có ý nghĩa quyết định đối với tất cả các quan hệ khác. Bản chất của bất kỳ Quan hệ sản xuất nào cũng đều phụ thuộc vào vấn đề những
t liệu sản xuất chủ yếu trong xã hội đợc giải quyết nh thế nào.
Quan hệ sản xuất do con ngời tạo ra. Song nó đợc hình thành một cách khách quan, không phụ thuộc vào ý nuốn chủ quan cđa con ngêi.
Quan hƯ s¶n xt mang tÝnh chÊt ổn định tơng đối trong bản chất xã hội và tính phong phú đa dạng của các hình thức biểu hiện.
3
III. Quy luật về sự phù hợp giữa Quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của Lực l
ợng sản xuất.
Lực lợng sản xuất và Quan hệ sản xuất là hai mặt của phơng thức sản xuất, chúng tồn tại không tách rời nhau mà tác động biện chứng lẫn nhau,
hình thành quy luật xã hội phổ biến của toàn bộ lịch sử loài ngời: quy luật về sự phù hợp giữa Quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của Lực lợng sản
xuất vạch rõ tính chất phụ thuộc khách quan của Quan hệ sản xuất vào sự phát triển của Lực lợng sản xuất. Đến lợt mình Quan hệ sản xuất tác động trở
lại đối với Lực lợng sản xuất.

1. Tính chất và trình độ của Lực l ợng sản xuất.


Tính chất của Lực lợng sản xuất là tính chất của t liệu sản xuất và của lao động. Nó thể hiện tính chất của t liệu sản xuất là sử dụng công cụ thủ công và
tính chất của lao động là lao động riêng lẻ. Những công cụ sản xuất nh búa, rìu, cày, bừa do một ng
ời sử dụng để sản xuất ra vật dùng không cần tới
lao động tập thể-Lực lợng sản xuất có tính chất cá nhân. khi máy móc ra đời đòi hỏi phải có nhiều ngời mới sử dụng đợc, để làm ra một sản phẩm cần có
sự hợp tác của nhiều ngời, mỗi ngời làm một bộ phận công việc mới thành đ- ợc sản phẩm ấy thì Lực lợng sản xuất mang tính chất xã hội hoá.
Trình độ của Lực lợng sản xuất là trình độ phát triển của công cụ lao động, của kỹ thuật, trình độ kinh nghiệm, kỹ năng lao động của ngời lao
động, quy mô sản xuất, trình độ phân công lao động-xã hội. Trình độ Lực l- ợng sản xuất càng cao thì sự phân công lao động càng tỷ mỉ. Trình độ phát
triển của phân công lao động thể hiện rõ ràng trình độ của các Lực lợng sản xuất.

2. Lực l ợng sản xuất quyết định Quan hƯ s¶n xt.


Xu híng cđa s¶n xt vËt chÊt là không ngừng phát triển, sự biến đổi bao giờ cũng bắt đầu bằng sự biến đổi của Lực lợng sản xuất.
4
Trong qúa trình sản xuất, để lao động bớt nặng nhọc và đạt hiệu quả cao hơn con ngời luôn luôn tìm cách cải tiến công cụ lao động và chế tạo ra
những công cụ lao động tinh xảo hơn. Cùng với sự biến đổi, phát triển của công cụ lao động thì kinh nghiệm sản xuất, thói quen lao động, kỹ năng sản
xuất, kiến thức khoa học của con ngời cũng tiến bộ. Lực lợng sản xuất trở thành yếu tố động nhất, cách mạng nhất, còn Quan hệ sản xuất là yếu tố ổn
định, có khuynh hớng lạc hậu hơn sự phát triển của Lực lợng sản xuất. Lực l- ợng sản xuất là nội dung, là phơng thức, còn Quan hệ sản xuất là hình thức
xã héi cđa nã. Trong mèi quan hƯ gi÷a néi dung và hình thức, thì nội quyết định hình thức; hình thức phụ thuộc vào nội dung; nội dung thay đổi trớc sau
đó hình thức thay đổi theo, tất nhiên trong quan hệ với nội dung và hình thức không phải là mặt thụ động, nó tác động trở lại đối víi sù ph¸t triĨn cđa néi
dung.
Cïng víi sù ph¸t triĨn của Lực lợng sản xuất, Quan hệ sản xuất cũng hình thành và biến đổi cho phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của
Lực lợng sản xuất, sự phù hợp đó là động lực làm cho Lực lợng sản xuất phát triển mạnh mẽ. Nhng Lực lợng sản xuất thờng phát triển nhanh, còn Quan hệ
sản xuất có xu hớng ổn định khi Lực lợng sản xuất đã phát triển lên một trình độ mới, Quan hệ sản xuất không còn phù hợp với nó nữa, sẽ nảy sinh mâu
thuẫn gay gắt giữa hai mặt của phơng thức sản xuất. Sự phát triển khách quan đó tất yếu dẫn đến xoá bỏ Quan hệ sản xuất cũ, thay bằng Quan hệ sản xuất
mới phù hợp với tính chất và trình độ của Lực lợng sản xuất, mở đờng cho Lực lợng sản xuất phát triển
.

