Tải bản đầy đủ - 79 (trang)
Đóng góp của đề tài. Ban chấp hành Đảng bộ huyện Phú Bình 2005, Lịch sử Đảng bộ huyện Phú Ban chỉ đạo Trung ương phong trào tồn dân xây dựng đời sống văn hóa 2006,

Đóng góp của đề tài. Ban chấp hành Đảng bộ huyện Phú Bình 2005, Lịch sử Đảng bộ huyện Phú Ban chỉ đạo Trung ương phong trào tồn dân xây dựng đời sống văn hóa 2006,

Tải bản đầy đủ - 79trang

4.2. Phương pháp nghiên cứu.


Trong đề tài này tơi có sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: - Phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp logic để thấy được việc
thực hiện chủ trương của Đảng về vấn đề xây dựng làng, khu dân cư văn hóa. - Phương pháp thống kê so sánh để thấy được kết quả của phong trào.
- Phương pháp phân tích tổng hợp để thấy được những tác động của nó đến các lĩnh vực kinh tế, văn hóa và rút ra bài học kinh nghiệm trong việc xây
dựng đời sống văn hóa mới trong giai đoạn sau.

5. Đóng góp của đề tài.


Đề tài sẽ góp phần tìm hiểu một phần nhỏ trong chủ trương xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc của Đảng ta.
Làm rõ được phong trào xây dựng làng khu dân cư văn hóa của huyện Phú Bình giai đoạn 2001 – 2010 và thấy được những ảnh hưởng của nó đến
kinh tế, văn hố - xã hội của huyện. Góp phần vào việc tìm hiểu lịch sử địa phương.

6. Cấu trúc của khóa luận.


Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo nội dung chính của khóa luận được chia thành 3 chương:
Chương 1: Khái quát về huyện Phú Bình - tỉnh Thái Nguyên. Chương 2: Phong trào xây dựng các làng, khu dân cư văn hóa ở huyện Phú
Bình – tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2001 – 2010 Chương 3: Những hạn chế, biện pháp và một số bài học kinh nghiệm.
6

Chương 1. KHÁI QUÁT HUYỆN PHÚ BÌNH - TỈNH THÁI NGUYÊN


1.1. Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên. 1.1.1. Vị trí địa lí
Phú Bình là một huyện trung du, địa đầu phía Đơng Nam của tỉnh Thái Nguyên, huyện lị đặt tại thị trấn Hương Sơn cách thành phố Thái Nguyên 28 km
theo quốc lộ 37. Thời Lý vùng đất huyện Phú Bình ngày nay có tên gọi là huyện Tư Nông, thuộc châu Thái Nguyên; thời Minh thuộc phủ Thái Nguyên.
Thời Lê thuộc Thái Nguyên thừa tun; Ninh Sóc thừa tun. Đầu thế kỷ XX Tồn quyền Đông Dương đổi huyện Tư Nông thành phủ Phú Bình. Hơn 5 thế
kỷ tồn tại và phát triển, cương vực huyện Phú Bình ngày nay căn bản như đất Tư Nơng xưa, khơng có biến đổi gì nhiều. Phía Đơng giáp huyện n Thế và
Tân n; Phía Nam giáp huyện Hiệp Hòa Bắc Giang; phía Bắc và Tây Bắc giáp huyện Đồng Hỷ, phía Tây và Tây Nam giáp huyện Phổ Yên, có tọa độ
địa lý từ 21 23

33

đến 21 35

22

vĩ bắc, giữa 105 51

đến 106 02

kinh đông.[1, 5]
Huyện Phú Bình có diện tích tự nhiên là 249,36 km
2
. Sự kiến tạo địa chất và con sông Cầu, sông Máng, kênh Đông thuộc hệ thống đại thủy nông chia cắt
Phú Bình thành 3 vùng: vùng phía Bắc và Đơng Bắc nằm trên tả ngạn sông Máng, là vùng bán sơn địa vùng số I gồm 8 xã Đồng Liên, Bàn Đạt, Đào Xá, Tân Kim,
Tân Thành, Bảo Lý, Tân Hòa, Tân Khánh, trong đó có 7 xã miền núi, có diện tích đất tự nhiên là 13.883,84 ha. Vùng trung tâm huyện vùng II có địa hình trung
bình, gồm 6 xã và thị trấn Xuân Phương, Kha Sơn, Dương Thành, Thanh Ninh, Lương Phú, Tân Đức và thị trấn Hương Sơn có diện tích tự nhiên là 583,88 ha.
Đây là vùng có dân số đơng, lao động dồi dào, trình độ dân trí khá. Vùng phía Tây và Tây Nam vùng III gồm 6 xã Hà Châu, Điềm Thụy, Nga My, Thượng Đình,
Nhã Lộng và Úc Kỳ, có diện tích tự nhiên là 4518,39 ha.[17, 943]
Phú Bình là huyện có đặc điểm đa dạng về địa hình, có cả miền núi, trung du và đồng bằng, độ cao so với mặt nước biển trung bình là 14m, nơi
thấp nhất là 10m, đỉnh cao nhất là 250m. Ở Phú Bình, tuy đồi núi thấp chiếm
7
một diện tích lớn nhưng lại có ưu thế về giao thơng cả đường bộ lẫn đường sơng. Phú Bình được ví như chiếc cầu nối liền vùng đồng bằng châu thổ - nơi
có những đơ thị buôn bán sầm uất với miền núi non hiểm trở phía Bắc – nơi ngã ba con đường giao lưu của các tỉnh lân cận như Vĩnh Phúc, Bắc Giang,
Bắc Ninh, Hà Nội... Vị thế này rất thuận tiện cho Phú Bình giao lưu với các huyện xung quanh, với thành phố Thái Nguyên và một số địa phương khác.
Nhìn chung tồn huyện Phú Bình địa hình tương đối bằng phẳng. Vùng đồi núi chủ yếu là đồi núi bát úp thoải và thấp, có độ cao dưới 100m. Diện tích có độ
dốc nhỏ hơn 8 chiếm 67,56 tổng diện tích tự nhiên của huyện. Địa hình mang
đặc điểm của vùng đồi trung du xen với đồng bằng phù sa sông Cầu là điều kiện thuận lợi cho canh tác nông nghiệp, đặc biệt là trồng cây lương thực.[1, 8]

1.1.2. Điều kiện tự nhiên


Phú Bình rất ít sơng, suối. Trên địa bàn huyện chỉ có hai con sơng chính là sơng Cầu và sơng Đào hay còn gọi sơng Máng. Sơng Cầu thuộc hệ thống sơng
Thái Bình, đoạn chảy qua Phú Bình dài 29km từ đập Thác Huống xã Đồng Liên qua 9 xã rồi đổ Chã huyện Phổ n, lòng sơng rộng khoảng 120m, có
lưu lượng nước trung bình vào mùa mưa từ 280 đến 610m
3
s, vào mùa khơ từ 6,3 đến 6,5m
3
s. Sơng Đào còn gọi là sông Máng bắt nguồn từ đập Thác Huống xã Đồng Liên, chảy qua 9 xã của huyện và đổ về sông Thương Bắc
Giang với chiều dài 31km. Đây là con sông thuộc hệ thống đại thủy nông được khởi công xây dựng năm 1922 và hoàn thành năm 1929, hàng năm cung cấp
nước tưới cho hơn 1.800 ha ruộng đất của huyện Phú Bình và hàng ngàn ha ruộng của các huyện Hiệp Hòa, Tân Yên, Việt Yên Bắc Giang. Bên cạnh đó là
hệ thống đại thủy nơng hồ núi Cốc và 119 hồ chứa nước lớn, nhỏ và hàng trăm ngàn ao, đầm cùng với một số suối nhỏ cung cấp nước cho hơn 1000 ha đất canh
tác thuộc ở các xã Tây Bắc huyện. Do vậy, những năm gặp thời tiết thất thường, diện tích gieo trồng bị khơ cạn của huyện Phú Bình cũng ít hơn so với các huyện
khác trong tỉnh. Huyện Phú Bình có trữ lượng nước ngầm khá lớn và ở độ sâu
vừa phải trung bình dưới mặt đất 4m là thấy mạch nước ngầm. [1, 8]
8
Khí hậu của Phú Bình mang đặc điểm chung của khí hậu miền núi, trung du Bắc Bộ, có nhiệt độ trung bình năm từ 23,1
c đến 24,4 c. Nhiệt độ cao nhất trung
bình 28,9 c, lượng mưa trung bình hàng năm khoảng từ 2000 mm đến 2500 mm.
Tháng 8 có lượng mưa cao nhất và tháng 1 có lượng mưa thấp nhất. Tổng số giờ nắng trong năm dao động từ 1206 giờ đến 1570 giờ và phân phối đều trong năm. [43]
So với các huyện khác trong tỉnh, huyện Phú Bình có độ ẩm cao, trung bình từ 81,9 đến 82, độ ẩm cao nhất vào tháng 6, 7, 8 và thấp nhất vào
tháng 11, 12. Do địa hình tương đối bằng phẳng nên huyện Phú Bình có tần suất lặng gió thấp, khoảng từ 15 đến 20 và tốc độ gió cũng lớn hơn các
huyện miền núi, hướng gió thay đổi theo hệ thống hồn lưu, mùa hè thường có gió Đơng Nam, mát mẻ; mùa đơng có gió Đơng Bắc, thời tiết lạnh.[21, 20]
Hệ thống đường bộ của Phú Bình qua nhiều năm xây dựng, đặc biệt từ năm 1990 đến nay đã tương đối hồn chỉnh, gồm nhiều đường giao thơng
ngang, dọc nối liền các thôn, xã trong huyện với nhiều vùng trong tỉnh và nhiều miền của đất nước.
Trục giao thông quan trọng nhất trên địa bàn huyện là Quốc lộ 37. Từ Phú Bình ta có thể theo Quốc lộ 37 xuôi xuống Bắc Giang gặp Quốc lộ 1A,
rồi theo Quốc lộ 1A có thể ngược lên thành phố Lạng Sơn, hoặc xuôi về thủ đô Hà Nội. Từ huyện Phú Bình ta cũng có thể theo Quốc lộ 3A ngược lên các
tỉnh Bắc Kạn, Cao Bằng hoặc xuôi về thủ đô Hà Nội. Tiếp theo là tỉnh lộ 262 bắt đầu từ bến đò Hà Châu, qua các xã Hà
Châu, Nga My, Úc Kì lên xã Điềm Thụy chia làm hai nhánh, một nhánh nối với Quốc lộ 37 tại xã Điềm Thụy, một nhánh sang huyện Phổ Yên, lên huyện
Đại Từ, nối với đọan Quốc lộ 37 từ ngã ba Bờ Đậu. Ngồi ra, trên địa bàn huyện còn có hai bờ đê sơng Đào cũng là trục đường bộ khá quan trọng, nhất
là bờ đê phía hữu ngạn, xe ơtơ có trọng tải tương đối lớn có thể đi lại dễ dàng. Về giao thông đường thủy, từ tháng 71954 trở về trước, sông Cầu và
sông Đào không chỉ là tuyến vận tải quan trọng của huyện mà của cả tỉnh Thái Ngun. Trên sơng Đào, các đồn thuyền và xà lan chở than đá và nông
sản từ bến Tượng Thị xã Thái Nguyên có thể đến tận Hải Phòng và có thể
9
lấy hàng từ Hải Phòng về Thái Nguyên. Năm 1966, đế quốc Mỹ cho máy bay ném bom bắn phá làm hỏng nhiều âu thuyền nên tuyến vận tải này ngừng hoạt
động. Tuy nhiên nhân dân địa phương vẫn sử dụng vận tải nội hạt.[21,21] Điều kiện tự nhiên của huyện Phú Bình rất thuận lợi cho phát triển sản xuất
nông – lâm nghiệp. Do vị trí địa lý, giao thơng thuận tiện cho việc giao lưu hàng hóa, đặc biệt thuận tiện trong cung cấp lương thực, thực phẩm cho thị trường Thái
Nguyên, Bắc Giang, Bắc Ninh và Hà Nội, nên buôn bán ở Phú Bình có vị trí đáng kể. Huyện Phú Bình có một số chợ lớn nằm sát đường giao thơng ví dụ như Chợ
Đồn, Chợ Cầu, Chợ Cầu, Chợ Tân Đức, Chợ Hanh đó chính là những cầu giao lưu hàng hóa, cung cấp lương thực thực phẩm cho các vùng xung quanh.
1.2. Đặc điểm dân cư, kinh tế, văn hóa - xã hội 1.2.1. Dân cư
Dân cư là nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế. Thái Nguyên là một tỉnh đông dân so với các tỉnh miền núi phía Bắc, với mật độ dân cư trung
bình là 297 ngườikm
2
. So sánh với các tỉnh thuộc miền núi phía Bắc, tỉnh Thái Nguyên có mật độ dân cư trung bình cao hơn gấp 2 lần tỉnh Tuyên
Quang, gấp 3 lần tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Sơn La, và gấp 7 lần tỉnh Lai
Châu [Dẫn theo 21,24]
Phú Bình là một huyện có nhiều dân tộc cùng nhau sinh sống, trong đó đa số là người Kinh chiếm 91,56, các dân tộc thiểu số sống tập trung chủ yếu ở các
xã Tân Thành, Tân Hòa, Bàn Đạt và Tân Kim; Dân tộc Tày chiếm 1,86, dân tộc Nùng chiếm 3,86, dân tộc Sán Dìu chiếm 2,44, còn các dân tộc khác chỉ chiếm
0,10. Tỷ lệ nhân khẩu theo thành phần dân tộc được cụ thể như bảng 1.1:
10
Bảng 1.1: Các dân tộc ở Phú Bình STT
Dân tộc Khẩu
Tỷ lệ Ghi chú
1 Kinh
123.315 91,56
2 Nùng
5205 3,86
3 Sán dìu
3279 2,44
4 Tày
2504 1,86
5 Hoa
242 0,17
6 Dao
73 0,05
7 H’mông
8 0,01
8 Sán chay
12 0,01
9 Mường
37 0,02
10 Ngái
13 0,01
Tổng cộng 134.679
100 Nguồn: phòng dân tộc huyện Phú Bình năm 2010
Dân cư huyện Phú Bình do nhiều bộ phận hợp thành. Bên cạnh một bộ phận lớn là dân cư bản địa định cư lâu đời là bộ phận dân cư do bọn điền chủ
người Pháp và người Việt mộ vào làm thuê cho chúng ở các đồn điền. Một bộ phận khác là đồng bào các tỉnh vùng địch tạm chiếm tản cư kháng chiến rồi
định cư lâu đời và một bộ phận là đồng bào các địa phương khác di cư đến địa bàn huyện sinh cơ, lập nghiệp.
Dân số trung bình của huyện năm 2010 là 134.679 người trong đó dân số nơng thơn là 126.730 chiếm 94,5, dân số thị trấn là 7474 chiếm gần
5,6. Mật độ dân số trung bình là 586 ngườikm
2
nhưng phân bố không đều giữa các xã trong huyện, các xã có mật độ cao trên 1000 ngườikm
2
là Nhã Lộng, Thanh Ninh, Hà Châu. Các xã có mật độ dân số thấp dưới 400 người km
gồm Bàn Đạt, Tân Khánh, Tân Kim và Tân Thành.[38] Dân cư đông đúc làm cho địa phương có nguồn lao động dồi dào, có thị
trường tiêu thụ rộng. Tuy nhiên, trong điều kiện huyện Phú Bình nói riêng và tỉnh Thái Ngun nói chung còn nghèo thì dân số đơng tất yếu sẽ dẫn đến thu
nhập bình quân theo đầu người hạn chế.

