1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Khoa học xã hội >
Tải bản đầy đủ - 79 (trang)
Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên. 1. Vị trí địa lí

Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên. 1. Vị trí địa lí

Tải bản đầy đủ - 79trang

Chương 1. KHÁI QUÁT HUYỆN PHÚ BÌNH - TỈNH THÁI NGUYÊN


1.1. Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên. 1.1.1. Vị trí địa lí
Phú Bình là một huyện trung du, địa đầu phía Đơng Nam của tỉnh Thái Ngun, huyện lị đặt tại thị trấn Hương Sơn cách thành phố Thái Nguyên 28 km
theo quốc lộ 37. Thời Lý vùng đất huyện Phú Bình ngày nay có tên gọi là huyện Tư Nông, thuộc châu Thái Nguyên; thời Minh thuộc phủ Thái Nguyên.
Thời Lê thuộc Thái Nguyên thừa tuyên; Ninh Sóc thừa tun. Đầu thế kỷ XX Tồn quyền Đơng Dương đổi huyện Tư Nơng thành phủ Phú Bình. Hơn 5 thế
kỷ tồn tại và phát triển, cương vực huyện Phú Bình ngày nay căn bản như đất Tư Nơng xưa, khơng có biến đổi gì nhiều. Phía Đơng giáp huyện Yên Thế và
Tân Yên; Phía Nam giáp huyện Hiệp Hòa Bắc Giang; phía Bắc và Tây Bắc giáp huyện Đồng Hỷ, phía Tây và Tây Nam giáp huyện Phổ Yên, có tọa độ
địa lý từ 21 23

33

đến 21 35

22

vĩ bắc, giữa 105 51

đến 106 02

kinh đông.[1, 5]
Huyện Phú Bình có diện tích tự nhiên là 249,36 km
2
. Sự kiến tạo địa chất và con sông Cầu, sông Máng, kênh Đông thuộc hệ thống đại thủy nông chia cắt
Phú Bình thành 3 vùng: vùng phía Bắc và Đơng Bắc nằm trên tả ngạn sông Máng, là vùng bán sơn địa vùng số I gồm 8 xã Đồng Liên, Bàn Đạt, Đào Xá, Tân Kim,
Tân Thành, Bảo Lý, Tân Hòa, Tân Khánh, trong đó có 7 xã miền núi, có diện tích đất tự nhiên là 13.883,84 ha. Vùng trung tâm huyện vùng II có địa hình trung
bình, gồm 6 xã và thị trấn Xuân Phương, Kha Sơn, Dương Thành, Thanh Ninh, Lương Phú, Tân Đức và thị trấn Hương Sơn có diện tích tự nhiên là 583,88 ha.
Đây là vùng có dân số đơng, lao động dồi dào, trình độ dân trí khá. Vùng phía Tây và Tây Nam vùng III gồm 6 xã Hà Châu, Điềm Thụy, Nga My, Thượng Đình,
Nhã Lộng và Úc Kỳ, có diện tích tự nhiên là 4518,39 ha.[17, 943]
Phú Bình là huyện có đặc điểm đa dạng về địa hình, có cả miền núi, trung du và đồng bằng, độ cao so với mặt nước biển trung bình là 14m, nơi
thấp nhất là 10m, đỉnh cao nhất là 250m. Ở Phú Bình, tuy đồi núi thấp chiếm
7
một diện tích lớn nhưng lại có ưu thế về giao thông cả đường bộ lẫn đường sơng. Phú Bình được ví như chiếc cầu nối liền vùng đồng bằng châu thổ - nơi
có những đơ thị buôn bán sầm uất với miền núi non hiểm trở phía Bắc – nơi ngã ba con đường giao lưu của các tỉnh lân cận như Vĩnh Phúc, Bắc Giang,
Bắc Ninh, Hà Nội... Vị thế này rất thuận tiện cho Phú Bình giao lưu với các huyện xung quanh, với thành phố Thái Nguyên và một số địa phương khác.
Nhìn chung tồn huyện Phú Bình địa hình tương đối bằng phẳng. Vùng đồi núi chủ yếu là đồi núi bát úp thoải và thấp, có độ cao dưới 100m. Diện tích có độ
dốc nhỏ hơn 8 chiếm 67,56 tổng diện tích tự nhiên của huyện. Địa hình mang
đặc điểm của vùng đồi trung du xen với đồng bằng phù sa sông Cầu là điều kiện thuận lợi cho canh tác nông nghiệp, đặc biệt là trồng cây lương thực.[1, 8]