3. Quan hệ sản xuất tác động trở lại đối với Lực l ợng sản xuất.


Sự hình thành, biến đổi và phát triển của Quan hệ sản xuất phụ thuộc vào tính chất và trình độ của Lực lợng sản xuất, nhng Quan hệ sản xuất là hình
thức xã hội mà Lực lợng sản xuất dựa vào đó để phát triển, nó tác động trở lại đối với Lực lợng sản xuất: có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của
Lực lợng sản xuất. Nếu Quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ
5
phát triển của Lực lợng sản xuất nó thúc đẩy sản xuất phát triển nhanh. Nếu nó không phù hợp, nó kìm hãm sự phát triển của Lực lợng sản xuất, song tác
dụng kìm hãm đó chỉ tạm thời theo tính tất yếu khách quan, ci cïng nã sÏ bÞ thay thÕ b»ng kiĨu Quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của
Lực lợng sản xuất.
Sở dĩ Quan hệ sản xuất có thể tác động mạnh mẽ trở lại đối với Lực lợng sản xuấtthúc đẩy hoặc kìm hãm; vì nó quy định mục đích của sản xuất, quy
định hệ thống tổ chức quản lý sản xuất và quản lý xã hội, quy định phơng thức phân phối và phần của cải ít hay nhiều mà ngời lao động đợc hởng. Do
đó nó ảnh hởng đến thái độ quảng đại quần chúng lao động- Lực lợng sản xuất chủ yếu của xã hội; nó tạo ra những điều kiện kích thích hoặc hạn chế
việc cải tiến công cụ lao động, áp dụng những thành tựu khoa học và kỹ thuật vào sản xuất, hợp tác và phân phối lao động.
Tuy nhiên, không đợc hiểu một cách đơn giản tính tích cực của Quan hệ sản xuất chỉ là vai trò của những hình thức sở hữu, mỗi kiểu Quan hệ sản
xuất là một hệ thống, một chỉnh thể hu cơ gồm ba mặt: quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý và quan hệ phân phối. Chỉ trong chỉnh thể đó, Quan hệ sản xuất
mới trở thành động lực, thúc đẩy con ngời hành động nhằm phát triển sản xuất.
Quy luật về sự phù hợp của Quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của Lực lợng sản xuất là quy luật chung nhất của sự phát triển xã hội, sự tác
động của quy luật này, đã đa xã hội loài ngời trải qua các phơng thức sản xuất: Công xã nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, t bản chủ nghĩa, xã
hội chủ nghĩa.
Thời kỳ đầu trong lịch sử là xã hội cộng sản nguyên thuỷ, với Lực lợng sản xuất thấp kém, Quan hệ sản xuất cộng đồng nguyên thuỷ, đời sống của
họ phụ tuộc vào săn bắt, hái lợm.
Trong qúa trình sinh sống, họ đã không ngừng cải tiến và thay đổi công cụLực lợng sản xuất, đến sau một thời kỳ Lực lợng sản xuất phát triển,
6
quan hệ cộng động bị phá vỡ, dần dần xuất hiện quan hệ t nhân. Nhờng chỗ cho nó là một xã hội chiếm hữu nô lệ, với Quan hệ sản xuất chạy theo sản
phẩm thặng d, chủ nô muốn có nhiều sản phẩm, dẫn đến bóc lột, đa ra công cụ lao động tốt, tinh xảo vào sản xuất, những ngời lao động trong thời kỳ này
bị đối xử hết sức man dợ. Họ là những món hàng trao đi đổi lại, họ lầm tởng do những công cụ lao động dẫn đến cuộc sống khổ cực của mình, nên họ phá
hoại Lực lợng sản xuất, những cuộc khởi nghĩa nô lệ diễn ra khắp nơi.
Chấm dứt chế độ xã hội chiếm hữu nô lệ, xã héi phong kiÕn ra ®êi, x· héi míi ra ®êi, giai cấp thời kỳ này là dịa chủ, thời kỳ đầu giai cấp địa chủ nới
nỏng hơn chế độ trớc, ngời nông dân có ruộng đất, t do thân thể.
Cuối thời kỳ phong kiến, xuất hiện những công trờng thủ công và dẫn tới Lực lợng sản xuất mẫu thuẫn với Quan hệ sản xuất, cuộc cách mạng t sản ra
đời, chế độ t bản thời kỳ này chạy theo giá trị thặng d và lợi nhuận, họ đa ra những kỹ thuật mới, những công cụ sản xuất hiện đại áp dụng vào sản xuất,
thời kỳ này Quan hệ sản xuất là quan hệ sản xuất t nhân về t liệu sản xuất nên dẫn tới cuộc đấu tranh gay gắt giữa t sản và vô sản, xuất hiện một số nớc
CNXH. CNXH ra đời quan tâm đến xã hội hoá công hữu, nhng trên thực tế CNXH ra đời ở các nớc cha qua thời kỳ t bản chủ nghĩa, chỉ có Liên Xô là
qua thời kỳ t bản chủ nghĩa, nhng chỉ là chủ nghĩa t bản trung bình.
Quy luật về sự phù hợp của Quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của Lực lợng sản xuất là quy luật vận động, phát triển cña x· héi qua sù thay
thÕ kÕ tiÕp nhau tõ thấp đến cao của phơng thức sản xuất.

