1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Báo cáo khoa học >
Tải bản đầy đủ - 35 (trang)
Mối quan hệ giữa hành vi tiêu dùng sản phẩm may mặc với một số yếu tố liên quan.

Mối quan hệ giữa hành vi tiêu dùng sản phẩm may mặc với một số yếu tố liên quan.

Tải bản đầy đủ - 35trang

mọi ngời là cần thiết giúp ích cho việc ngăn chặn hiện tợng này. Sự đổi mới trong nếp nghĩ, trong cách nhìn nhận đối với may mặc là một tín hiệu đáng
mừng. Có thể nói rằng trong mấy năm gần đây đã bớc đầu tìm thấy chỗ đứng trên thị trờng trong nớc, nhiều nhà máy mọc lên và ngày càng đợc mở rộng
nh nhà máy Thăng Long đã cho xây dựng một số cơ sở may mới ở các tỉnh lẻ nh Hải Phòng, Hoà Bình, Hà Nam Doanh thu
ớc tính sẽ đạt 3,2 tỷ USD vào
năm 2003 và 4,3 tỷ USD năm 2005, xét trong phạm vi cả nớc đã có 30 tỉnh có nhà máy may. Song cũng phải nhìn nhận một thực tế là đa số nhân dân vẫn
sính đồ ngoại, nếu nh cho ai đó quyền tự do lựa chọn giữa một bên là hàng nội và một bên là hàng ngoại thì chắc chắn rằng họ sẽ không ngần ngại khi dùng
đồ ngoại, hành vi này sẽ mãi tồn tại nếu nh chúng ta không nâng cao chất lợng hàng hoá của chúng ta. Nắm bắt đợc tâm lí này của khách hàng nhiều chủ
hàng đã không bỏ qua thủ đoạn lừa khách hàng bởi sản phẩm rởm mang mác ngoại. Ví dụ nh tại chợ lớn TPHCM, có cả một đội ngũ những ngời biết
hoá phép vải chất lợng thấp thành vải chất lợng cao vải Trung Quốc đợc nhập vào nớc ta gồm bốn màu cơ bản khi vào đến chợ lớn đã đợc nhuộn tẩy
hấp in hoa, cán mỏng... thành vải chất lợng cao nh vải của Anh, Pháp, Mỹ... Số vải này đợc bán cho các nhà may và ngời tiêu dùng hoặc cung cấp cho các
cơ sở may xuất khẩu nh vậy là họ đã lừa đợc khách hàng một cách khôn khéo chứng tỏ sự am hiểu khách hàng của những thơng gia này còn hơn bất kỳ ai.
Tệ hại hơn là nó đã làm cho sản phẩm đệt may của ta đã trở nên kém chất l- ợng, làm giảm uy tiến trên thị trờng.
Nhìn chung, nớc ta từ khi chuyển sang nên kinh tế thị trờng, may mặc đã phát triển cả về số lợng và chất lợng. Đời sống nhân dân ngày một tăng, nhu
cầu tiêu dùng ngày nhiều đợc nhiều trong đó có tiêu dùng sản phẩm may mặc. Tuy nhiên khi xem xét một cách cụ thể chúng ta sẽ nhận thấy sự chênh lệch
đáng kể tiêu dùng sản phẩm may mặc giữa các mức sống, lứa tuổi, các vùng khác nhau.

3. Mối quan hệ giữa hành vi tiêu dùng sản phẩm may mặc với một số yếu tố liên quan.


a. Tiêu dùng may mặc và mức sống.
Để tồn tại và phát triển chúng ta cần phải đợc thoả mãn ít nhất là các nhu cầu tối thiểu hàng ngày. Tuy nhiên, do xã hội ngày càng phát triển đã kéo
theo sự gia tăng của nhu cầu. Việc thỏa mãn các nhu cầu đợc thực hiện thông qua chỉ tiêu, trong khi đó chi tiêu ở dù bất kỳ lĩnh vực nào cũng đều có mối
quan hệ phụ thuộc chặt chẽ vào mức sống, may mặc cũng không tách khỏi
22
điều này, trong xã hội có tồn tại các tầng lớp dân c khác nhau do đó cũng tồn tại c¸c møc sèng kh¸c nhau. Cã thĨ chia møc sèng thành.