1.2.2 Về kinh tế


Hàng trăm năm nay, ngành sản xuất chủ yếu của Phú Bình là nơng - lâm nghiệp, trong đó sản xuất lương thực thực phẩm đảm bảo cho tiêu dùng
tại chỗ là chính. Đất đai Phú Bình thích hợp với các loại cây lương thực, cây
11
công nghiệp ngắn ngày đỗ tương, lạc, thuốc lá…, cây ăn quả có giá trị kinh tế cao. Phú Bình là huyện có diện tích trồng cây lương thực lớn, được mệnh
danh là vựa lúa lớn của tỉnh Thái Nguyên. Sản xuất nông nghiệp của huyện Phú Bình còn phụ thuộc vào thiên nhiên
song nhân dân trong huyện cần cù lao động và có kinh nghiệm thâm canh nên sản lượng lương thực của huyện năm sau tăng hơn năm trước. Năm 2009 sản lượng
lương thực là 71.544 tấn đến năm 2010 tăng lên là 72.004 tấn. [38] Phú Bình có nhiều nghề thủ công. Đáng chú ý là nghề làm đồ gốm Lương
Tạ, nghề đan nát mây tre, mộc gia dụng.... Tuy nhiên, sản phẩm thủ cơng nghiệp của Phú Bình còn nhỏ bé, đơn điệu và tiêu thụ ở địa phương là chính.
Thắng lợi của đường lối đổi mới sau 15 năm thực hiện ở Phú Bình đã mở ra bước phát triển mới trong huyện. Cơ cấu kinh tế chuyển biến theo hướng tích
cực. Năm 2001, nơng lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỉ trọng là 71,79, công nghiệp và xây dựng 10,57. Đến năm 2010 công nghiệp xây dựng tăng lên 19,7;
nơng, lâm nghiêp, thủy sản giảm còn 52,3; dịch vụ tăng lên 28. Tốc độ tăng
trưởng kinh tế hàng năm đạt 7,0 tính trong giai đoạn 2005 - 2010[16, 22 - 23].
Nét nổi bật trong nơng thơn Phú Bình những năm gần đây là cơ cấu kinh tế gia đình phát triển khá vững chắc, đa dạng: trồng cây, nuôi cá, chăn
nuôi gia súc gia cầm và làm thủ cơng nghiệp gia đình. Đàn lợn của huyện Phú Bình tăng từ 88.008 con năm 2001 lên 133.000 con năm 2010; đàn bò cũng
tăng từ 9.699 con năm 2001 lên 19.000 con năm 2010…. chủ yếu là nhờ chăn nuôi gia đình [38]. Một số xã như Kha Sơn, Lương Phú, Thượng Đình, Nhã
Lộng có nghề thủ cơng phát triển, thu nhập gia đình cao hơn so với các xã thuần nơng.
Phú Bình những năm gần đây chuyển đổi nhanh cơ cấu sản xuất theo hướng phát triển kinh tế hàng hóa gắn liền với thị trường, giữ vững diện tích
trồng lúa, đẩy mạnh thâm canh, thực hiện chương trình cao sản, đưa năng suất lúa từ 39,4 tạha năm 2001 lên 48,54 tạha năm 2010, diện tích cây ngơ đông
từ 1.463 ha với sản lượng 4.358 tấn năm 2001 lên 2.986 ha với sản lượng 11.761 tấn năm 2010. Kinh tế vườn phát triển nhanh. [38]
12

1.2.3 Về văn hóa - xã hội


Về Giáo dục - Đào tạo: Sự nghiệp giáo dục đào tạo của Phú Bình 60 năm qua được quan tâm, phát triển toàn diện. Năm học 1944 – 1945, cả huyện mới chỉ có 1
trường sơ học toàn cấp từ lớp 1 đến lớp 3 và một trường sơ học bán cấp từ lớp 1 đến lớp 2 với khoảng 50 học sinh, 95 dân số trong huyện mù chữ. Từ năm 1956
trở về trước huyện chưa có trường cấp II. Năm 1966, huyện mới mở trường cấp III trung học phổ thơng nhưng cũng chỉ có một lớp đầu cấp lớp 10 [17, 950].
Năm học 2009 – 2010 cả huyện có 66 trường, trong đó có 21 trường mẫu giáo, 21 trường tiểu học, 21 trường trung học cơ sở và 3 trường trung học
phổ thông. Đội ngũ giáo viên hầu hết đã tốt nghiệp các trường cao đẳng và đại học sư phạm, một số có trình độ trên đại học. Số học sinh phổ thơng tồn
huyện năm học 2009 – 2010 là 22.972 em. 100 số xã, thị trấn trong huyện đã hoàn thành chương trình phổ cập giáo dục trung học cơ sở, 70 số trường
trong huyện đạt chuẩn quốc gia. Số người chưa biết chữ trong độ tuổi chỉ chiếm khoảng 1 tổng số dân trong huyện[38].
Về y tế: Huyện có 26 cơ sở y tế, trong đó có một bệnh viện đa khoa, 4 phòng khám khu vực với 115 giường bệnh và 21 trạm y tế xã và thị trấn với
105 giường bệnh. Đội ngũ thầy thuốc gồm 194 người, trong đó bác sĩ và trên đại học 55 người, trung học y dược 102 người và hơn 100 cán bộ y tế thôn,
bản. Đội ngũ cán bộ và cơ sở vật chất của ngành y tế huyện những năm qua đã đáp ứng được yêu cầu chăm sóc sức khỏe cho nhân dân và ngăn chặn các ổ
dịch bệnh; các chương trình y tế quốc gia được thực hiện tốt trên địa bàn.[38] Về văn hóa: Đến năm 2010, huyện Phú Bình có 13 di tích được xếp
hạng quốc gia: cụm di tích lịch sử xã Kha Sơn gồm chùa Mai Sơn, Rừng Rác, nền nhà ông Cao Nhật, đình Kha Sơn Hạ, đình Kha Sơn Thượng, Chùa
Làng Ca, rừng Mẫn và các di tích lịch sử - kiến trúc nghệ thuật: đình Phương Độ xã Xuân Phương, đình Hộ Lệnh xã Điềm Thụy, đình Xuân La xã
Xuân Phương, chùa Úc Kỳ xã Úc Kỳ, chùa Ha xã Nhã Lộng, đình Đơng xã Tân Đức. Đình đền Cầu Muối xã Tân Thành. [37]
13
Những làn điệu dân ca như hát ví, hát chèo, hát trống quân…., biểu diễn trong các dịp lễ hội được nhân dân ưa thích. Đặc biệt là kho tàng ca dao,
tục ngữ ở đây rất phong phú, đa dạng phản ánh kinh nghiệm sản xuất, chế giễu thói hư tật xấu trong xã hội.
Ngày nay các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao được phát triển mạnh mẽ từ huyện đến các cấp cơ sở, góp phần nâng cao đời sống tinh
thần cho nhân dân các dân tộc trong huyện, tạo môi trường văn hóa lành mạnh, đậm đà bản sắc dân tộc cho nhân dân nhất là thế hệ trẻ.