4. Mối quan hệ biện chứng giữa Lực l ợng sản xuất và Quan hệ sản


xuất.
Khi trình độ Lực lợng sản xuất còn thủ công thì tính chất của nó là tính chất cá nhân. Nó thể hiện ở chỗ chỉ một ngời có thể sử dụng đợc nhiều công
cụ khác nhau trong qúa trình sản xuất để tạo ra sản phẩm. Nh vậy, tất yếu dẫn đến Quan hệ sản xuất sở hữu t nhânnhiều hình thức về t liệu sản xuất.
7
Khi sản xuất bằng máy móc ra đời, trình độ sản xuất công nghiệp thì một ngời không thể sử dụng đợc nhiều mà chỉ một công cụ, hoặc một bộ
phận chức năng. Nh vậy, qúa trình sản xuất phải nhiều ngời tham gia sản phẩm lao động là thành quả của nhiều ngời, ở đây, Lực lợng sản xuất ®·
mang tÝnh x· héi ho¸, tÊt u mét Quan hƯ sản xuất sản xuất thích hợp phải là Quan hệ sản xuất sở hữu về t liệu sản xuất. Ănghen viết: Giai cấp t sản
không thể biến t liệu sản xuất có tính chất hạn chế ấy, thành Lực lợng sản xuất mạnh mẽ đợc, nếu không biến những t liệu sản xuất của cá nhân, thành
những t liệu sản xuÊt cã tÝnh chÊt x· héi, mµ chØ mét sè ngời cùng làm mới có thể sử dụng đợc.
Quan hệ biện chứng giữa Lực lợng sản xuất và Quan hệ sản xuất thể hiện ở chỗ:
Xu hớng của sản xuất vật chất là không ngừng biến đổi, phát triển. Sự biến đổi đó bao giờ cũng bắt đầu bằng sự biến đổi và phát triển của Lực lợng
sản xuất mà trớc hết là công cụ. Công cụ phát triển đến mâu thuẫn gay gắt với Quan hệ sản xuất hiện có và xuất hiện đòi hỏi khách quan phải xoá bá
Quan hƯ s¶n xt cò thay b»ng Quan hƯ s¶n xuất mới. Nh vậy, Quan hệ sản xuất vốn là hình thức phát triển của Lực lợng sản xuấtổn định tơng đối,
Quan hệ sản xuất trở thành xiềng xích kìm hãm sự phát triển của Lực lợng sản xuấtkhông phù hợp. Phù hợp và không phù hợp là biểu hiện của mâu
thuẫn biện chứng của Lực lợng sản xuất và Quan hệ sản xuất, tức là sự phù hợp trong mâu thuẫn là bao hàm mâu thuẫn.
Khi phù hợp cũng nh lúc không phù hợp với Lực lợng sản xuất, Quan hệ sản xuất luôn có tính độc lập tơng đối với Lực lợng sản xuất, thể hiện trong
nội dung sự tác động trở lại đối với Lực lợng sản xuất, quy điịnh mục đích xã hội của sản xuất, xu hớng phát triển của quan hệ lợi ích, từ đó hình thành
những yếu tố hoặc thúc đẩy, hoặc kìm hãm sự phát triển của Lực lợng sản xuất.
Sự tác động trở lại nói trên của Quan hệ sản xuất bao giờ cũng thông qua các quy luật kinh tế cơ bản.
8
Phù hợp và không phù hợp giữa Lực lợng sản xuất và Quan hệ sản xuất là khách quan và phổ biến của mọi phơng thức sản xuất. Sẽ không đúng nếu
quan niệm trong CNTB luôn luôn diễn ra không phù hợp, còn dới CNXH phù hợp giữa Quan hệ sản xuất và Lực lợng sản xuất.