1 Mức sống giàu có. 2 Mức sống khá giả.
3 Mức sống trung bình. 4 Mức sống nghèo khổ.
Tơng ứng với mỗi mức sống khác nhau là những xu hớng may mặc khác nhau nh.
1 Xu hớng ăn chắc mặc bền. 2 Xu hớng đẹp, lịch sử, hợp thời trang.
3 Xu hớng mặc đồ ngoại, đồ đắt tiền.
Những gia đình nghèo có thu nhập thấp phần lớn là tầng lớp ngời lao động, tầng lớp công nhân nghèo, tầng lớp nông dân... Thực hiện theo xu hớng
ăn chắc mặc bền nhất là trong chế độ xã hội cũ theo cơ chÕ bao cÊp. Ngµy nay khi x· héi chun sang kinh tế thị trờng, sự phân hoá giàu nghèo càng trở nên
rõ rệt. Một bộ phận đã giàu lại càng giàu hơn. Một số khác từ chỗ nghèo khổ bứt lên đứng ở tầng lớp trên của xã hội. Một bộ phận ngời nghèo vẫn sống
trong tình trạng nghèo khổ. Đối với tầng lớp này điều duy nhất họ cần là đảm bảo nhu cầu ăn. Các nhu cầu khác nh hởng thụ văn hoá, vui chơi giải trí, thời
trang may mặc... hầu nh ít đợc chú ý. Mặc đẹp, mặc lịch sử, hợp thời trang thờng thấy ở những ngời có mức
sống trung bình hoặc mức sống khá, loại này chiếm khoảng 65
70 dân
số chẳng hạn nh công nhân viên chức, tầng lớp trí thức. Họ không chạy theo mốt, không cần loại vải đắt tiền mà cần kiểu dáng đẹp, lịch sự, đồng thời hợp
túi tiền của họ. Mặc đồ ngoại, đồ đắt tiền thờng giành cho ngời giàu có những thơng gia,
những ngôi sao điện ảnh. Họ thờng có thu nhập cao lại cần phải thể hiện mình nhằm chứng tỏ sự thành công.
Hiện nay, ở các thành phố lớn mọc lên nhiều các nhà may, các cửa hàng vải vóc quần áo, các cửa hiệu thời trang phục vụ đông đảo quần chúng nhân
dân. Thống kê cho thấy ở TPHCM hiện nay có khoảng 80 cửa hàng phân chia thành các khu vực khác nhau. Trên đờng Hai Bà Trng dành cho giới lắm tiền,
ở Nguyễn Đình Chiểu giành cho giới trung lu còn ở các chợ nhỏ giành cho ng- ời nghèo ít tiền. ở
Hà Nội cũng có tình hình tơng tự. Sự đa dạng về mẫu mã và kiểu dáng là không thể phủ nhận nó cũng hợp
với xu hớng phát triển tự nhiên bởi khi đời sống đã đợc nâng cao thì ngời ta cũng có nhiều hơn nhu cầu và các nhu cầu này là khác nhau. Tuy nhiên, nếu
23
đi sâu tìm hiểu ta sẽ thấy nổi lên một vài nghịch lý. Trong mấy năm gần đây, ngành may mặc Việt Nam mới thực sự khởi sắc. Nó thu hút đầu t của nhiều
nhà doanh nghiệp kể cả trong nớc và nớc ngoài. Trên thực tế, những doanh nghiệp lớn với số vốn đầu t nhiều chỉ đổ xô vào kinh doanh hàng cao cấp đắt
tiền, những nhà may nổi tiếng chỉ phục vụ ngời giàu có. Vô hình chung đã xuất hiện những cửa hàng may mặc cho những ngời giàu. Đến đây sự phân
hoá giàu nghèo càng đợc thể hiện rõ ràng hơn. Theo điều tra nhiều cơ quan khác nhau cho thấy, số hộ giàu chiếm hơn 14 trong đó số hộ trung bình và
khá giả khoảng 70 và hộ nghèo gần 10. Nh vậy, khoảng 80 dân số vẫn là một dấu hỏi cho ngành may mặc nớc ta. Thiết nghĩ đây là một thị trờng
rộng lớn còn bỏ ngỏ, miếng đất mầu mỡ này cần phải đợc nhiều nhà doanh nghiệp quan tâm hơn nữa.
