1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Báo cáo khoa học >

Đ ờng lối phát triển Quan hệ sản xuất và Lực l

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (192.17 KB, 24 trang )


Quan điểm về Quan hệ sản xuất đi trớc là không đúng và nói đến quan hệ sản xuất XHCN là nhấn mạnh việc xây dựng chế độ công hữu về t liệu sản
xuất và cơ chế thực hiện chế ®é ®ã lµ phiÕn diƯn. ®µnh r»ng u tè nµy cơ bản nhng không thể xem xét nhẹ Quan hệ quản lý và Quan hệ phù hợp với tính
chất và trình độân phù hợp với tính chất và trình độối. Phù hợp với tính chất và trình độải thấy rằng Quan hệ sở hữu đợc thể hiện trong tất cả các lĩnh vực
sản xuất trao đổi phù hợp với tính chất và trình độân phù hợp với tính chất và trình độối và tiêu dùng của ngời lao động. Ngay cả việc xoá bỏ chế độ t hữu,
thiết lập công hữu về t liẹu sản xuất không phải chỉ thời gian ngắn là xong. Nhng dẫu có làm đợc thì cũng không phải là mục tiêu trớc mắt của nớc ta mà
chế độ công hữu này cha thể phù hợp với Lực lợng sản xuất hiện có. Hơn nữa những thành phần kinh tế khác có khả năng góp phần làm cho nền sản xuất
phát triển. Một trong sai lầm cơ bản mà chúng ta vấp phải là xoá bỏ quá sớm Quan hệ sản xuất TBCN, khi nền kinh tế XHCN của chúng ta cha còn đủ sức
thay thế. Điều đó ảnh hởng không tốt đến sự phát triển của Lực lợng sản xuất và đã làm mất một khả năng tạo ra sản phẩm dồi dào cho xã hội. Cũng vậy,
chúng ta xoá sạch tiểu thơng khi hệ thốnh thơng nghiệp quốc doanh và hợp tác xã mua bán của ta cha làm nổi vai trò ngời nội trợ cho xã hội gây ra
nhiều khó khăn ách tắc cho lu thông hàng hoá và không đáp ứng nhu cầu thiết yếu cho nhân dân.