IV. CNTB d íi ¸nh s¸ng cđa quy lt vỊ sù thích ứng giữa Quan hệ


sản xuất và Lực l ợng sản xuất.
Những năm trớc đây, khi nói đến mối quan hệ sản xuất t bản chủ nghĩa và Lực lợng sản xuất của nó, ngời ta thờng nhấn mạnh rằng Lực lợng sản
xuất đã phát triển cao độ, tới mức mà khuôn khổ chật hẹp của Quan hệ sản xuất t bản chủ nghĩa không thể chứa đựng nổi nữa; rằng mâu thuẫn giữa tính
chất xã hội của qúa trình sản xuất với hình thức chiếm hữu t nhân t bản chủ nghĩa tất yếu trở nên gay gắt cực độ, đòi hỏi phải thay thế chế độ t hữu t bản
chủ nghĩa bằng chế độ công hữu về t liệu sản xuất. CNTB lúc đầu còn là ph- ơng thức sản xuất tiến bộ trong lịch sử so với phơng thức sản xuất phong
kiến, đến nay đã trở thành phản động, kìm hãm sự phát triển của xã hội loài ngời, không còn lý do gì để tồn tại nữa.
Nhng bớc vào những năm đầu của thập kỷ 80 đến nay, CNTB lại đang chứng tỏ một sức sống mới. Phải chăng sau những cơn khủng hoảng, CNTB
đã tìm đợc một liều thuốc hồi sinh?. Năng suất lao động, nhịp độ phát triển kinh tế của các nớc t bản tăng rõ rệt, trong thời gian tới còn hứa hẹn một sự
tăng trởng mạnh mẽ hơn.
Quy luật về sự thích ứng giữa Quan hệ sản xuất và Lực lợng sản xuất, tìm ra những điều chỉnh của CNTB về Quan hệ sản xuất có thể thích ứng đợc với
sự phát triển của Lực lợng sản xuất xã hội.
Nhờ những điều chỉnh này, CNTB không những không kìm hãm sự phát triển của Lực lợng sản xuất, mà còn thúc đẩy, tạo điều kiện cho nó phát triển
mạnh mẽ hơn nữa. Đồng thời, những điều chỉnh đó cũng làm biến đổi bản thân Lực lợng sản xuất, đặc biệt là những biến đổi của đội ngũ giai cấp công
nhân-Lực lợng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại ở các nớc t bản
9
chủ nghĩa, làm cho cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân hiện đại trở nên phong phú hơn, đa dạng hơn, xuất hiện những trở ngại mới trên con đờng đi
tớimục tiêu xoá bỏ sự bóc lột của giai cấp t sản.
Về sự điều chỉnh của CNTB đối với Quan hệ sản xuất, cần thấy rằng qúa trình điều chỉnh diễn ra ở tất cả các yếu tố trong hệ thống sản xuất t bản chủ
nghĩa. Những điều chỉnh ở các lĩnh vực, các khía cạnh khác nhau của Quan hệ sản xuất đã tác động, ảnh hởng chi phối lẫn nhau, tổng hợp lại tạo ra sự
thích ứng, phù hợp của Quan hệ sản xuất t bản chủ nghĩa đối với Lực lợng sản xuất xã hội, thúc đẩy sự phát triển của Lực lợng sản xuất, tạo ra những
biến đổi mới trong Lực lợng sản xuất. CNTB đã tỏ ra là còn có thể tạo điều kiện cho sự phát triển hơn nữa của Lực lợng sản xuất và do đó có những cơ
sở mới cho sự tồn taị của mình. Tình hình đó đã xác minh cho tinh đúng đắn của quan hệ Mác-xít không một chế độ xã hội nào lại diệt vong, khi tất cả
những Lực lợng sản xuất mà chế độ xã hội đó tạo ra địa bàn đầy đủ cho sự phát triển vẫn còn cha phát triển.
Trớc hết, chúng ta xem xét những điều chỉnh trong quan hƯ sư dơng cđa CNTB. Trong c¸c níc CNTB hiện nay đã áp dụng chế độ Sở hữu xã hội dới