b. Tiêu dùng, may mặc và các lứa tuổi. ở các lứa tuổi khác nhau, nhu cầu về sản phẩm may mặc cũng khác nhau
và có sự chênh lệch đáng kể. Thanh niên chi dùng cho may mặc nhiều hơn cả. Yêu thích cái đẹp, a mạo hiểm, muốn vơn lên tự khẳng định mình, muốn đợc
làm những việc nh của ngời lớn nhng không muốn gánh vác trách nhiệm, khả năng chống đỡ rủi ro kém do khả năng tài chính thấp... Là những đặc điểm
vốn có của thanh niên. Kinh tế thị trờng là cơ hội thuận lợi để lớp thanh niên bộc lộ hết khả năng của mình. Họ không những là đội quân đi đầu trong lĩnh
vực kinh tế, lao động sản xuất mà họ còn tiên phong trong hoạt động văn hoá tinh thần. Sự khởi sắc trong ngành may mặc hiện nay đợc thể hiện rõ thông
qua lớp trẻ. Có thể nói rằng thời trang hiện nay chủ yếu để phục vụ làm đẹp lớp thanh niên trẻ. Với sự năng động sáng tạo, với sức sống mãnh liệt, thế hệ
trẻ Việt Nam hôm nay đang làm đẹp cho xã hội bằng tài năng sức lực và sự đa dạng trang phục.
Mặc theo mốt là xu hớng hiện có của thanh niên. Họ tiếp nhận những mốt tiên tiến hiện đại trên thế giới nh tiếp nhận những món quà quý giá.
Những buổi biểu diễn thời trang đợc họ đón nhận và tham gia cổ vũ một cách nhiệt tình. Nắm bắt đợc sở thích này, tạp chí thời trang trẻ đã ra đời đáp ứng đ-
ợc nhu cầu của đông đảo bạn trẻ. Nó cung cấp những kiến thức cơ bản và nâng cao sự hiểu biết về mốt, tạo cho lớp trẻ một hành trang theo những quy
chuẩn về nét ®Đp thÈm mü trun thèng phï hỵp ®Ĩ hä tù làm đẹp cho mình. Bên cạnh những cái đáng mừng đáng khích lệ ở trên, chúng ta cũng
không khỏi có những băn khoăn lo lắng về việc một số ít thanh niên vì quá ăn chơi đua đòi đã chi dùng cho không chỉ may mặc và rất mục đích khác nhau
không chính đáng, không vì mục tiêu phát triển mình, khi nhu cầu về mặc vợt
24
quá thu nhập của mỗi ngời sẽ dẫn đến những hoạt động lệch chuẩn nh ăn cắp, cờ bạc, mại dâm... Đây cũng là một vấn đề đợc đặt ra cho các bậc phụ huynh,
cho nhà trờng và toàn xã hội. Trẻ em ngày nay, đợc chú trọng nhiều hơn trong ăn mặc, nếu nh trớc kia
các ông bố bà mẹ đều nghĩ rằng việc mua sắm cho trẻ là không cần thiết, chúng có thể mặc đồ thừa của anh của chị hoặc dùng quần áo cũ cắt đi may
lại. Có chăng chỉ đợc mua một bộ quần áo mới vào ngày tết. Ngày nay, cùng với sự phát triển xã hội, sự gia tăng thu nhập thói quen ấy, nếp nghĩ ấy hoàn
toàn thay đổi. Đi dọc qua phố Hàng Trống ở Hà Nội nếu ghé thăm một cửa hàng quần áo trẻ em chúng ta nhận thấy có rất nhiều vị khách tí hon đợc đa đi
mua sắm, đặc biệt vào những ngày nh rằm Trung Thu, quốc tế thiÕu nhi 1- 6, ngµy tÕt, ngµy khai trêng... Sè lợng còn đông hơn gấp bội. Quần áo ngày càng
đa dạng phong phú và thờng theo mùa, mỗi mùa là một vài kiểu để có thể thay đổi, mặc luân phiên .Tại TPHCM có những cửa hàng quần áo mà những ngời
phục vụ lại là những cô cậu chủ nhỏ rất đáng yêu. Ngày nay, trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng ngời ta đã quan
tâm nhiều đến những chủ nhân tơng lai của đất nớc. Đây cũng là một thị trờng lớn thu lợi nhuận cao cho những ngời đầu t.
