1. Trang chủ >
  2. Giáo Dục - Đào Tạo >
  3. Mầm non - Tiểu học >

CƠ SỞ LÍ LUẬN: 1. Thế nào là tích cực, tự giác, độc lập:

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (163.37 KB, 15 trang )


biết của các em vững chắc hơn, hứng thú hơn, khơi dậy tư duy và phát triến năng lực trí tuệ của các em. Vì vậy tơi chọn Làm thế nào để phát huy tính
tích cực tự giác học tập cho học sinh tiểu học là việc làm hết sức quan trọng và cần thiết để nâng cao chất lượng học tập của học sinh tiểu học. Vì tơi nghỉ
rằng tự học là phương pháp tốt nhất để tiếp thu kiến thức một cách chủ động vững chắc cho một quá trình tự vận động, quá trình tự giác để học sinh tiếp
thu kiến thức. Dù bài giảng có hay đến đâu, giáo viên có nhiệt tình đến mấy cũng không thay thế được sự độc lập suy nghỉ, sự chọn lọc để tiếp thu kiến
thức mới của học sinh. Dạy học phát huy tính tích cực học tập của học sinh, có tác dụng mạnh mẽ và to lớn trong quá trình dạy học. Trong dạy học, tạo
điều kiện để học sinh chủ động tiếp thu các kiến thức, kĩ năng, biến những cái đó thành kiên thức, kỹ năng của mình. Học như vậy, khiến sự hiểu biết của
các em vững chắc hơn, hứng thú của các em sẽ được tăng cường hơn. Dạy học phát huy tính tích cực giúp hoạt động tư duy của học sinh được khơi dậy
và phát triển, giúp hình thành và phát triển các năng lực hoạt động trí tuệ. Vì vậy, tôi chọn sáng kiến Làm thế nào để phát huy tính tích cực, tự giác học
tập của học sinh lớp 1.