1.1.2. Điều kiện tự nhiên


Phú Bình rất ít sơng, suối. Trên địa bàn huyện chỉ có hai con sơng chính là sơng Cầu và sơng Đào hay còn gọi sơng Máng. Sơng Cầu thuộc hệ thống sơng
Thái Bình, đoạn chảy qua Phú Bình dài 29km từ đập Thác Huống xã Đồng Liên qua 9 xã rồi đổ Chã huyện Phổ Yên, lòng sơng rộng khoảng 120m, có
lưu lượng nước trung bình vào mùa mưa từ 280 đến 610m
3
s, vào mùa khô từ 6,3 đến 6,5m
3
s. Sơng Đào còn gọi là sơng Máng bắt nguồn từ đập Thác Huống xã Đồng Liên, chảy qua 9 xã của huyện và đổ về sông Thương Bắc
Giang với chiều dài 31km. Đây là con sông thuộc hệ thống đại thủy nông được khởi công xây dựng năm 1922 và hoàn thành năm 1929, hàng năm cung cấp
nước tưới cho hơn 1.800 ha ruộng đất của huyện Phú Bình và hàng ngàn ha ruộng của các huyện Hiệp Hòa, Tân Yên, Việt Yên Bắc Giang. Bên cạnh đó là
hệ thống đại thủy nơng hồ núi Cốc và 119 hồ chứa nước lớn, nhỏ và hàng trăm ngàn ao, đầm cùng với một số suối nhỏ cung cấp nước cho hơn 1000 ha đất canh
tác thuộc ở các xã Tây Bắc huyện. Do vậy, những năm gặp thời tiết thất thường, diện tích gieo trồng bị khơ cạn của huyện Phú Bình cũng ít hơn so với các huyện
khác trong tỉnh. Huyện Phú Bình có trữ lượng nước ngầm khá lớn và ở độ sâu
vừa phải trung bình dưới mặt đất 4m là thấy mạch nước ngầm. [1, 8]
8
Khí hậu của Phú Bình mang đặc điểm chung của khí hậu miền núi, trung du Bắc Bộ, có nhiệt độ trung bình năm từ 23,1
c đến 24,4 c. Nhiệt độ cao nhất trung
bình 28,9 c, lượng mưa trung bình hàng năm khoảng từ 2000 mm đến 2500 mm.
Tháng 8 có lượng mưa cao nhất và tháng 1 có lượng mưa thấp nhất. Tổng số giờ nắng trong năm dao động từ 1206 giờ đến 1570 giờ và phân phối đều trong năm. [43]
So với các huyện khác trong tỉnh, huyện Phú Bình có độ ẩm cao, trung bình từ 81,9 đến 82, độ ẩm cao nhất vào tháng 6, 7, 8 và thấp nhất vào
tháng 11, 12. Do địa hình tương đối bằng phẳng nên huyện Phú Bình có tần suất lặng gió thấp, khoảng từ 15 đến 20 và tốc độ gió cũng lớn hơn các
huyện miền núi, hướng gió thay đổi theo hệ thống hồn lưu, mùa hè thường có gió Đơng Nam, mát mẻ; mùa đơng có gió Đơng Bắc, thời tiết lạnh.[21, 20]
Hệ thống đường bộ của Phú Bình qua nhiều năm xây dựng, đặc biệt từ năm 1990 đến nay đã tương đối hồn chỉnh, gồm nhiều đường giao thơng
ngang, dọc nối liền các thôn, xã trong huyện với nhiều vùng trong tỉnh và nhiều miền của đất nước.
Trục giao thông quan trọng nhất trên địa bàn huyện là Quốc lộ 37. Từ Phú Bình ta có thể theo Quốc lộ 37 xi xuống Bắc Giang gặp Quốc lộ 1A,
rồi theo Quốc lộ 1A có thể ngược lên thành phố Lạng Sơn, hoặc xi về thủ đơ Hà Nội. Từ huyện Phú Bình ta cũng có thể theo Quốc lộ 3A ngược lên các
tỉnh Bắc Kạn, Cao Bằng hoặc xuôi về thủ đô Hà Nội. Tiếp theo là tỉnh lộ 262 bắt đầu từ bến đò Hà Châu, qua các xã Hà
Châu, Nga My, Úc Kì lên xã Điềm Thụy chia làm hai nhánh, một nhánh nối với Quốc lộ 37 tại xã Điềm Thụy, một nhánh sang huyện Phổ Yên, lên huyện
Đại Từ, nối với đọan Quốc lộ 37 từ ngã ba Bờ Đậu. Ngồi ra, trên địa bàn huyện còn có hai bờ đê sông Đào cũng là trục đường bộ khá quan trọng, nhất
là bờ đê phía hữu ngạn, xe ôtô có trọng tải tương đối lớn có thể đi lại dễ dàng. Về giao thông đường thủy, từ tháng 71954 trở về trước, sông Cầu và
sông Đào không chỉ là tuyến vận tải quan trọng của huyện mà của cả tỉnh Thái Ngun. Trên sơng Đào, các đồn thuyền và xà lan chở than đá và nông
sản từ bến Tượng Thị xã Thái Nguyên có thể đến tận Hải Phòng và có thể
9
lấy hàng từ Hải Phòng về Thái Nguyên. Năm 1966, đế quốc Mỹ cho máy bay ném bom bắn phá làm hỏng nhiều âu thuyền nên tuyến vận tải này ngừng hoạt
động. Tuy nhiên nhân dân địa phương vẫn sử dụng vận tải nội hạt.[21,21] Điều kiện tự nhiên của huyện Phú Bình rất thuận lợi cho phát triển sản xuất
nơng – lâm nghiệp. Do vị trí địa lý, giao thông thuận tiện cho việc giao lưu hàng hóa, đặc biệt thuận tiện trong cung cấp lương thực, thực phẩm cho thị trường Thái
Nguyên, Bắc Giang, Bắc Ninh và Hà Nội, nên bn bán ở Phú Bình có vị trí đáng kể. Huyện Phú Bình có một số chợ lớn nằm sát đường giao thơng ví dụ như Chợ
Đồn, Chợ Cầu, Chợ Cầu, Chợ Tân Đức, Chợ Hanh đó chính là những cầu giao lưu hàng hóa, cung cấp lương thực thực phẩm cho các vùng xung quanh.
1.2. Đặc điểm dân cư, kinh tế, văn hóa - xã hội 1.2.1. Dân cư

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên. 1. Vị trí địa lí

Tải bản đầy đủ ngay(79 tr)

×