Một số ngời đã giàu lên nhanh chóng vì nhiều vị khách tí hon này. Bên cạnh đồ chơi trẻ em, quần áo trẻ em cũng là một mặt hàng thực sự đáng đợc lu
tâm ở nớc ta những năm gần đây, các nhà may cũng đã quan tâm nhiều đến trang phục trẻ em, đã có nhiều cuộc họp bàn về đồng phục của học sinh phổ
thông với sự tham gia của các thầy cô giáo các nhà thiết kế và các bậc phụ huynh. Đặc biệt 1
2 61997 viện mẫu thời trang đã giành trọn vẹn một ch-
ơng trình cho mẫu mốt trang phục trẻ em và chính do các em biểu diễn. Với hơn 200 mẫu quần áo đi học, đi chơi, ®i tËp thĨ thao, tõ mÉu gi¸o ®Õn häc sinh
phỉ thông và độc đáo hơn nữa là có một số mẫu dành cho học sinh dân tộc thiểu số đã làm cho các bậc phụ huynh hết sức hài lòng.
Ngời già thờng có xu hớng tiêu dùng các hàng hoá đắt tiền lâu bền nh bất động sản... nên chi tiêu cho ăn mặc ít hơn cả. Thú vui lớn nhất là tham gia
vào các hoạt động giải trí tại các câu lạc bộ ngoài trời, thích đợc vui vẻ bên con cháu, may mặc chỉ là các thứ yếu đối với họ do thói quen và những quy
định cũ còn có ảnh hởng mạnh. Họ thiên về xu hớng ăn chắc mặc bền. c. Tiêu dùng may mặc với thành thị và nông thôn:
Trớc đây, khi nền kinh tế cha có sự chuyển đổi, sự chênh lệch giữa nông thôn và thành thị trong đời sống xã hội ngời Kinh là không đáng kể. Ngày
nay, khoảng cách này là rất lớn và rõ ràng. Đô thị là bộ mặt của một đất nớc
25
nên cũng là nơi tập trung nhiỊu sù ®ỉi míi. Khi møc sèng ®· ỉn định, các lo toan cho các cuộc sống hàng ngày giảm đi thì đời sống tinh thần lại càng trở
nên phong phú. Con ngời sẽ quan tâm nhiều đến mặc đẹp, mặc lịch sự, hợp thời trang. Sự tiếp nhận cái mới, cái đẹp đối với ngời dân đô thị là nhanh
chóng hơn. Họ chấp nhận và phát triển nó nh lµ mét quy lt tÊt u cđa cc sèng. Vì vậy, bộ mặt đô thị ngày càng đa dạng, phong phú.
ở nông thôn thì ngợc lại. Với khoảng 80 dân số và 75 tổng số lao động là nông dân, từ xa đến nay quan niệm về ăn mặc của họ vẫn là ăn chắc,
mặc bền tuy nhiên, do đời sống đã phần nào đợc cải thiện nên quan niệm này cũng đã có sự thay đổi chút ít. Quan niệm này bị chi phối chủ yếu bởi nếp
sống cố hữu lâu đời với lối sống tiểu nông, kiểu sản xuất nhỏ manh mún nên họ rất tiết kiệm. Không thể dễ dàng phá bỏ đợc quan niệm đó. Theo số liệu
điều tra của bộ nông nghiệp và công nghiệp tại 9 tỉnh trọng điểm trong cả nớc 1992 thì việc chi tiêu cho may mặc của hộ giàu ở nông thôn chiếm 5,1 so
với tổng chi tiêu các hộ. 4. Nhận xét.