II. CƠ SỞ LÍ LUẬN: 1. Thế nào là tích cực, tự giác, độc lập:


Trong quá trình giáo dục học sinh với tư cách là đối tượng của hoạt động
giáo dục, vừa là chủ thể của quá trình tự giáo dục, tự rèn luyện nhân cách của mình. Như vậy, vai trò chủ đạo của giáo viên, tồn bộ các tác dộng giáo dục
của nhà trường sẽ khơng có hiệu quả, thực chất nếu không tạo ra được sự kết hợp hài hoà giữa hoạt động của thầy và hoạt động tích cực sáng tạo của trò.
Từ trước đến nay, nhiều cơng trình nghiên cứu giáo dục cho thấy kết quả giáo dục phụ thuộc rất nhiều vào sự hoạt động hưởng ứng tích cực, chủ động sáng
tạo của từng học sinh cũng như hoạt động tích cực, độc lập của tập thể học sinh với tư cách vừa là đối tượng vừa là chủ thể của việc giáo dục.
Như vậy, tích cực, tự giác, độc lập có nghĩa là trong quá trình học tập, người học sinh tự đặt ra mục đích học tập, tích cực tìm ra các biện pháp tối ưu
để vận dụng vào quá trình học tập, không chỉ thế, người học sinh phải luôn hứng thú, say mê học tập, xem việc học là một nhiệm vụ của mình phải hồn
thành.
Do đó, khi áp dụng vào thực tế giáo dục đòi hỏi ở người giáo viên trình độ sư phạm vững, hiểu sâu sắc đối tượng để chọn nội dung, phương pháp và
GV:
NGUYỄN THỊ HỒI PHƯƠNG
hình thức tổ chức dạy học phù hợp nhằm phát huy có hiệu quả mọi tiềm năng, vốn kinh nghiệm của học sinh. Từ những yêu cầu chung, khơi gợi sự chú ý,
sự quan tâm tìm cách cụ thể hoá, tự xác định các yêu cầu các biện pháp phù hợp với từng đối tượng học sinh.
Về thái độ, người giáo viên nên có thái độ khoan dung, biết lắng nghe và tôn trọng, biết cách hỗ trợ, giúp đỡ các em đúng lúc, đúng chỗ nhưng không
làm thay. Trong những tình huống nhất định, đối với đối tượng cá biệt cần có sự đối xử thích hợp, có thể linh hoạt trong cách ứng xử nhưng ln có thái độ
chân thành. Ngoài ra người giáo viên biết tạo ra dư luận đúng đắn, kịp thời hỗ trợ, đề cao, khuyến khích cái hay, cái mới, cái tốt trong mọi hoạt động của
học sinh, gây dụng lòng tin ở học sinh vào bản thân. Trong môi trường giáo dục, cần có sự thơng hiểu, lòng vị tha, sự quan tâm giữa các thành viên, trên
cơ sở tình cảm đạo đức trong sáng, mang tính nhân đạo cao thượng. Đây là yếu tố tiềm ẩn nhưng có tác dụng cảm hố, thuyết phục cao trong cơng tác
giáo dục.
2. Dạy học phát huy tính tích cực của học sinh: Q trình dạy học gồm hai hoạt động có quan hệ hữu cơ:
- Hoạt động dạy của giáo viên - Hoạt động học của học sinh
Cả hai hoạt động này đề được tiến hành nhằm thực hiện mục đích giáo
dục. Hoạt động học tập của học sinh chính là hoạt động nhận thức. Hoạt động này chỉ có hiệu quả khi học sinh học tập một cách tích cực, chủ động, tự giác
với một động cơ nhận thức đúng đắn.
Kết quả học tập của học sinh là thước đo kết quả hoạt động của giáo viên và học sinh. Trong quá trình dạy học, điểm tập trung là bản thân người học,
chứ không phải là người dạy, tức là hoạt động dạy học cần dựa trên nhu cầu, hứng thú, thói quen và năng lực của người học ở các lứa tuổi khác nhau. Như
vậy mục đích của dạy học ở đây là trẻ em phát triển trên nhiều mặt, chứ không chỉ nhằm lĩnh hội kiến thức. Do đó cần thật sự coi trọng việc hình
thành, phát triển những kĩ năng tự học và có khả năng đáp ứng yêu cầu của dòng tri thức khơng ngừng gia tăng.
Chương trình và kế hoạch dạy học phải căn cứ vào nhu cầu, hứng thú, năng lực của học sinh, giúp các em có được thái độ đúng và nắm được những
kiến thức, kỹ năng, kĩ xảo, phát huy đầy đủ nhất năng lực của mình. Vì vậy trong khi dạy học cần tạo điều kiện cho HS chủ động tiếp thu các kiến thức,
GV:
NGUYỄN THỊ HOÀI PHƯƠNG
kỹ năng.... biết biến những cái đó thành kiến thức, kỹ năng của mình. Nói cách khác là biết điều cần học thành cái vốn, cái tài sản của bản thân. Học
tập như vậy khiến sự hiểu biết của các em được vững chắc hơn, hứng thú của các em được tăng cường hơn. Khi dạy học hoạt động tư duy của các em được
khơi dậy, phát triển và coi trọng. Đó chính là dạy học phát huy tính tích cực.
3. Tác dụng của việc dạy học phát huy tính tích cực: Dạy học phát huy tính tích cực của học sinh có tác dụng rất lớn. Dạy học