1.2.4. Truyền thống lịch sử của huyện Phú Bình


Bên cạnh truyền thống lao động cần cù, sáng tạo, nhân dân huyện Phú Bình còn có truyền thống u nước, một lòng đồn kết chống giặc ngoại xâm.
Vào thế kỷ XI nhà Tống cho 30 vạn quân vào xâm lược nước ta, nhân dân Phú Bình đã sát cánh cùng đồng bào cả nước dưới sự chỉ huy tài giỏi của Thái
uý quốc cơng Lý Thường Kiệt chặn đứng qn Tống trên phòng tuyến sơng Như Nguyệt Sơng Cầu ngày nay, sau đó quét sạch bọn cướp nước ra khỏi
dân tộc. Sang thế kỷ XIX, chế độ phong kiến Việt Nam càng lún sâu vào giai
đoạn khủng hoảng, suy vong trầm trọng. Hàng loạt các cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra trên phạm vi cả nước. Vùng Việt Bắc trong đó có Phú Bình, nơng
dân chống phong kiến diễn ra rất gay gắt, quyết liệt. Năm 1833, nhân dân Phú Bình cùng đồng bào trong tỉnh hưởng ứng cuộc khởi nghĩa rộng lớn do Nông
Văn Vân chỉ huy. Đầu năm 1884 đội quân cờ Đen do Lý A Sinh cầm đầu kéo đến đánh chiếm thành lũy Phương Độ và cướp bóc hầu khắp các tổng trong phủ
Phú Bình. Một lần nữa, nhân dân Phú Bình lại đứng lên cầm vũ khí sát cánh cùng với quân của triều đình nhà Nguyễn đánh đuổi bọn cướp lên phía Bắc.
Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, cũng như quân và dân cả nước, quân và dân Phú Bình đã đánh trả bọn thực dân Pháp xâm lược rất quyết liệt.
Trận đánh quân Pháp ngày 1731884 khi chúng vừa đặt chân đến Đức Lân, Phương Độ; sự hưởng ứng và tham gia tích cực vào các cuộc khởi nghĩa do
Hoàng Hoa Thám năm 1887, của Trịnh Văn Cấn 1917 lãnh đạo chống thực
14
dân Pháp là những trang sử chống xâm lược vẻ vang của nhân dân huyện Phú Bình. Những năm 1938 – 1940, cũng trên mảnh đất mà nhân dân có truyền
thống đấu tranh kiên cường ấy, những thanh niên yêu nước ở xã Kha Sơn Hạ đã tìm đến với chủ nghĩa cộng sản, với cách mạng. Từ nhóm thanh niên yêu
nước này, năm 1941, Hội Nông dân phản đế, Hội Phụ nữ phản đế đầu tiên của huyện được thành lập ở Kha Sơn Hạ, sau đó lan rộng ra các làng Kha Sơn
Thượng, Mai Sơn.… Cuối năm 1941, các tổ chức phản đế của Phú Bình được đổi thành các hội cứu quốc quân trong Mặt trận Việt Minh. Đến giữa năm 1943,
Mặt trận Việt Minh đã mở rộng cơ sở của mình ra khắp các tổng trong huyện. Năm 1943, Phú Bình cùng Phổ Yên, Hiệp Hòa Bắc Giang được
Trung Ương chọn làm An toàn khu II gọi tắt là ATKII. Các cơ quan Trung Ương, Xứ ủy Bắc Kỳ như binh vận tuyên truyền cổ động, cơ sở in báo Cờ
giải phóng, trạm giao liên, nơi tổ chức huấn luyện chính trị, quân sự, nơi đứng chân của cán bộ... đã lấy Phú Bình làm nơi bí mật để hoạt động và liên lạc với
Trung Ương, Xứ ủy chỉ đạo phong trào cách mạng cả nước cho đến Tổng Khởi nghĩa Tháng Tám 1945.
Tháng 71943, cơ sở Đảng đầu tiên của huyện Phú Bình được thành lập ở Kha Sơn Hạ, bảy tháng sau, tháng 21944 chi bộ Kha Sơn Thượng ra đời và
đến tháng 71945, Ban cán sự Đảng bộ huyện Phú Bình được thành lập. Ngày 931945, Nhật đảo chính Pháp. Nắm thời cơ đó, ngày 143, chi
bộ Kha Sơn Hạ, Kha Sơn Thượng đã phát động nhân dân trong xã đứng lên giành chính quyền thắng lợi. Từ thắng lợi ở Kha Sơn, liên tiếp các xã trong
huyện lần lượt nổi dậy giành chính quyền thành cơng. Đến cuối tháng 41945, chính quyền các xã trong huyện cơ bản đã về tay nhân dân.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Phú Bình đã góp cơng lớn đập tan chiến dịch “Hải cẩu” tấn công lên Việt Bắc của 3000
quân Pháp tháng 101950. Trong chiến dịch này quân và dân Phú Bình đã tiêu diệt và làm bị thương hơn 1000 tên địch, bắn cháy 4 ca nô trên sông Cầu, song
quan trọng hơn cả là làm chậm kế hoạch tấn công của chúng lên thị xã Thái Nguyên. Đồng thời, âm mưu hỗ trợ đồng bọn ở Biên giới tháo chạy của chúng
15
cũng khơng còn cơ hội thực hiện. Trong 9 năm kháng chiến Phú Bình đã động viên được 2.716 thanh niên tòng quân, 6.244 người tham gia dân qn du kích,
72.500 lượt người đi dân cơng, 230 người hi sinh ngoài mặt trận. Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Phú Bình đã có gần 9.500
nam, nữ xung phong vào bộ đội, hơn 500 đoàn viên gia nhập thanh niên xung phong, có mặt khắp các chiến trường Đông Dương. Nhiều người đã lập công
xuất sắc như anh hùng Phạm Thanh Ngân bắn rơi 8 máy bay của đế quốc Mỹ, được bầu vào Bộ chính trị ban chấp hành Trung Ương Đảng khóa VIII, được
phong hàm Thượng Tướng. Riêng trong kháng chiến chống Mỹ đã có hơn 1200 người hi sinh ngoài mặt trận. Cùng với sức người, nhân dân Phú Bình
còn đóng góp hơn 20.000 tấn thóc, hàng nghìn tấn đỗ, lạc và thực phẩm cho kháng chiến.
Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Phú Bình đã có 11.816 người trực tiếp cầm súng đánh giặc, 1.340 người đã anh dũng hi sinh,
813 người bị thương, trong đó có nhiều thương binh nặng, 125 gia đình có cơng với nước, 36 lão thành cách mạng, 6 cán bộ hoạt động tiền khởi nghĩa đã
được nhà nước khen thưởng, 15.339 Huân huy chương các loại; huyện Phú Bình, hai xã Kha Sơn, Lương Phú và đồng chí Phạm Thanh Ngân được nhà
nước phong tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”, 24 bà mẹ được phong tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”.[17, 948]
Tiểu kết
Phú Bình là một huyện có đặc điểm đa dạng về địa hình có cả miền núi, trung du và đồng bằng, thuận tiện cho phát triển sản xuất nơng – lâm nghiệp.
Địa hình có nhiều đồi núi thấp tạo khả năng, tiềm năng cung cấp đất cho xây dựng cơ sở hạ tầng như giao thơng, cơng trình thủy lợi, khu cơng nghiệp. Sự
phát triển của mạng lưới đường giao thông quốc gia và nội tỉnh, nhất là QL37 và những trục đường được xây dựng và nâng cấp nối liến huyện với các địa
phương giáp ranh và thủ đơ, Phú Bình sẽ có những vận hội mới phát triển kinh tế theo định hướng cơng nghiệp hóa – hiện đại hóa. Đây là huyện có
truyền thống lịch sử lâu đời, nhân dân cần cù lao động, đoàn kết cùng nhau
16
xây dựng quê hương nên Phú Bình là địa phương ln giữ vững ổn định chính trị, xã hội. Tuy nhiên Phú Bình cũng có khơng ít những khó khăn như: xuất
phát điểm để thực hiện cơng cuộc cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa rất thấp so với mặt bằng chung tồn quốc;
là huyện sản xuất nông nghiệp là chủ yếu; chất lượng đất xấu nên năng suất thực tế không cao và tiềm năng tăng năng
suất cây trồng hạn chế. Vì vậy, thu nhập bình quân đầu người thấp, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn. Dân cư đa dạng do nhiều bộ phận hợp thành và
đông đúc làm cho huyện có nguồn lao động dồi dào nhưng trình độ lao động thấp sẽ tạo ra cho Phú Bình những khó khăn trong phát triển kinh tế, đặc biệt
là trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng cơng nghiệp hóa - hiện đại hóa… Những khó khăn thách thức này cũng đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự
phát triển của phong trào xây dựng Làng văn hóa của huyện. Trong những năm gần đây, được sự quan tâm và đầu tư của Đảng và
Nhà nước, tình hình kinh tế - xã hội của huyện có sự thay đổi rõ rệt, đời sống vật chất cũng như tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng cao.
17

Chương 2. PHONG TRÀO XÂY DỰNG LÀNG, KHU DÂN CƯ VĂN HĨA Ở


HUYỆN PHÚ BÌNH TỈNH THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 2001 - 2010 2.1. Những chủ trương về xây dựng Làng văn hóa.