Nhìn một cách toàn bộ ngành dệt may Việt Nam trong những năm gần đây cho thấy một tình hình rất khả quan, nó đã trở thành một ngành mũi nhọn
trong chiến lợc phát triển kinh tế đất nớc. Theo thống kê, cho thấy năm 2002 kim ngạch xuất khẩu đạt 2,7 tỷ USD, tăng 7,2 so với năm 2001 và gấp 2 lần
so với năm 1998. Lợi thế: An ninh chính trị ổn định, có uy tín trên thế giới và xếp loại nhất
ở Châu ¸. Qua 10 xuÊt khÈu sang NhËt, EU ®· chøng tỏ đợc tên tuổi, uy tín trên thế giới về cả chất lợng sản phẩm và thời hạn giao hàng.
Chúng ta đang chuyển đổi cơ cấu kinh tế nên số lao động dôi d sẽ là nguồn bổ xung cho ngµnh dƯt may - mét ngµnh thu hót nhiỊu lao động xã hội
nhất hiện nay. Việc giáo dục văn hoá đã tạo ra một đội ngũ lao động dự bị có văn hoá, có sức khỏe tốt đủ sức tiếp thu công nghệ hiện đại để tạo ra những
sản phẩm có đẳng cấp quốc tế đáp ứng mọi nhu cầu của thị trờng thời trang thế giới với giá cạnh tranh.
Khó khăn: 112003 trong tiến trình tham gia AFTA chúng ta từng bớc
giảm thuế nhập khẩu một số loại mặt hàng. Dù rằng các mặt hàng dệt may cha đa vào danh sách các mặt hàng giảm thuế trớc nhng vài ba năm nữa nếu chúng
ta không tranh thủ nâng cao sức cạnh tranh thì e rằng lợi thế có đợc khi 6 nớc ASEAN thực hiện giảm thuế trớc sẽ bị triệt tiêu. Trớc mắt chúng ta có 3 năm
để trông lại mình, để tăng tốc, để vợt lên nếu không muốn tụt hậu khi nớc ta đến lợt phải giảm thuế nhập khẩu hàng dệt may cho hàng các nớc ASEAN
26
khác tràn vào. Đến đầu năm 2000 các nớc thành viên tổ chức thơng mại thế giới WTO thực hiện bãi bỏ hạn ngạch hàng dệt may cho các thành viên. Nớc
ta đang trong quá trình đàm phán gia nhập WTO và mới bớc chân vào làng dệt may cha lâu. Rõ ràng việc bãi bỏ hạn ngạch của WTO sau 2 năm nữa thật là
nghiệt ngã với nớc ta. Khi còn chế độ hạn ngạch thì các thị trờng nhập khẩu dệt may lớn áp đặt hạn ngạch nhỏ bé với Việt Nam. Đầu 2005 bãi bỏ hạn
ngạch cho các nớc thành viên WTO, đồng nghĩa với việc đẩy một con thuyền nhỏ ra biển khơi sãng c¶- chóng ta ph¶i tranh thđ tËn dơng thêi cơ ngắn ngủi
còn lại để phát triển xuất khẩu hàng dệt may để giành thị phần tối đa có thể tr- ớc khi hạn ngạch bãi bỏ hoàn toàn trong khi Việt Nam cha phải là thành viên
WTO. Mặt khác thị trờng Hoa Kỳ tuy tiềm năng vô cùng to lớn nhng Việt Nam
vừa mới tiếp cận và mới đợc hởng u đãi một năm thì Hoa Kỳ đã yêu cầu đàm phán để áp đặt hạn ngạch trong khi chỉ 2 năm nữa là bãi bỏ hạn ngạch hoàn