phát huy tính tích cực tạo điều kiện tối đa để phát huy vai trò chủ thể của người học. Trong dạy học phát huy tính tích cực của học sinh, học sinh giữ
vai trò chủ động hơn. Người học không là người tiếp nhận thông tin một cách bị động, không chủ yếu tiếp nhận thông tin từ giáo viên mà chủ động lĩnh hội
thông tin, suy nghĩ, tìm tòi, khám phá các khía cạnh khác nhau của thông tin, sắp xếp lại thông tin. Người học hợp tác với các bạn cùng học để lĩnh hội
thông tin, để giúp đỡ nhau trong học tập. Dạy học phát huy tính tích cực khơng chỉ giúp người học lĩnh hội nội dung kiến thức mà còn hình thành và
phát triển những kỹ năng học tập của mình, hình thành và phát triển cách học. Dạy học phát huy tính tích cực của học sinh nâng cao hiệu quả và chất lượng
dạy học, đảm bảo tính tồn diện, cụ thể làm cho học sinh:
- Nắm vững, hiểu sâu và hiểu sâu hơn kiến thức. - Luôn luôn củng cố và phát triển cách học của mình.
- Phát triển những phẩm chất đạo đức cá nhân như tính kiên trì, lòng
nhẫn nại, tinh thần trách nhiệm và ý thức tập thể. - Phát triển được tinh thần hợp tác và tương trợ lẫn nhau, tôn trọng lẫn
nhau.
4. Phát huy tính tích cực của học sinh: Để phát huy tính tích cực của học sinh đòi hỏi ở người giáo viên rất
nhiều vấn đề. Khi học sinh đã tích cực tự giác, độc lập có nghĩa là học sinh đó đã có nhu cầu, hứng thú làm việc. Để làm được điều đó, người giáo viên phải
có năng lực sư phạm, bao gồm:
a. Năng lực hiểu học sinh: Là năng lực hiểu biết thế giới nội tâm cuảu trẻ. Biểu hiện của năng lực là sự quan sát tinh tế, sự nhảy cảm đối với trẻ về
trạng thái và những diễn biến tâm lý của các em. Do đó, giáo viên phải nắm vững đặc điểm tâm lý lứa tuổi học sinh.
GV:
NGUYỄN THỊ HOÀI PHƯƠNG
b. Năng lực khoa học: Thể hiện sự hiểu biết và nắm vững nội dung, chương trình sách giáo khoa. Để có năng lực khoa học, giáo viên cần thường
xuyên tự học, bồi dưỡng để nâng cao hiểu biết trình độ. c. Năng lực tổ chức hoạt động của học sinh là năng lực tổ chức những
giờ học phù hợp với thời gian quy định, phù hợp với lượng kiến thức quy định sẵn và gây hứng thú học tập cho học sinh. Muốn có năng lực này giáo viên
cần nắm vững đặc điểm của từng loại hình hoạt động. Biết cách tổ chức cho học sinh tham gia hoạt động một cách khoa học, phải chuẩn bị kỹ lưỡng
những phương tiện dạy học cần thiết cho hoạt động dạy học, luôn theo dõi, hướng dẫn kịp thời những em gặp khó khăn trong học tập.
d. Năng lực ngôn ngữ: Là sự biểu đạt rõ ràng, lạch lạc ý nghĩa và tình cảm của mình bằng ngôn ngữ. Với giáo viên, ngôn ngữ là công cụ chủ yếu để
hành nghề. Những biểu hiện cụ thể của nó là: - Ngơn ngữ của giáo viên phải ngắn gọn, trong sáng, giàu hình ảnh có
ngữ điệu, biểu cảm có màu sắc cảm xúc, phát âm mạch lạc, chính xác khơng có những sai phạm tu từ học về ngữ pháp và ngữ âm học.
- Ngôn ngữ viết phải đúng câu, diễn tả được ý cần diễn đạt ngắn gọn, súc tích.
e. Năng lực phân phối, chú ý: Là khả năng trong cùng một lúc có thể chú ý được nhiều đối tượng. Biểu hiện của năng lực này là khi lên lớp vừa
chú ý đến bài giảng, chú ý đến lớp học và chú ý được từng em học sinh trong lớp. Năng lực này là một trong những năng lực đặc trưng của người giáo viên.
Nó giúp giáo viên làm chủ được tiết lên lớp, giúp giáo viên có khả năng chú ý đến mọi đối tượng để có những biến pháp giáo dục kịp thời, hợp lý.
g. óc tưởng tượng sư phạm, là khả năng mà người giáo viên có thể hình dung trước được kết quả của mình, hình dung được tương lai của từng học
sinh trong lớp, dự kiến được tình huống có thể xảy ra trong q trình giáo dục.
Sáng kiến tập trung nghiên cứu việc phát huy tính tích cực của học sinh lớp 1. Từ đó sẽ đề ra bài học kinh nghiệm và đề xuất biện pháp giúp học sinh
thực sự tích cực trong học tập. - Xác định cơ sở lý luận về vịêc phát huy tính tích cực của học sinh.
- Tìm hiểu việc phát huy tính tích cực của học sinh hiện nay. - Rút ra bài học kinh nghiệm và những biện pháp giúp học sinh thực sự
phát huy được tính tích cực trong học tập.
GV:
NGUYỄN THỊ HOÀI PHƯƠNG

III. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Đối tượng:


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (15 trang)

×