II. Đ ờng lối phát triển Quan hệ sản xuất và Lực l


ợng sản xuất theo định h
ớng XHCN.
Qua quá trình lãnh đạo xây dựng đất nớc đi lên CNXH, Đảng ta đã rút ra những kinh nghiệm bổ ích và xác định rằng: một trong những nguyên nhân
làm cho sản xuất chậm phát triển, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn là không nắm vững Quan hệ sản xuất phù hợp với tích chất và trình độ phát
triển của Lực lợng sản xuất. Từ đó đảng rút ra cốt lõi để đẩy mạnh việc vận dụng quy luật bằng cách nêu vấn đề gắn liền với cách mạng Quan hệ sản
xuất với cách mạng khoa học- kỹ thuật, chú trọng việc tổ chức lại nền sản xuất xã hội để xác định những hình thức và bớc đi thích hợp.
15
Đảng nhận thức rằng: sự phù hợp giữa Lực lợng sản xuất và Quan hệ sản xuất không bao giờ tuyệt đối, không có mâu thuẫn, không thay đổi, sự phù
hợp của Quan hệ sản xuất với Lực lợng sản xuất không bao giờ là sự phù hợp chung mà bao giờ cũng tồn tại dới những hình thức cụ thể, thích ứng với với
những đặc điểm nhất định với trình độ nào đó của Lực lợng sản xuất. Trong thời kì đi lên của XHCN, nền kinh tế không còn là nền kinh tế t bản, nhng
cũng cha hoàn toàn là nền kinh tế XHCN. Bởi vậy công cuộc cải tạo XHCN phải chú ý đến đặc điểm của sự tồn tại khách quan của nền kinh tế nhiều
thành phần. Trong cải tạo của nền Quan hệ sản xuất cũ và xây dựng Quan hệ sản xuất mới, Đại hội VI đã nhấn mạnh là phải giải quyết đồng bộ ba mặt,
xây dựng chế độ sở hữu, chế độ quản lý và chế độ phân phối, không chỉ nhấn mạnh việc xây dựng chế độ sở hữu mà bỏ qua việc xây dựng hai chế độ kia.
Không nên quá đề cao chế độ công hữu, coi đó là cái duy nhất để xây dựng Quan hệ sản xuất mới. Thực tế chỉ rõ, nếu chế độ quản lý và phân phối không
đợc xác lập theo những nguyên tắc của CNXH và trình độ phát triển của Lực lợng sản xuất nhằm củng cố chế độ cônh hữu về t liệu sản xuất mà còn cản
trở Lực lợng sản xuất phát triển.
đối với chế độ quản lý, chế độ sở hữu về t liệu sản xuất có những quy định gì?. Trớc tiên, nó qui định tính chất mục tiêu, phơng pháp của quản lý,
đó là quyền làm chủ của nhân dân lao động đối với việc tổ chức, quản lý nền kinh tế. Làm sao cho mọi ngời lao động trong xã hội cùng là chủ t liệu sản
xuất, có quyền bình đẳng, hợp tác trong lao động sản xuất và trong lợi ích kinh tế. Thứ hai là, cơ chế quản ký kinh tế dựa trên chế độ công hữu là phải
có tính kế hoạch, tính tập trung thống nhất. Văn kiện Đại hội VI cũng đã khẳng định điều này: tính kế hoạch là đặc trng số một của cơ chế quản lý
kinh tế ngay từ buổi đầu của thời kỳ quá độ.
Trong công cuộc đổi mới đất nớc phải tuân thủ quy luật về sự phù hợp giữa Quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển của Lực lợng sản
xuất hiện có, để xác định bớc đi và những hình thức thích hợp. Quy luật đó luôn đợc coi là t tởng chỉ đạo công cuộc cải tạo Quan hệ sản xuất cũ, xây
dựng Quan hệ sản xuất mới trên những điều kiện phát triển của Lực lợng sản
16
xuất. Đại hội VI chỉ rõ đảm bảo sự phù hợp giữa Lực lợng sản xuất và Quan hệ sản xuất, luôn luôn kết hợp chặt chẽ tạo Quan hệ sản xuất với tổ chức và
phát triển sản xuất, không nên nóng vội duy ý chí trong việc xác định trật tự bớc đi, cũng nh việc lựa chọn các hình thức kinh tế, cần phải tạo nền sản xuất
nhỏ, cá thể để đa nền sản xuất từng bớc tiến lên sản xuất lớn. Trên cơ sở sản xuất nhỏ xây dựng những hình thức của Quan hệ sản xuất phù hợp, từng bớc
và đồng bộ. Rà soát lại quá trình cải tạo xã hội chủ nghĩa trong thời gian qua, Đảng ta đã đa ra kết luận: Theo quy luật về sự phù hợp giữa Quan hệ sản
xuất với tính chất và trình độ phát triển của Lực lợng sản xuất, quá trình cải tạo xã hội chủ nghĩa phải có bớc đi và hình thức thích hợp phải coi trọng
những hình thức kinh tế trung gian, quá độ từ thấp lên cao, từ quy mô nhỏ đến quy mô lớn, trong mỗi bớc đi của quá trình cải tạo xã hội chủ nghĩa, phải
đẩy mạnh việc xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật tạo ra Lực lợng sản xuất mới trên cơ sở đó tiếp tục đa Quan hệ sản xuất lên hình thức và quy mô thích hợp
để thúc đẩy Lực lợng sản xuất phát triển.
Tóm lại, việc xây dựng và hoàn thiện Quan hƯ s¶n xt x· héi chđ nghÜa nhÊt thiÕt phải đảm bảo sự thích ứng đồng bộ giữa ba yếu tố của Quan hệ sản
xuất, cũng nh mối liên hệ biện chứng giữa Lực lợng sản xuất và Quan hệ sản xuất.

III. Phát triển Lực l ợng sản xuất và xây dựng Quan hệ sản xuất mới


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (24 trang)

×