2.1.1. Chủ trương của Đảng


Bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và phát triển văn hóa
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Hàng loạt các văn kiện của Đảng về lĩnh vực văn hóa được ra đời đáp ứng u cầu đòi hỏi của cơng cuộc đổi mới và
yêu cầu xây dựng và phát triển văn hóa trong thời kỳ đổi mới. Đặc biệt quan trọng là tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Đảng ta đã thông qua “cương lĩnh xây
dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” 1991. Trong cương lĩnh này, Đảng ta đã xác định nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc là một
trong sáu đặc trưng của chủ nghĩa xã hội mà chúng ta xây dựng [20,166]. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng đã nhấn mạnh: “Tiếp tục xây dựng và
phát triển sự nghiệp văn hóa Việt Nam, bảo tồn và phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp của các dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại. Vận động
tồn dân thực hiện lối sống cần kiệm, văn minh, lịch sự; phổ biến rộng rãi trong nhân dân những kiến thức văn hóa cần thiết cho sản xuất và đời
sống....”[Dẫn theo 18, 171] Hội nghị lần thứ Năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã
ban hành Nghị quyết về vấn đề “xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”. Trên cơ sở tổng kết những thành tựu cũng như
những hạn chế trong quá trình xây dựng và phát triển văn hóa ở thời kỳ phát triển kinh tế thị trường, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,
trên tầm cao của sự nghiệp đổi mới, Đảng ta đã xác định phương hướng chung để xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam: “phương hướng chung
của sự nghiệp văn hóa nước ta là phát huy chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đại đoàn kết dân tộc, ý thức độc lập tự chủ tự cường xây dựng và bảo
18
vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa, xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc,….”[2, 15]
Trong nghị quyết này, Đảng ta đã khái quát hóa năm quan điểm chỉ đạo cơ bản để xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
1. Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.
2. Nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
3. Nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
4. Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của tồn dân do Đảng lãnh đạo, trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng.
5. Văn hóa là một mặt trận; xây dựng và phát triển văn hóa là một sự nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì, thận trọng.
Năm quan điểm này thể hiện sự phát triển tư duy lý luận của Đảng về văn hóa ở bình diện khái qt cao, bao quát được toàn bộ những vấn đề cốt lõi
của việc xây dựng và phát triển văn hóa trong thời kỳ mới. Sự sáng tạo của Đảng không chỉ dừng lại ở việc nhận thức sâu sắc và toàn diện hơn vai trò của
văn hóa trong sự nghiệp đổi mới mà còn thể hiện ở việc xác định rõ phương hướng, đặc trưng, tính chất, động lực và đặc thù của hoạt động xây dựng và phát
triển văn hóa. Để thực hiện phương hướng về quan điểm chỉ đạo xây dựng và phát triển
văn hóa, Đảng ta đã đề ra 10 nhiệm vụ và 4 giải pháp lớn, trong đó có: Phát động phong trào “Tồn dân đồn kết xây dựng đời sống văn hóa”, huy động mọi
lực lượng nhân dân và cả hệ thống chính trị từ trên xuống, từ trong Đảng, cơ quan Nhà nước, các đồn thể và tồn xã hội tích cực tham gia, thực hiện phong
trào, làm cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng người, từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng, từng địa bàn dân cư, vào
mọi lĩnh vực sinh hoạt, vào quan hệ con người; tạo ra trên đất nước ta đời sống tinh thần cao đẹp, trình độ dân trí cao, khoa học phát triển, phục vụ đắc lực sự
19
nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội. [6, 38]
Để thực hiện Nghị quyết của Đảng, ngày 23 tháng 12 năm 1999, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định thành lập Ban Chỉ đạo cuộc vận động
phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa cấp Trung ương nhằm chỉ đạo, định hướng phối hợp hoạt động, phát huy nội lực của toàn xã
hội thực hiện thắng lợi phong trào to lớn này. Từ ngày 12 tháng 4 năm 2000 và những năm sau đó, Ban chỉ đạo đã
ban hành kế hoạch triển khai phong trào trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa trên phạm vi cả nước. Nội dung chủ yếu của Kế hoạch là:
1. Phát triển kinh tế, giúp nhau làm giàu chính đáng, xóa đói giảm nghèo. 2. Xây dựng tư tưởng chính trị lành mạnh.
3. Xây dựng nếp sống văn minh, kỷ cương xã hội, sống và làm việc theo pháp luật.
4. Xây dựng mơi trường văn hóa, sạch - đẹp – an tồn; 5. Xây dựng các thiết chế văn hóa – thể thao và nâng cao chất lượng
các hoạt động văn hóa – thể thao cơ sở. Để thực hiện các nội dung chủ yếu trên, kế hoạch đề ra các phong
trào cụ thể sau: 1. Xây dựng người tốt, việc tốt, các điển hình tiên tiến;
2. Xây dựng gia đình văn hóa; 3. Tồn dân đồn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư;
4. Xây dựng làng, bản, ấp, khu phố văn hóa; 5. Xây dựng cơng sở, doanh nghiệp, đơn vị lực lượng vũ trang … có
nếp sống văn hóa; 6. Tồn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại;
20
7. Đẩy mạnh phong trào học tập, lao động sáng tạo.[25, 193 - 204] Như vậy, nghị
quyết hội nghị trung ương 5 khóa VIII đã bao quát được tổng thể những nội dung cơ bản và chủ yếu để xây dựng và phát triển
văn hóa trong thời kỳ đổi mới, là “Nghị quyết có ý nghĩa chiến lược về văn hóa của cách mạng nước ta trong thời kỳ cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”
[Dẫn theo 18, 182]. Vì vậy, nó đã nhanh chóng có sức lan tỏa sâu rộng trong cuộc sống, tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ trong đời sống xã hội, hình
thành nhiều phong trào văn hóa ở các vùng miền, thu hút đơng đảo quần chúng tham gia, góp phần vào việc giữ vững ổn định chính trị, trật tự xã
hội, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, thúc đẩy kinh tế phát triển. Sự hình thành của phong trào xây dựng làng văn hoá là nhu cầu đòi
hỏi tất yếu trong sự chuyển mình đi lên của khu vực nơng thơn nói chung và của các địa bàn dân cư như xóm, tổ, khối phố dân cư nói riêng. Năm
2001, Bộ Văn hố Thơng tin đã ban hành Quy chế cơng nhận danh hiệu gia đình văn hoá, làng văn hoá, khu phố văn hoá. Tới năm 2003, các danh hiệu
“làng văn hoá, tổ dân phố văn hố, gia đình văn hố” được đưa vào trong Luật thi đua khen thưởng. Theo đó, việc cơng nhận gia đình văn hố được
định kỳ tiến hành 1 năm ở cấp cơ sở, danh hiệu làng văn hoá được định kỳ bình xét 3 nămlần. Đây thực sự là những cơ sở pháp lý quan trọng để định
hướng nội dung, hình thức, nhiệm vụ mục tiêu cụ thể và các giải pháp xây dựng làng văn hoá ở nước ta.
2.1.2. Chủ trương của tỉnh Thái Nguyên. Thực hiện tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII của Đảng,
Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên đã đề ra chủ trương về việc phát triển đời sống văn hóa của nhân dân: “Nâng cao chất lượng các hoạt động văn hóa và đời sống
văn hóa của nhân dân các dân tộc trong tỉnh. Đẩy mạnh cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, phát triển xây dựng làng, bản, khu
phố văn hóa, tạo mơi trường văn hóa lành mạnh để bài trừ các hủ tục, đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực các tệ nạn xã hội…. Tiếp tục đưa các hoạt động văn
21
hóa thơng tin về cơ sở vùng cao, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc…” [14, 39]. Ban Thường vụ tỉnh ủy đã ban hành chỉ thị số 05CT – TU ngày 14101998
về việc thực hiện nếp sống văn hóa thực hành tiết kiệm trong việc cưới việc tang và lễ hội. Tiếp đó UBND tỉnh Thái Nguyên đã ban hành Quyết định số
25301998 QĐ-UB về việc thực hiện nếp sống văn minh thực hành tiết kiệm trong việc cưới việc tang và lễ hội. Ngày 371999, Ban thường vụ tỉnh ủy đã
ban hành quyết định số 339 - QĐTU thành lập ban chỉ đạo phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa tỉnh Thái Ngun và đề ra chương
trình thực hiện phong trào. Mục tiêu tổng quát của phong trào là:
Tiếp tục thực hiện đẩy mạnh và nâng cao chất lượng phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, làm cho phong trào phát triển ngày
càng sâu rộng, đồng đều, thực chất và bền vững; thực sự được các cấp các ngành quan tâm lãnh đạo chỉ đạo; được đông đảo các cán bộ và các tầng lớp
nhân dân tham gia hưởng ứng mạnh mẽ. Tăng cường sự phối hợp với các ngành, các tổ chức thành viên lồng
ghép giữa việc thực hiện các chương trình, các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước với cuộc vận động. Phối hợp chặt chẽ với ngành Văn hóa thể
thao và du lịch trong việc chỉ đạo nâng cao chất lượng cuộc vận động, nhất là trong việc cơng nhận danh hiệu “Gia đình văn hóa”, “Khu dân cư tiên tiến”,
tạo tiền đề xây dựng thơn, làng văn hóa, tổ dân phố văn hóa. Giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa văn hóa truyền thống, bảo tồn
có chọn lọc những phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc, loại bỏ dần các hủ tục lạc hậu, từng bước hình thành các phong tục tập quán mới văn minh, sống
và làm việc theo pháp luật, phù hợp với các yêu cầu chung của xã hội. Tiếp tục tổng kết nhân rộng các mơ hình, điển hình tiên tiến, đổi mới
cơng tác thi đua khen thưởng, cần ghi nhận và giải quyết một cách tích cực nhất những kiến nghị về kinh phí của cuộc vận động ở khu dân cư và đội ngũ
cán bộ Mặt trận để có các cơ chế, điều kiện đảm bảo cho cuộc vận động không ngừng được mở rộng và nâng cao chất lượng.
22
Xây dựng và phấn dấu theo các chỉ tiêu, quy chế, quy tắc về nếp sống văn hóa. Huy động nguồn nhân lực của toàn xã hội tham gia các hoạt động
sáng tạo và xây dựng đời sống văn hóa, tạo điều kiện cho các hoạt động văn hóa phát triển, từng bước nâng cao mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân, góp
phần thúc đẩy kinh tế xã hội của huyện phát triển. Những nội dung chủ yếu của phong trào là:
1. Triển khai thực hiện phong trào sâu rộng, đồng đều ở các vùng trong toàn huyện
2. Tiếp tục thực hiện những nội dung chủ yếu của phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa
3. Nâng cao chất lượng các phong trào cụ thể: phong trào người tốt việc tốt, xây dựng gia đình văn hóa
4. Gắn kết phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa với đời sống kinh tế chính trị văn hóa
Để thực hiện được những mục tiêu và nội dung nêu trên, các văn bản của Tỉnh uỷ và UBND tỉnh đã chỉ rõ những biện pháp cụ thể như sau:
- Củng cố và nâng cao nhận thức. - Tăng cường công tác lãnh đạo chỉ đạo.
- Tăng cường công tác tuyên truyền, vận động và phối hợp giữa các ngành đồn thể.
- Đẩy mạnh phong trào xã hội hóa, đẩy mạnh việc xây dựng lực lượng phong trào.
- Đẩy mạnh công tác thi đua khen thưởng. Xác định rõ xây dựng gia đình văn hóa, LàngKhu dân cư văn hóa là
nội dung quan trọng và thiết yếu của cuộc vận động, “góp phần làm cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, và từng người, từng
gia đình, từng tập thể và cộng đồng, từng địa bàn dân cư...” [3, 15 - 16]. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc MTTQ tỉnh đã chủ động phối hợp với ngành văn hóa
- thơng tin cụ thể hóa chương trình hành động của MTTQ Việt Nam thực hiện Nghị quyết Trung Ương 5 khóa VIII về “Xây dựng và phát triển nền văn
23
hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”. Căn cứ Quyết định số 012002QĐ-BVHTT ngày 212001 của Bộ trưởng bộ văn hóa thơng tin về
việc ban hành quy chế cơng nhận danh hiệu gia đình văn hóa, làng, bản, xóm, phố, cơ quan văn hóa. Ngày18032004 UBND tỉnh ban hành quy định tiêu
chuẩn cơng nhận danh hiệu gia đình văn hóa, làng văn hóa, tổ dân phố văn hóa, cơ quan văn hóa. Trong đó có những quy định chung là:
Danh hiệu Làng văn hóa, Tổ dân phố văn hóa, Cơ quan văn hóa có hai cấp cơng nhận:
Làng văn hóa, Tổ dân phố văn hóa, Cơ quan văn hóa cấp huyện do chủ tịch UBND huyện Thành phố, Thị xã cơng nhận.
Làng văn hóa, Tổ dân phố văn hóa, Cơ quan văn hóa cấp tỉnh do chủ tịch UBND tỉnh cơng nhận.
Việc cơng nhận Gia đình văn hóa, Làng văn hóa, Tổ dân phố văn hóa, Cơ quan văn hóa phải đảm bảo ngun tắc cơng khai dân chủ đúng tiêu chuẩn.
Những quy định cụ thể về công nhận làng văn hóa: 1. Có đời sống kinh tế ổn định và từng bước phát triển
2. Có đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh, phong phú. 3. Có mơi trường cảnh quan sạch đẹp.
4. Thực hiện tốt chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. [31]