dạng cổ phiếu để dần dần thay thế cho chiếm hữu cá thể và chiếm hữu t nhân về t liệu sản xuất. Có thể nói, đây là một trong những hình thức quan trọng
nhất trong Quan hệ sở hữu để phần nào phù hợp, thích ứng với tính chất xã hội hoá cao của Lực lợng sản xuất.
Ngời công nhân làm thuê có thể đợc mua cổ phần của công ty-xí nghiệp, nh vậy họ đã trở thành những ngời đồng sở hữu công ty, xí nghiệp đó, có thể
cùng tham dự chia sẻ lợi nhuận. Sở hữu cổ phần trở thành biện pháp xã hội hoá sở hữu hoặc một sự phân tán sở hữu, không thể cho t liƯu s¶n xt tËp
trung trong tay mét sè ít ngời, hoặc thuộc một công ty độc quyền nào đó.
Mặt khác, việc trở thành đồng sở hữu sản xuất, đợc hởng một phần lợi nhuận cũng làm cho ngời công nhân quan tâm đến qúa trình sản xuất, chú ý
tới việc tăng năng suất lao động, đẩy nhanh sự phát triển của Lực lợng sản xuất hơn nữa. Đồng thời, đây cũng là sợi dây cột chặt lợi ích của hàng triệu
ngời lao động vào lợi ích của t bản, những ngời công nhân có cổ phiếu thờng
10
tách khỏi các tổ chức chính trị, đoàn thể của giai cấp công nhân.Từ đó dung hoà đợc sự xung đột giữa ngời lao động và nhà t bản.
Một xu hớng khác cho việc điều chỉnh Quan hệ tổ chức, quản lý, điều hành qúa trình sản xuất xã hội của CNTB để thích thích ứng với trình độ hoá
ngày càng cao của Lực lợng sản xuất và tăng dần tính linh hoạt của tổ chức sản xuất.
Nhờ áp dụng kĩ thuật mới đặc biệt là phơng tiện điều khiển bằng điện tử, nền sản xuất t bản ngày nay đã có khả năng nhanh chóng đáp ứng đòi hỏi của
thị trờng, dễ dàng thích nghi với nhu cầu của ngời tiêu dùng. Và nh thế vòng quay của quá trình sản xuất mở rộng t bản chủ nghĩa sẽ nhanh hơn, nền sản
xuất xã hội sẽ càng đợc thúc đẩy phát triển nhanh chóng.
Một điểm cần chú ý tới việc điều chỉnh Quan hệ tổ chức quản lý, điều hành quá trình sản xuất xã hội của CNTB ngày nay, là sự giao kết chặt chẽ
giữa lĩnh vực sản xuất với lĩnh vực nghiên cứu, phát minh khoa học,thiết kế. Những hoạt động trớc đây đợc coi là bên ngời sản xuất phục vụ sản xuất
nh cung ứng, tiêu thụ, hoạt động tài chính, giao thông, bu điện cũng trở thành những yếu tố, những mắt khâu quan trọng của bản thân nền sản xuất. Dờng
nh khi quản lý, điều hành qúa trình sản xuất, ngời ta cũng đồng thời điều hành, quản lý toàn bộ hoạt động của xã hội.
Một sự điều chỉnh về Quan hệ sản xuất nữa mà CNTB đã thực hiện để có thể thích ứng với trình độ phát triển của Lực lợng sản xuất là sự điều chỉnh về
quan hệ phân phối.
Cần chØ ra r»ng CNTB së dÜ cã thĨ thùc hiƯn đợc sự điều chỉnh này là nhờ sự phát triển của Lực lợng sản xuất, đã tạo ra một năng suất lao động xã hội
cao. Mặt khác, chính nhờ sự điều chỉnh quan hệ phân phối CNTB có thể ràng buộc chặt chẽ hơn nữa ngời công nhân cũng nh mọi thành viên khác của xã
hội, qua đó có thể ổn định đợc chế độ t bản chủ nghĩa, đồng thời vẫn thu đợc lợi nhuận siêu ngạch ngày một nhiều hơn.
Nh vậy, giới hạn trong phạm vi mối quan hệ biện chứng giữa Quan hệ sản xuất và Lực lợng sản xuất bởi chế độ t bản chủ nghĩa, với những điều