toàn. Để hoàn thành quá trình đàm phán gia nhập chúng ta phải thoả mãn hàng loạt yêu cầu các nớc thành viên WTO, điều đó đồng xứng với việc mở
cửa thị trờng trong nớc cho các thành viên xâm nhập và cùng đạt các nhà sản xuất hàng hoá Việt Nam trớc những thách thức hết sức to lớn. Rõ ràng mâu
thuẫn tất yếu giữa lợi nhuận với thách thức cạnh tranh bảo vệ và phát triển nền sản xuất dân tộc là mâu thuẫn không thể lí giải. Chúng ta hội nhập muộn
màng, thị trờng kinh tế thế giới tiến đến toàn cầu hoàn không còn bao lâu nữa, nếu chúng ta do dự thì mặt trái của quá trình toàn cầu hoá sẽ tác động vào nền
kinh tế chúng ta càng mạnh hơn, tích cực hơn. Thị trờng Eu với những biến động năm qua đang đặt trớc các nhà dệt
may xuất khẩu một nhiệm vụ hết sức nặng nề. Tìm kiếm thị trờng mới. Năm 2002 chúng ta đã tích cực đàm phán mở cửa thị trờng cho các doanh nghiệp
dệt may Việt Nam nhng cha đi đến kết quả, tất cả đang đặt ra cho nền kinh tế nớc ta năm 2003 trớc nhiều thách thức từ mọi góc độ cạnh tranh của nền kinh
tế thế giới, của quá trình hội nhập. Trớc những thách thức mang tính sống còn cho nền kinh tế nớc ta nh mức
đầu t giảm sút của năm 2002 hàng dệt may xuất khẩu vào Hoa Kì có nguy cơ bị áp đặt hạn ngạch, các nớc t bản phát triển đang dựng lên những hàng rào kỹ
thuật trá hình để cản trở hàng xuất khẩu nớc ta, đàm phán mở rộng thị trờng EU đang bế tắc thì đẩy mạnh hàng xuất khẩu nói chung hàng dệt may nói
riêng đang đặt lên vai bộ thơng mại trách nhiệm lớn lao là nhanh chóng mở rộng thị trờng nớc ngoài cho các doanh nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu. Vấn đề
thị trờng thu hút đầu t nớc ngoài đang nổi lên là vấn đề có tính sống còn để
27
đẩy mạnh xuất khẩu trong năm 2003 trong đó đàm phán với Mỹ, EU để giành mức hạn ngạch cao nhất cho hàng dệt may xuất khẩu Việt Nam đang trở thành
vấn đề bức súc trớc mắt. Bên cạnh giải pháp thị trờng tạo môi trờng đầu t thông thoáng hấp dẫn thì các biện pháp nh đào tạo công nhân kĩ thuật, xúc
tiến thơng mại củng cố hoặc tuân thủ tiêu chuẩn chất lợng quy trình công nghệ Tất cả những điều này là những khó khăn đang đặt ra cho không chỉ
ngành dệt mà là tất cả các doanh nghiệp nớc ta, đòi hỏi chúng ta phải cố gắng
giải quyết triệt để và ngay lập tức có nh vËy chóng ta míi theo kÞp kinh tÕ thÕ giíi, mới đa ngành dệt phát triển đúng với tiềm năng sẳn có.
CHƯƠNG III
MộT Số VấN Đề PHáT TRIểN NGàNH DệT MAY NHằM THOả MãN TốT HƠN NHU CầU NGƯời tiêu dùng ở nhánh
văn hoá ngời kinh .
1. các quan điểm chung về giảI quyết vấn đề.