2.1.3. Chủ trương của Đảng bộ huyện Phú Bình.


Thực hiện theo chủ trương của Đảng bộ huyện Phú Bình trong các kỳ Đại hội Đảng lần thứ XXIII 112000, XXIV 102005, XXV 82010 “Tăng
cường hơn nữa công tác lãnh đạo chỉ đạo và quản lý của Nhà nước trong các hoạt động văn hóa, quản lý khai thác, phát huy những giá trị về văn hóa, du lịch... trên địa
bàn huyện. Thực hiện tốt phong trào: Toàn dân xây dựng đời sống văn hóa…”[16, 25], Ban chấp hành Đảng bộ và Ủy ban nhân dân huyện Phú Bình đã đề ra chương
trình, kế hoạch phát triển đời sống văn hóa cơ sở huyện. Thứ nhất, về mục đích yêu cầu, Huyện uỷ và UBND huyện khẳng định
phong trào cần đạt những mục đích sau:
24
- Tạo sự chuyển biến về nhận thức trong các cấp ủy Đảng, Chính quyền, ban ngành, đồn thể, từ trong các cơ quan nhà nước đến ngoài xã hội, trong cán
bộ, đảng viên,các tầng lớp nhân dân về vai trò, vị trí của văn hóa và con người trong sự nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và của huyện.
- Tăng cường công tác chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền, sự phối hợp giữa các ban ngành, đoàn thể để tạo nên sức mạnh đồng bộ, đẩy
mạnh các phong trào đang triển khai như: phong trào xây dựng gia đình văn hóa, xây dựng phong trào “Người tốt việc tốt”, phong trào “Tồn dân đồn
kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, xây dựng “cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp…đạt chuẩn văn hóa”, phong trào “Tồn dân rèn luyện theo
gương Bác Hồ vĩ đại”, phong trào “Học tập, lao động sáng tạo”…. - Đẩy mạnh phong trào xã hội hóa văn hóa, xây dựng và từng bước
nâng cao chất lượng các thiết chế văn hóa thể thao cơ sở đồng bộ cả về cơ sở vật chất, trang thiết bị, đội ngũ cán bộ, nội dung, phương thức hoạt động và
thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia. - Phối hợp và đẩy mạnh các phong trào quần chúng hiện có trong phong
trào chung TDĐKXDĐSVH, đồng thời lồng ghép bổ sung nội dung văn hóa vào các phong trào hiện có của các ban ngành, đồn thể ở các địa phương
trong huyện. - Phát huy sức mạnh tổng hợp của phong trào TDĐKXDĐSVH, tạo
chuyển biến cơ bản trong việc: thực hiện nếp sống văn minh; xây dựng mơi trường văn hóa, tư tưởng, đạo đức, lối sống lành mạnh, giữ gìn, phát huy các
giá trị văn hóa truyền thống lành mạnh của dân tộc; xây dựng các thiết chế văn hóa thơng tin – thể dục thể thao, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho
nhân dân, nhất là những nhân dân ở vùng núi, vùng khó khăn của huyện. Đồng thời thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế chính trị của huyện.
Thứ hai, về mục tiêu và những nội dung chủ yếu, bao gồm những mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể. Đó là:
25
Đối với mục tiêu chung, trong thời gian tới cần huy động sức mạnh của toàn đảng, toàn dân mọi nguồn lực xã hội tập trung vào hai lĩnh vực cụ thể
như sau: 1. Đoàn kết xây dựng tư tưởng đạo đức lối sống và nếp sống lành mạnh,
tốt đẹp. 2. Đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở mỗi người, mỗi nhà, mỗi tổ chức
xã hội phong phú, lành mạnh, đẩy lùi các tệ nạn xã hội. Nội dung cơ bản của phong trào “Toàn dân kết đồn kết xây dựng đời
sống văn hóa” được thể hiện ở 05 nội dung sau: 1. Đoàn kết giúp đỡ nhau Phát triển kinh tế, phát huy các thành phần kinh
tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế huy động được nhiều nguồn nhân lực, tạo nhiều việc làm để phát triển sản xuất, xóa đói giảm nghèo, làm giàu chính đáng;
2. Xây dựng tư tưởng chính trị lành mạnh; 3. Xây dựng nếp sống văn minh;
4. Xây dựng mơi trường văn hóa sạch - đẹp - an tồn; 5. Xây dựng các thiết chế văn hóa - thể thao và nâng cao chất lượng các
hoạt động văn hóa - thể thao cơ sở. Trên cơ sở những mục tiêu, yêu cầu và nội dung như trên, Huyện Phú
Bình đã xác định các phong trào cụ thể để phát triển, theo đó phong trào “Tồn dân đồn kết xây dựng đời sống văn hóa” cần được xác định là phong
trào quần chúng rộng lớn, mọi cá nhân tập thể trong xã hội đều có trách nhiệm tham gia:
- Xây dựng người tốt việc tốt, các điển hình tiên tiến; - Xây dựng gia đình văn hóa;
- Tồn dân đồn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư; - Xây dựng nếp sống văn hóa tại các cơng sở, doanh nghiệp, các đơn vị lực
lượng vũ trang; - Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại
- Đẩy mạnh phong trào học tập, lao động, sáng tạo.
26
Trong đó cũng đề ra những tiêu chuẩn chung để được cơng nhận làng, khu dân cư văn hóa của huyện và tỉnh gồm 4 tiêu chuẩn sau:
- Có đời sống kinh tế ổn định và từng bước phát triển; - Có đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh, phong phú;
- Có mơi trường cảnh quan sạch đẹp; - Thực hiện tốt pháp luật, chủ trương của Đảng và Nhà nước về việc xây
dựng và thực hiện hương ước, quy ước của làng, thôn, khu dân cư.[4] Huyện ủy và UBND huyện xác định tầm quan trọng của cuộc vận động
“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” là một cuộc cách mạng trong thời kì đổi mới đất nước, phù hợp với nguyện vọng của đông đảo mọi tầng
lớp nhân dân, đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ mới về phát triển kinh tế-xã hội, an ninh quốc phòng trong cơng cuộc cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa của huyện
và đất nước. Thực hiện sự chỉ đạo của UBND tỉnh Thái Nguyên và sự hướng dẫn của Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch về cơng tác xây dựng Làng văn hóa,
Ban chỉ đạo phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” huyện Phú Bình đã xây dựng kế hoạch triển khai nhiệm vụ xây dựng làng văn
hóa theo từng năm, chỉ đạo Phòng văn hóa thơng tin phối hợp với Phòng tư pháp huyện hướng dẫn Ban văn hóa, Ban tư pháp các xã, thị trấn tham mưu
kịp thời cho ban chỉ đạo, đồng thời trực tiếp hướng dẫn các làng xây dựng hương ước và tổ chức phát động xây dựng làng văn hóa.
Phong trào đã phối hợp đồng bộ với các phong trào khác như: xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, phong trào đền ơn đáp nghĩa, xóa đói giảm
nghèo, xây dựng nếp sống văn minh gia đình văn hóa, xóa nhà tranh, chương trình dân số kế hoạch hóa gia đình, chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông
nghiệp, dồn điền đổi thửa…đã nhận được sự đồng tình ủng hộ cao trong nhân dân.
2.2. Kết quả thực hiện phong trào xây dựng các làng, khu dân cư văn hóa của huyện Phú Bình giai đoạn 2001 – 2010
Ngay từ đầu năm 1980, dưới sự chỉ đạo của các cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương, phong trào “Tồn dân đồn kết xây dựng đời sống văn
hóa” đã được triển khai và phát triển tại một số xã thuộc vùng sơng Máng
27
phía Nam huyện như Thanh Ninh, Lương Phú, Tân Đức, Dương Thành, Kha Sơn, Xuân Phương, Thị trấn Hương Sơn. Tuy nhiên phong trào này còn nhỏ
lẻ ở một số chòm xóm, khu dân cư nhất là mới tập trung nhiều ở xây dựng gia đình văn hóa.
Từ năm 1989 đến 1995, chủ yếu là cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư” do UBMTTQ Việt Nam các cấp chủ
trì xây dựng, phát động và triển khai. Từ đây xây dựng được các mơ hình, điểm sáng về khu dân cư tiên tiến, khu dân cư văn hóa như xóm Chiềng, xóm
Việt Ninh Lương Phú, xóm Quán, xóm Nam Hương, xóm Phú Thanh Thanh Ninh, xóm Vàng Tân Đức, xóm Phú Lâm Kha Sơn, xóm Hòa
Bình Thị trấn Hương Sơn… Các khu dân cư này sớm phát triển kinh tế bước đầu xây dựng thiết chế văn hóa và đời sống văn hóa tinh thần vui tươi, lành
mạnh hơn. Đến năm 1995, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn
hóa” trên cơ sở cuộc vận động “Tồn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư” mới thực sự được coi trọng và phát triển. Cũng từ năm 1995,
phong trào xây dựng Làng văn hóa, Gia đình văn hóa, Khu dân cư tiên tiến mới chính thức được phát động ở các xã phía Nam do cấp ủy và chính quyền
cùng với Ủy ban mặt trận Tổ quốc chủ trì triển khai. Năm 1997, xóm Chiềng xã Lương Phú đạt danh hiệu làng văn hóa cấp huyện, đồng thời cũng là xóm
đầu tiên của huyện được cơng nhận danh hiệu chính thức của UBND huyện, UBND tỉnh.
Tiếp tục phát huy những thành quả đã đạt được của phong trào “toàn dân xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, đặc biệt là sau khi có Nghị
quyết Trung ương 5 khóa VIII, kết luận Hội nghị Trung ương 10 khoá IX về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân
tộc, công tác chỉ đạo phong trào xây dựng Làng văn hóa, Gia đình văn hóa ở huyện Phú Bình được các cấp ủy Đảng và Chính quyền xác định là một trong