chỉnh của CNTB trong tất cả các yếu tố cấu thành của Quan hệ sản xuất, để
11
có thể thích ứng với trình độ của Lực lợng sản xuất, tạo điều kiện cho sản xuất phát triển hơn nữa. Những điều chỉnh này về Quan hệ sản xuất là những
thay đổi trong đội ngũ giai cấp công nhân, chính những điều kiện khách quan này CNTB có thể tồn tại và phát triển.
12
Ch ơng
II : quy luật Quan hệ sản xuất phù hợp với
tính chất và trình độ phát triển của Lực lợng sản xuất với công cuộc đổi mới kinh tÕ ë Việt
Nam. Trong công cuộc đổi mới đất nớc, đẩy mạnh phát triển sản xuất, cải tạo
và xây dựng Quan hệ sản xuất, nhất thiết phải gắn liền với việc nhận thức và vận dụng quy luật Quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát
triển của Lực lợng sản xuất.
I. Nhìn lại những sai lầm về quy luật Quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của Lực l
ợng sản xuất tr ớc Đại hội VI.
Quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của Lực l- ợng sản xuất thì Lực lợng sản xuất phát triển thuận lợi, đồng thời kéo theo
Quan hệ sản xuất cũng phát triển. Con ngời có vai trò trong việc tác động đối với Lực lợng sản xuất và Quan hệ sản xuất, nhng con ngời không thể tự sáng
tạo, định hớng bất cứ hình thức nào của Quan hệ sản xuất mà mình muốn vì rằng cái tất yếu phát triển của Quan hệ sản xuất luôn luôn bị quy định bởi
trạng thái của Lực lợng sản xuất.
Do nhận thức cha đúng đắn về mối quan hệ biện chứng giữa Lực lợng sản xuất và Quan hệ sản xuất trong công cuộc cải tạo Quan hệ sản xuất cũ và xây
dựng Quan hệ sản xuất mới chúng ta đã ra sức vận động gần nh cỡng bức nông dân đi vào hợp tác xã, mở rộng phát triển quy mô nông trờng quốc
doanh, các nhà máy xí nghiệp lớn mà không tính đến trình độ Lực lợng sản xuất đang còn thời kì quá thấp kém chúng ta đã tạo ra những quy mô lớn và
ngộ nhận là đã có Quan hệ sản xuất XHCN và còn nói rằng:mỗi bớc cải tạo Quan hệ sản xuất cũ, xây dựng Quan hệ sản xuất mới đều thúc đẩy sự ra đời
và lớn mạnh của Lực lợng sản xuất mới, Quan hệ sản xuất XHCN có khả năng vợt trớc mở đờng cho sự phát triển của Lực lợng sản xuất. Thực tế
nhiều năn qua đã chứng minh quan điểm đó là sai lầm. Sai lầm chủ yếu
13
không phù hợp với tính chất và trình độải ở chỗ chúng ta duy trì Quan hệ sản xuất lạc hậu so với sự phát triển của Lực lợng sản xuất nh ngời ta thờng nói
mà chủ yếu có những mặt của Quan hệ sản xuất bị thúc đảy lên quá cao, quá xa một cách giả tạo làm cho nó tách rời với trình độ thấp kém của Lực lợng
sản xuất.Bởi vậy,nhận định trong đại hội lần thứ VI là có căn cứ đẵ làm phong phú thêm lý luận biện chứng giữa Lực lợng sản xuất và Quan hệ sản
xuất Lực lợng sản xuất bị kìm hãm không chỉ trong trờng hợp Quan hệ sản xuất lạc hậu, mà cả khi Quan hệ sản xuất phát triển không đồng bộ có những
yếu tố đi quá xa so với trình độ phát triển của Lực lợng sản xuất.