28
nh đã đề cập ở phần trên, nhu cầu về quần áo là rất cần thiết và nhu cầu này đã xuất hiện từ rất sím ngay tõ khi loµi ngêi cã nhËn thøc. Ngµy nay cũng
vậy, nhu cầu này đã có sự ra tăng một cách đáng kể, tuy nhiên với ý nghĩa của nó thì quần áo đã không dừng lại ở vai trò nguyên thủy là che thân chống lại
sự khắc nghiệt của thiên nhiên nh giá rét mà còn thể hiƯn mét ý nghÜa tinh
… thÇn – tÝnh thÈm mü rất sâu sắc, giờ đây trang phục quần áo là cả một vấn đề
thời trang nó có một vai trò rÊt quan träng trong viƯc gióp ngêi së h÷u chóng thể hiện mình và trở nên tự tin hơn. Một bộ trang phục đẹp hài hoà với chủ thể
giao tiếp chẳng những chiếm đợc cảm tình của đối tợng giao tiếp mà còn nói lên khả năng thẩm mỹ của ngời mặc nó một khả năng rất đợc coi trọng
trong xã hội hiện đại. Không chỉ vậy, trang phục còn ảnh hởng tới tâm lý ngay cả với ngời mặc nó. Có thể nói, khi chúng ta tạo cho mình một vẻ ngời nh thế
nào chúng ta sẽ tạo ra một tâm lý nh thế ấy và thể hiện ngôn ngữ cử chỉ tơng ứng với nó. Do vậy, để nâng cao mức hởng thụ văn hoá trong việc sử dụng sản
phẩm may mặc đặc biệt là ở các vùng nông thôn và miền núi, thiết nghĩ nhà n- ớc nên có sự quan tâm thỏa đáng. Các chính sách xóa đói giảm nghèo đã phần
nào giúp nông đân nghèo đỡ nghèo khổ hơn. Nhng khả năng để có thể tiếp cận đợc với ngời nông dân và để đạt hiệu quả các chính sách này là hạn chế số
nông dân đỡ nghèo đỡ khổ hơn nhờ chính sách là rất ít. So với các tầng lớp khác trong xã hội thì ngời nông dân là tầng nghèo khổ và khó khăn nhất ở nớc
ta đặc biệt là trong cơ chế thị trờng nh hiện nay. Với mồ hôi, công sức, nớc mắt họ bỏ ra là rất nhiều nhng kết quả thu đợc lại trả đáng là bao, điều này thể
hiện rõ trong sản phẩm nông nghiệp. Ngời nông dân quanh năm phải bán mặt cho đất bán lng cho trời, đã thế thiên nhiên khắc nghiệt quanh năm đe doạ,
sản phẩm đã ít giá bán lại thấp hơn rất nhiều so với sản phẩm công nghiệp. Nó làm cho ngời nông dân đã khổ lại càng khổ hơn, khoảng cách giàu nghèo lại
càng lớn.Thử hỏi nh vậy thì làm sao ngời nông dân có cơ hội quan tâm nhiều đến sản phẩm may mặc, dù nhu cầu đối với họ là cao.Với doanh nghiệp thì
đây là mét thÞ trêng rÊt khỉng lå song thÞ trêng chØ gồm những ngời có quan tâm nhng không có khả năng thanh toán. Vấn đề đặt ra là để biến họ thành
khách hàng thực sự nhà nớc nên có chính sách trợ giá đi cùng với các chính sách phát triển khác cho ngời nông dân. Đối với c dân niềm núi thì phải nhanh
chóng phát triển giáo dục, đầu t công nghệ khoa học kỹ thuật, phá vỡ lối sèng du canh du c tù cÊp tù tóc, x©y dựng cơ sở hạ tầng, giao thông, phơng tiện
thông tin đại chúng giúp họ dần tiếp cận với cuộc sống văn minh có nh thế mới mở mang kiến thức ngời dân kích thích họ tiêu dùng sản phẩm mà ở đây
là sản phẩm may mặc.
29

2. Xu hớng phát triển về tiêu dùng sản phẩm may mặc ở nớc ta trong thêi gian tíi .


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Mối quan hệ giữa hành vi tiêu dùng sản phẩm may mặc với một số yếu tố liên quan.

Tải bản đầy đủ ngay(35 tr)

×