các mục tiêu, chỉ tiêu quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Do đó huyện đã tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên đánh
28
giá, rút kinh nghiệm và được nhân dân nhiệt tình hưởng ứng. Từ đó, phong trào phát triển mạnh ở khắp các xóm, xã, thị trấn trong huyện.
Việc quán triệt triển khai thực hiện các văn bản, chỉ thị, hướng dẫn của Ban chỉ đạo phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” của
Trung Ương và Tỉnh, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, UBND tỉnh Thái Nguyên, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Nguyên, UBND huyện
Phú Bình, Phòng Văn hóa Thơng tin huyện, các ban ngành thành viên của ban chỉ đạo phong trào… nghiêm túc và có hiệu quả. Từ đó nâng cao nhận thức
cho cấp ủy và chính quyền các cấp thấy rõ hơn tầm quan trọng của đời sống
văn hóa đối với đời sống xã hội mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định: “Xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc vừa là mục tiêu
vừa là động lực thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển. Mọi hoạt động văn hóa nhằm xây dựng con người Việt Nam phát triển tồn diện về chính trị tư
tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái khoan dung coi trọng nghĩa tình lối sống có văn hóa, quan hệ hài hòa
trong gia đình, cộng đồng xã hội. Văn hóa trở thành nhân tố thúc đẩy con người tự hoàn thiện nhân cách kế thừa truyền thống cách mạng của dân tộc,
phát huy tinh thần yêu nước, ý trí tự lực, tự cường, xây dựng bảo vệ tổ quốc” [11, 480]
Công tác tuyên truyền vận động mọi tầng lớp nhân dân luôn được coi trọng, thường xuyên và ngày càng có hiệu quả từ huyện đến xã, thị trấn, xóm
tổ dân phố, bằng nhiều hình thức tun truyền vận động phong phú đa dạng như hội họp, tuyên truyền thơng qua các hoạt động sinh hoạt văn hóa của các
đồn thể quần chúng ở địa phương. Có thể nói thơng qua cơng tác tun truyền đã động viên khích lệ được các tầng lớp nhân hăng say lao động sản
xuất và tích cực tham gia hiệu quả các hoạt động của phong trào. Trong 5 năm 2005 -2010 huyện đã vận động được 1910 hộ dân tự nguyện hiến trên
220.000m
2
đất để xây dựng 22 tuyến đường với tổng chiều dài 79,74 km tiêu biểu như xã Bàn Đạt, Đồng Liên, Dương Thành, Tân Đức, …[18, 4]
29
Sự phối hợp của các ngành, các cấp ngày càng chặt chẽ và có quy chế hoạt động và chương trình phối hợp hoạt động. Các ban, ngành, đoàn thể đã
chủ động xây dựng các phong trào theo đặc thù của từng đơn vị như: Ủy ban Mặt trận Tổ quốc chỉ đạo cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời
sống văn hóa ở khu dân cư”; Ngành Lao động - Thương binh và Xã hội tiếp tục phát động sâu rộng phong trào “xóa đói giảm nghèo”, “Đền ơn đáp
nghĩa”; Ngành giáo dục - Đào tạo tiếp tục thực hiện phong trào “Dạy tốt, học tốt”, “Nói khơng với tiêu cực trong thi cử, khắc phục bệnh thành tích trong
giáo dục”, xây dựng “Trường học thân thiện, học sinh tích cực”; Ngành Văn hóa Thơng tin chủ trì phong trào “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác
Hồ vĩ đại”, phong trào “ xây dựng gia đình văn hóa”, “Làng, Tổ dân phố văn hóa”; Liên đồn Lao động phát động phong trào “Xây dựng Cơ quan đạt
chuẩn văn hóa”, “Lao động giỏi - Lao động sáng tạo”; Hội Cựu Chiến binh đẩy mạnh phong trào “Phát huy bản chất, truyền thống Bộ đội cụ Hồ”, “Xây
dựng tổ chức Hội trong sạch vững mạnh, hội viên cựu chiến binh gương mẫu, Gia đình Cựu Chiến binh văn hóa”; Hội phụ nữ phát động phong trào thi đua
“Giỏi việc nước đảm việc nhà”, “Phụ nữ tích cực học tập lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc”; Hội nông dân với phong trào “Nông dân thi
đua sản xuất kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau xoa đói giảm nghèo và làm giàu”, “Nơng dân thi đua xây dựng nông thôn mới” …; Ngành công an đẩy
mạnh phong trào “Toàn dân tham gia bảo vệ an ninh Tổ quốc”, tuyên truyền vận động mọi tầng lớp nhân dân xây dựng điểm sáng văn hóa, xây dựng mơ
hình địa phương khơng mắc tệ nạn xã hội, khơng có người vi phạm pháp luật... Với sự phối hợp tham gia, đồng thuận của các ban ngành các hoạt động
của phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” từng bước đi vào nề nếp, góp phần tích cực vào việc đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an
tồn xã hội, kìm hãm và đẩy lùi các tệ nạn xã hội, xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống nâng đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, tạo thành động
lực lớn động lực lớn động viên nhân dân tham gia thực hiện phong trào xây dựng Làng văn hóa.
30
Từ năm 2000, phong trào “Tồn dân đồn kết xây dựng đời sống văn hóa” nói chung và phong trào xây dựng Làng văn hóa nói riêng ngày càng được
đơng đảo nhân dân hưởng ứng và tham gia nhiệt tình, tiêu biểu nhất là phong trào xây dựng Gia đình văn hóa và phong trào xây dựng khu dân cư tiên tiến.
Đây là hai phong trào nòng cốt của phong trào xây dựng Làng văn hóa. Phong trào xây dựng Gia đình văn hóa: Gia đình là tế bào của xã hội, nơi
duy trì nòi giống, là mơi trường quan trọng hình thành, ni dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và phát huy văn hoá truyền thống tốt đẹp,
chống lại các tệ nạn xã hội, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: nhiều gia đình cộng
lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt, hạt nhân của xã hội là gia đình
Tại Hội nghị cán bộ thảo luận dự thảo Luật Hôn nhân và gia đình vào ngày 10101959. Xây dựng gia đình đạt
chuẩn văn hóa chính là nền tảng vững chắc cho phát triển xã hội. Với sự triển khai đồng bộ, tích cực của ban chỉ đạo các cấp, các ban ngành, đồn thể cùng
sự hưởng ứng của đơng đảo các tầng lớp nhân dân, ý thức tự giác xây dựng văn hóa từ mỗi thành viên, mỗi gia đình và cả cộng đồng xã hội, phong trào
xây dựng gia đình văn hóa năm 2010 đã phát triển mạnh về số lượng và chất lượng. Các gia đình đã gương mẫu chấp hành các chủ trương chính sách của
Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước cũng như các quy định chung của địa phương; tự giác, tích cực tham gia các phong trào thi đua, các cuộc vận
động do Ban chỉ đạo phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa phát động như: ni con khỏe dạy con ngoan; gia đình hòa thuận hạnh phúc,
tiến bộ; gia đình hiếu học; gia đình làm kinh tế giỏi…
.
Tính đến năm 2010 tồn huyện đã có 25.134 hộ gia đình được cơng nhận Gia đình văn hóa [39].
Qua đó tinh thần đoàn kết trong nhân dân được phát huy, các giá trị văn hóa truyền thống của gia đình, dòng họ và làng xã được bảo tồn, góp phần quan
trọng vào việc thực hiện quy ước xây dựng Làng văn hóa. Phong trào xây dựng Khu dân cư tiên tiến là cơ sở của cuộc vận động
“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” do Ủy ban Mặt
31
trận Tổ quốc chỉ đạo thực hiện. Cuộc vận động có nội dung rộng lớn mang tính tồn dân, tồn diện có tính kế thừa và phát huy những kinh nghiệm vận
động quần chúng của Đảng, Chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đồn thể nhân dân. Cuộc vận động đã quy tụ và thúc đẩy các phong trào thi đua yêu
nước, góp phần to lớn cho phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, nâng cao dân trí, xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, thực hiện các chính sách xã hội góp
phần quan trọng vào việc hoàn thành các chỉ tiêu kinh tế xã hội của huyện. Công tác tuyên truyền và thực hiện 6 nội dung 8 mục tiêu của cuộc vận động
ngày càng mở rộng, có chiều sâu và đạt được những kết quả đáng khích lệ. Nhiều nội dung của phong trào có sự phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và
chất lượng như khu dân cư không có người vi phạm pháp luật năm 2008 là 196 xóm năm 2009 là 205 xóm; khu dân cư khơng có đường lầy lội, nhà ranh
vách đất năm 2008 là 134 năm 2009 là 176 xóm... [39]
Mười năm qua 2000 - 2010, từ chỗ phong trào mới xây dựng đến nay phong trào đã phát triển rộng khắp trên địa bàn 21 xã, thị trấn và 315 khu dân
cư, xóm tổ dân phố trong toàn huyện. Nhất là khi Trung ương có cơ chế sát nhập 2 cuộc vận động: cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống
mới ở khu dân cư do UBMTTQ chủ trì và cuộc vận động xây dựng làng văn hóa, gia đình văn hóa do bộ văn hóa thơng tin chủ trì thành phong trào rộng
lớn hơn là phong trào “Toàn dân đồn kết xây dựng đời sống văn hóa” như hiện nay.
Xây dựng Làng văn hóa chính là bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa Làng truyền thống, đồng thời tiếp thu những yếu tố văn hóa tiến bộ của