Để chứng minh cho quan niệm sản xuất đi trớc hoặc nói theo cách thời bấy giờ là giải quyết mâu thuẫn giữa Quan hệ sản xuất tiên tiến với Lực lợng
sản xuất lạc hậu chúng ta đã ra sức xây dựng Lực lợng sản xuất một cách khẩn trơng bằng cách đa ra khá nhiều máy móc vào các cơ sở sản xuất nông
nghiệp mới hình thành còn non yếu, què quặt nhằm xây dựng mô hình lâu dài công-nông nghiệp trên địa bàn cấp huyện mà không tính đến khả năng quản
lý trình độ, tổ chức sử dụng của nông dân.
Thực trạng kinh tế ở nớc ta với nền nông nghiệp lạc hậu thì tính tất yếu phù hợp với tính chất và trình độải cải tạo xã hội chủ nghĩa phát triển công
nghiệp quốc doanh, công nghiệp nặng chỉ nên coi nh mục đích lâu dài phù hợp với tính chất và trình độải tiến tới chứ không coi nh mét tÊt u trùc tiÐp
phï hỵp víi tÝnh chất và trình độải cải tạo ngay. Song chúng ta đã bất chấp thực tế khách quan mà chỉ vin vào vai trò tích cực của nhân tố chính trị tởng
rằng nhà nớc chuyên chính vô sản, bằng những đờng lối chính sách và những hoạt động tích cực có thể tìm cách giải quyết tốt nhất trong sản xuất và đời
sống xã hội có khả năng chủ động tạo ra Quan hệ sản xuất mới mở đờng cho Lực lợng sản xuất phát triển. Nhng thực tế chúng ta đã không thể rút ngắn đ-
ợc những cơn đau của thời sinh đẻ nỗi đau đó cứ kéo dài, dẫu sao cũng không thể nhảy qua các giai đoạn phát triển tự nhiên hay dùng sắ lệnh để
xoá bỏ những giai đoạn đó.
14
Quan điểm về Quan hệ sản xuất đi trớc là không đúng và nói đến quan hệ sản xuất XHCN là nhấn mạnh việc xây dựng chế độ công hữu về t liệu sản
xuất và cơ chế thực hiện chế độ đó là phiến diện. đành rằng yếu tố này cơ bản nhng không thể xem xét nhẹ Quan hệ quản lý và Quan hệ phù hợp với tính
chất và trình độân phù hợp với tính chất và trình độối. Phù hợp với tính chất và trình độải thấy rằng Quan hệ sở hữu đợc thể hiện trong tất cả các lĩnh vực
sản xuất trao đổi phù hợp với tính chất và trình độân phù hợp với tính chất và trình độối và tiêu dùng của ngời lao động. Ngay cả việc xoá bỏ chế độ t hữu,
thiết lập công hữu về t liẹu sản xuất không phải chỉ thời gian ngắn là xong. Nhng dẫu có làm đợc thì cũng không phải là mục tiêu trớc mắt của nớc ta mà
chế độ công hữu này cha thể phù hợp với Lực lợng sản xuất hiện có. Hơn nữa những thành phần kinh tế khác có khả năng góp phần làm cho nền sản xuất
phát triển. Một trong sai lầm cơ bản mà chúng ta vấp phải là xoá bỏ quá sớm Quan hệ sản xuất TBCN, khi nỊn kinh tÕ XHCN cđa chóng ta cha cßn đủ sức
thay thế. Điều đó ảnh hởng không tốt đến sự phát triển của Lực lợng sản xuất và đã làm mất một khả năng tạo ra sản phẩm dồi dào cho xã hội. Cũng vậy,
chúng ta xoá sạch tiểu thơng khi hệ thốnh thơng nghiệp quốc doanh và hợp tác xã mua bán của ta cha làm nổi vai trò ngời nội trợ cho xã hội gây ra
nhiều khó khăn ách tắc cho lu thông hàng hoá và không đáp ứng nhu cầu thiết yếu cho nhân dân.

II. Đ ờng lối phát triển Quan hệ sản xuất và Lùc l


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (24 trang)

×