thời đại. nó phù hợp với những phong tục tập qn của địa phương. Chính vì vậy mà phong trào xây dựng Làng, khu dân cư văn hóa, Gia đình văn hóa đã
được nhân dân đơng đảo hưởng ứng vì nó đáp ứng nhu cầu hưởng thụ, sáng tạo văn hóa của quần chúng nhân dân. Tính đến cuối năm 2010 trên tồn
huyện có 687 lượt làng văn hóa được cơng nhận đạt danh hiệu Làng văn hóa, trong đó đạt danh hiệu 1 năm là 288 làng, 2 năm là 175 làng, 3 năm là 105
làng, 4 năm là 54 làng, 5 năm là 3 làng, 6 năm là 19 làng, 7 năm là 11 làng, 8 năm là 4 làng, 9 năm là 7 làng, 10 năm là 1 làng, 11 năm là 1. Số làng văn hóa
từ năm 2000 – 2010 được cụ thể bằng bảng số liệu sau:
32
Bảng 2.1: Thống kê số làng văn hố ở Phú Bình 2000 – 2010
STT Tên xã, thị trấn
Số làng văn hóa qua các năm
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 1
Dương Thành 1
4 6
8 5
8 9
9 8
2 Tân Đức
1 2
6 2
4 6
8 7
5 3
3 Thanh Ninh
2 3
4 5
7 2
6 8
3 8
7 4
Lương Phú 1
3 5
4 7
6 10
7 6
6 6
5 Kha Sơn
1 1
1 3
1 2
2 1
6 TT.Hương Sơn
3 4
6 7
2 4
8 8
7 5
6 7
Xuân Phương 1
1 1
1 1
3 2
1 3
8 Bảo Lý
1 3
3 3
2 9
Đào Xá 2
2 2
3 3
1 2
10 Đồng liên 1
1 1
2 2
2 3
2 3
11 Bàn Đạt 1
1 1
2 2
2 3
1 12 Tân Khánh
2 2
2 2
1 4
3 4
7 4
5 13 Tân Kim
3 3
3 4
3 4
7 3
14 Tân Thành 1
1 1
15 Tân Hòa 1
1 1
2 1
2 1
1 1
2 16 Hà Châu
1 1
2 5
6 4
2 3
3 1
1 17 Thượng Đình
1 1
1 1
18 Nga My 1
2 1
2 1
1 19 Úc Kỳ
1 3
1 1
1 1
1 20 Nhã Lộng
1 4
1 2
4 8
8 5
2 21 Điềm Thụy
1 Tổng
10 18
33 48
55 52
65 66
65 59
54
Nguồn: báo cáo tổng kết phong trào xây dựng Làng văn hóa của ban chỉ đạo phong trào “TDĐKXDĐSVH”
Qua bảng số liệu trên chúng ta có thể thấy phong trào đã có sự chuyển biến. Trong những năm đầu phong trào mới được phát động, sự phối hợp chỉ đạo giữa
các ngành, các cấp được chặt chẽ, công tác tuyên truyền được coi trọng và được sự hưởng ứng nhiệt tình của nhân dân số lượng các xóm đạt danh hiệu Làng văn hóa
có chiều hướng tăng lên nhanh năm 2000 mới có 10 xóm đạt Làng Văn hóa đến
33
năm 2007 đã có 66 Làng. Nhưng cũng có thể thấy rằng trong 3 năm gần đây 2008, 2009, 2010 số lượng các làng văn hóa lại có xu hướng giảm dần 2009 giảm 6 xóm
so với 2008, năm 2010 giảm 5 xóm. Nguyên nhân là do các xóm khi đạt danh hiệu Làng văn hóa khơng chú trọng quan tâm đẩy mạnh việc thực hiện phong trào, ban
chỉ đạo phong trào không đi sâu sát vào nhân dân. Vì vậy mà những chỉ tiêu xây dựng Làng văn hóa bị vi phạm như có hộ gia đình sinh con thứ 3, hay có thành viên
của xóm mắc tệ nạn xã hội…. Hưởng ứng phong trào “Toàn dân đồn kết xây dựng đời sống văn hóa”,
Phòng văn hóa thơng tin huyện đã phối hợp chặt chẽ với các ban ngành đoàn thể tổ chức triển khai tuyên truyền sâu rộng tới quần chúng nhân dân, phát động các
phong trào xây dựng làng văn hóa, phong trào văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao. Các cấp chính quyền đã vận động nhân dân tích cực tham gia đăng ký xây dựng gia
đình văn hóa, khu dân cư tiên tiến để được cơng nhận làng văn hóa. Làm tốt cơng tác vận động nhân dân tham gia đóng góp tiền vật liệu cơng sức để xây dựng cơ sở
hạ tầng như nhà văn hóa, mua sắm các thiết chế văn hóa để phục vụ các hoạt động của phong trào, xây dựng đường điện, cứng hóa kênh mương thủy lợi, huy động
hàng chục vạn ngày công làm đường liên xóm, hỗ trợ nhau xóa nhà dột nát, xóa hộ nghèo…trong đó nhân dân đóng góp hàng chục tỉ đồng. Tích cực tham gia các lớp
bồi dưỡng, tập huấn về làm kinh tế, các phong trào văn hóa để triền khai thực hiện tại cơ sở. Chăm lo công tác giáo dục của con em tại cộng đồng, không để tình trạng
trẻ em đến tuổi khơng được đến trường. Phong trào xây dựng Làng văn hóa đã huy động được nhiều nguồn nhân lực từ trong nhân dân, các tổ chức xây dựng được
nhiều thiết chế văn hóa như: nhà văn hóa, phòng đọc sách, tủ sách báo, đài truyền thanh… góp phần nâng cao mức hưởng thụ, sinh hoạt văn hóa cho nhân dân, làm
cho cảnh quan của các khu vực trong huyện ngày càng khang trang, nề nếp hơn. Bảng số liệu dưới đây sẽ cho chúng ta cái nhìn tổng quát hơn:
34
Bảng 2.2: Thống kê cơ sở hạ tầng và thiết chế văn hoá 10 năm 2000 – 2010
ST T
Đơn vị xã, thị trấn
Số xóm,
Tổ dân
phố
Đã xây
nhà văn
hóa
Thư viện
xóm, xã
Sân nhà
văn hóa
Sân thể
thao Số xóm
có đường
bê tơng Quy
ước đã được
phê duyệt
Số xóm chưa có
đất xây nhà
văn hóa
Số xóm
dùng điện
hạ thế
1 Dương Thành
20 20
20 9
1 20
20 2
Tân Đức 17
17 1
17 5
8 17
3 Thanh Ninh
14 14
1 14
4 5
14 4
Lương Phú 12
12 2
12 4
3 8
12 5
Kha Sơn 18
17 1
17 3
5 8
1 18
6 TT. Hương Sơn
19 18
1 18
5 3
15 1
19 7
Xuân Phương 14
13 13
1 5
8 1
10 8
Bảo Lý 12
12 12
5 1
7 12
9 Đào Xá
7 7
7 4
5 7
10 Đồng Liên 10
10 10
3 3
5 10
11 Bàn Đạt 12
12 12
2 13
12 12 Tân Khánh
25 19
1 19
5 14
6 25
13 Tân Kim 17
17 1
17 2
12 17
14 Tân Thành 12
11 2
11 5
12 1
12 15 Tân Hòa
14 14
1 15
9 11
14 16 Hà Châu
15 7
7 8
8 8
15 17 Thượng Đình
15 15
1 15
2 14
15 18 Nga My
26 11
11 2
7 25
15 26
19 Úc Kỳ 15
14 14
8 9
1 15
20 Nhã Lộng 14
14 1
14 10
9 14
21 Điềm Thụy 7
7 1
7 1
6 7
Tổng 315
281 14
238 72
42 227
34 315
Nguồn: Báo cáo tổng kết phong trào xây dựng đời sống văn hóa của ban chỉ đạo phong trào “TDĐKXDĐSVH”
Nhờ có các thiết chế văn hố mà phong trào văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao ngày càng được đẩy mạnh. Thông qua các hoạt động văn hoá, thể thao, nhân
dân được vui chơi, giải trí, sống lành mạnh, làm chủ cuộc sống của mình và cải thiện sức khỏe, góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.
35
Qua bảng 2.2 chúng ta cũng có thể thấy rằng ở những xóm đạt danh hiệu “Làng văn hóa” những thiết chế văn hóa càng được quan tâm xây dựng
như ở Dương Thành là một trong những xã có nhiều xóm đạt danh hiệu làng văn hóa năm 2010 có 8 xóm được cơng nhận làng văn hóa, 100 xóm đã có
quy ước văn hóa được phê duyệt, 100 xóm đã xây nhà văn hóa, 100 số xã trong huyện đã có điện thắp sáng. Bên cạnh đó ở một số xã vẫn chưa được
quan tâm đến xây dựng những thiết chế văn hóa như xây dựng nhà văn hóa, làm đường bê tơng, xây dựng thư viện của xóm xã, sân vận động của xóm
khơng còn được rộng rãi như trước mà đã bị đem bán hoặc sử dụng vào những mục đích khác chỉ còn sân vận động của xóm Lân xã Lương Phú là còn
sân vận động của xóm, nhiều xã khơng có xóm nào có đường bê tơng như Tân Hòa, Bàn Đạt, Tân Đức... Những thiết chế này cũng là một trong những tiêu
chí để xét cơng nhận Làng văn hóa. Song song với việc xây dựng thiết văn hóa như nhà văn hóa, thư viện
xóm xã, sân vận động, bê tơng hóa đường làng…, các Làng Khu dân cư còn tích cực xây dựng, chỉnh sửa hương ước, quy ước để áp dụng thực hiện một
cách linh hoạt, phù hợp với điều kiện thực tế cơ sở. Hiện nay, tồn huyện đã có 227315 xóm có Quy ước, Hương ước văn hóa được các cấp thẩm quyền
phê duyệt. Tiêu biểu là Thanh Ninh 100 xóm có quy ước văn hóa được các cấp phê duyệt. Thơng qua quy ước đã góp phần quan trọng vào định hướng
mọi người dân trong cộng đồng dân cư thực hiện pháp luật, điều chỉnh các mối quan hệ mang tính tự giác, tự quản, góp phần giữ gìn và phát huy thuần
phong mỹ tục và những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đồng thời đề cao được các chuẩn mực đạo đức xã hội, đồng thời là công cụ duy trì an ninh
chính trị, trật tự an tồn xã hội, phòng chống các tệ nạn xã hội, phát triển sản xuất, xóa đói, giảm nghèo, bảo vệ mơi trường.
Phong trào xây dựng làng văn hoá đã tập trung được trí tuệ, tinh thần, tâm huyết và sức dân trong việc khai thác và phát huy mọi tiềm năng, thế
mạnh để bảo tồn và phát huy những truyền thống văn hoá tốt đẹp của các làng quê. Nhiều giá trị văn hóa truyền thống được giữ gìn, phát huy tốt; hạn chế
36
loại bỏ dần những hủ tục; từng bước xây dựng nếp sống văn minh đối với cá nhân, gia đình, cộng đồng dân cư, các giá trị văn hóa ngày càng thể hiện rõ
hơn vai trò tích cực, tác động mạnh vào các lĩnh vực của đời sống xã hội. Sự tham gia rộng khắp, tự giác của đông đảo nhân dân tạo nên những nét đẹp mới
trong chuẩn mực văn hóa và trong nhân cách con người Việt Nam như: Gia đình văn hóa, Xóm văn hóa, Khu phố văn hóa, Đường phố văn hóa, Chợ văn minh,
Gương người tốt việc tốt…. Thông qua các phong trào xây dựng làng văn hóa, xây dựng mơi trường
văn hóa, quyền làm chủ của nhân dân được phát huy tốt hơn, tính năng động sáng tạo tham gia xây dựng, hoạt động văn hóa được phát huy mạnh hơn,
nhiều nét đẹp đạo đức văn hóa đươc hình thành, góp phần hạn chế, đẩy lùi các tiêu cực, tệ nạn xã hội, giữ vững sự nghiệp phát triển xã hội.

2.3. Tác động của phong trào về kinh tế, văn hóa – xã hội.


Qua 10 năm thực hiện, phong trào đã tạo sự chuyển biến tồn diện trong đời sống xã hội, góp phần giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền
thống, thuần phong mỹ tục của địa phương, xây dựng môi trường sống trong sạch, lành mạnh, thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển.

2.3.1 Về văn hóa xã hội


Xây dựng và phát triển đời sống văn hóa là một nội dung quan trọng trong quá trình xây dựng làng văn hóa. Được sự chỉ đạo của Ban chỉ đạo
phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” các xã thị trấn, Ban vận động xây dựng làng văn hóa đã làm tốt cơng tác vận động các tầng
lớp nhân dân thực hiện tốt các nội dung của hương ước, quy ước làng văn hóa. Thơng qua tuyên truyền, vận động nhân dân triển khai thực hiện phong
trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, xây dựng làng văn hóa, khu dân cư tiên tiến, Gia đình văn hóa đã tạo nên sự chuyển biến sâu sắc
trong cấp ủy đảng, chính quyền các cấp cùng toàn thể các tầng lớp nhân dân về vai trò, vị trí của cơng tác xây dựng làng văn hóa, khu dân cư tiên tiến, gia
đình văn hóa; trong việc xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc, tiến bộ; khu dân cư trong sạch, không tệ nạn xã hội, ổn định kinh tế, đoàn kết, dân
37
chủ; xây dựng làng văn hóa trong sự nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa, phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh.
Phong trào thể dục thể thao có những bước chuyển biến tích cực: các CLB thể dục thể thao hoạt động thường xuyên theo từng tháng hay từng quý.
Toàn huyện đã có 22 dân số tham gia tập luyện thể dục thể thao thường xuyên, 20 gia đình đạt gia đình thể thao; tổ chức thành cơng Đại hội thể dục
thể thao huyện lần thứ VI năm 2009.[16,6] Hiệu quả to lớn nhất của phong trào đó là trình độ dân trí nâng lên, chất
lượng cuộc sống khơng ngừng được cải thiện, đạo đức nhân cách con người được văn minh hơn, tình làng nghĩa xóm được thắt chặt hơn đã tạo cho mỗi người mỗi
khu dân cư có ý thức giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, tạo mối liên kết giữa các tầng lớp nhân dân. Từ kết quả phong trào các giá trị truyền thống
tốt đẹp của mỗi gia đình, mỗi dòng họ, mỗi cộng đồng dân cư, mỗi làng được giữ gìn, phát huy theo những mục đích thiết thực, hòa thuận đồn kết xóm làng, giúp
nhau vượt nghèo làm giàu chính đáng; 100 gia đình liệt sĩ thương binh được hưởng đầy đủ các chế độ chính sách của nhà nước.
Cơng tác y tế chăm sóc sức khỏe nhân dân được quan tâm: mạng lưới y tế từ huyện đến các xã, thị trấn được tăng cường đầu tư; chất lượng khám
chữa bệnh được nâng lên cơ bản đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khẻo của nhân dân; thực hiện tốt công tác khám chữa bệnh cho người nghèo, trẻ em
dưới 6 tuổi và các đối tượng chính sách xã hội;100 số trạm y tế có bác sĩ nữ hộ sinh hoặc y sĩ sản nhi, 100 thôn, xóm, tổ dân phố đều có y tá thơn bản…
Sự nghiệp Giáo dục - Đào tạo của huyện được quan tâm hơn, cơ sở vật chất trang thiết bị được tăng cường đầu tư, công tác khuyến học, khuyến tài
phát triển mạnh mẽ, thu hút sự quan tâm của các cấp, các ngành và các tầng lớp nhân dân trên địa bàn. Ở những LàngKhu dân cư văn hóa cơng tác
khuyến học được đẩy mạnh, hàng năm Ban khuyến học xóm đã trao quà cho những em có đạt giải trong các kỳ thi học sinh giỏi của huyện, tỉnh và những
em thi đỗ vào các trường đại học.
38
Các câu lạc bộ trên tồn huyện được thành lập và duy trì hoạt động thường xuyên, có hiệu quả như: CLB thơ ca với 210 hội viên; chi nhánh CLB
thơ ca Việt Nam tại Phú Bình với 47 hội viên; CLB xe đạp với 58 hội viên; CLB bóng chuyền với 24 hội viên; CLB cầu lông với 32 hội viên; CLB thể
dục dưỡng sinh với 47 hộ viên. Ngoài ra ở cấp xã thị trấn có 1621 xã, thị trấn có CLB thơ ca, có 1521 xã, thị trấn có CLB thể dục dưỡng sinh, cùng nhiều
CLB khác như: CLB cờ tướng, CLB không sinh con thứ 3, CLB mẹ hiền dâu thảo, CLB khuyến nông….. Văn minh tiết kiệm trong việc cưới, việc tang và
lễ hội nhiều xóm xã nay đã thực hiện không ăn trong việc tang như Nga My, Thanh Ninh, Kha Sơn, Thị trấn Hương Sơn... Những hoạt động này đã góp
phần nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân, tăng tính đồn kết giữa các thành viên trong xóm, xã.

2.3.2 Thực hiện kỷ cương pháp luật


Quá trình xây dựng làng văn hóa đã khơi dậy và phát huy tính tự giác chấp hành các quy định của pháp luật, các quy định của địa phương trong
đông đảo các tầng lớp nhân dân. Việc tuyên truyền nhân dân thực hiện các chủ trương đường lối của
Đảng, pháp luật của nhà nước được cấp ủy, chính quyền, các ban ngành, đoàn thể và ban vận động các làng bản, quan tâm triển khai tổ chức thực hiện
nghiêm với khẩu hiệu “Sống và làm việc theo pháp luật”. Nhân dân thực hiện các quyết định của chính quyền địa phương và đặc biệt thực hiện tốt các quy
ước, hương ước ở cơ sở. Thông qua xây dựng Làng văn hóa, Khu dân cư tiên tiến, Gia đình văn hóa, thực hiện quy ước làng văn hóa, việc triển khai thực
hiện quy chế dân chủ ở cơ sở đã có nhiều chuyển biến tích cực, đã phát huy quyền lợi và nghĩa vụ của người dân trong việc tham gia và quản lý xã hội.
Tình hình an ninh chính trị được giữ vững và ổn định tạo điều kiện cho việc phát triển kinh tế ngày càng tốt hơn.
Từ phong trào xây dựng Làng Khu dân cư văn hóa ở mỗi địa phương cơ sở, ở các Làng văn hóa người dân đã tự giác xây dựng phong trào bảo vệ
an ninh tổ quốc, củng cố an ninh quốc phòng, trật tự an tồn xã hội. Việc thực
39
hiện chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình và pháp lệnh dân số được chú trọng ở các làng văn hóa, qua đó tỷ lệ sinh con thứ 3 khơng còn ở mức cao.
Tuy nhiên trong 3 năm gần đây tỷ lệ sinh con thứ 3 lại có xu hướng tăng lên, năm 2008 là 220 trường hợp đến năm 2010 là 230 trường hợp.
Cơng tác phòng chống các tệ nạn xã hội đã được đẩy mạnh thơng qua các hình thức như tọa đàm, nói chuyện chuyên đề, diễu hành, thi văn nghệ,
các loại hình câu lạc bộ… qua đó giúp nhân dân nhận biết rõ hơn được tác hại nguy hiểm của các tệ nạn xã hội ảnh hưởng đến đời sống từ đó có các biện
pháp phòng tránh cho bản thân gia đình và cộng đồng.
2.3.3 Thúc đẩy kinh tế phát triển, giúp nhau xóa đói giảm nghèo Cuộc vận động xây dựng làng văn hóa đã góp phần động viên nhân dân
phấn đấu thực hiện nhiệm vụ kinh tế, cải thiện đời sống, tiếp thu các tiến bộ khoa học kỹ thuật, chuyển đổi cơ cấu kinh tế. Nhân dân hưởng ứng phong
trào toàn dân thi đua làm kinh tế giỏi, từng nhà làm giàu cho mình, cho cộng đồng và cho đất nước. Trong sản xuất kinh tế đã xuất hiện nhiều mơ hình kinh
tế trang trại đem lại hiệu quả kinh tế lớn cho nhân dân. Đến nay tồn huyện có 227 trang trại, tiêu biểu là ở Tân Kim, Tân Khánh, Tân Hòa [38].
Cấp ủy, chính quyền các cơ sở ln ln quan tâm, chú trọng tới việc phát triển kinh tế xã hội ở địa phương, coi trọng việc phát triển kinh tế là
nhiệm vụ trọng tâm, là đòn bẩy để phát triển kinh tế xã hội, chú trọng đến việc phát triển kinh tế nông nghiệp gắn với việc xây dựng nông thôn mới
nhằm nâng cao mức sống của các tầng lớp nhân dân, nhất là ở khu vực nơng thơn. Tích cực nâng cao tinh thần đoàn kết, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau phát
triển sản xuất nông nghiệp, sáng tạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế, ứng dụng các loại cây trồng vật ni có giá trị kinh tế cao kết hợp với phát triển công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề giải quyết việc làm cho người lao động, mạnh dạn đầu tư các dây truyền sản xuất, bước đầu ứng dụng khoa học
kỹ thuật trong sản xuất kinh doanh từng bước đáp ứng với yêu cầu của nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, nhờ đó cuộc sống của nhân dân ngày
càng được cải thiện và nâng cao. Hàng năm xuất hiện thêm nhiều các hộ gia đình sản xuất kinh doanh giỏi.
40
Thực hiện đồng bộ các giải pháp giảm hộ nghèo, giải quyết việc làm, nâng cao dời sống của các tầng lớp nhân dân. Thực hiện tốt các chính sách
đới với hộ nghèo người nghèo. Do làm tốt công tác này, đến năm 2010, toàn huyện đã giảm dược tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 15,38. Hỗ trợ xóa được 822
nhà dột nát cho hộ nghèo, đời sống của nhân dân được tăng lên, bộ mặt nơng thơn có nhiều đổi mới. Tạo việc làm mới cho 13.822 lao động, đào tạo nghề cho
13605 lao động, đào tạo nghề cho 13605 lao động tăng 8,23năm [16, 5 - 6]
2.3.4 Huy động nguồn nhân lực nhân dân xây dựng cơ sở vật chất công trình phúc lợi và bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa dân tộc
Thực hiện nghị quyết số 05NQ – CP của chính phủ ngày 1842005 về đẩy mạnh các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa, thể dục, thể thao, cấp ủy và
chính quyền các cấp đã chú trọng quan tâm đến việc đầu tư cơ sở vật chất các thiết chế văn hóa, giáo dục, y tế, thể dục thể thao nhằm nâng cao đời sống văn
hóa tinh thần cho nhân dân.
Cùng với việc đầu tư của nhà nước, sự ủng hộ của các cá nhân, các cơ quan đơn vị và sự đóng góp của nhân dân đến nay tồn huyện đã có 281315
số xóm có nhà văn hóa và có 15315 xóm được sở văn hóa, thể thao và du lịch cấp trang thiết bị; 100 số xã có trạm y tế; 100 xã phường có bưu điện;
100 số xã được sử dụng điện thắp sáng, cứng hóa hàng trăm km kênh mương, nhiều thơn xóm đã có 100 đường bê tơng đường làng, ngõ xóm như
xóm Chiềng, Lương Trình, Việt Ninh Lương Phú, Tân Thành, Trung Tâm Kha Sơn, Xóm Múc, xóm Trại, xóm Làng Úc Kỳ, xóm Soi, xóm Trại Nhã
Lộng [37, 7]… điều đó đã làm thay đổi diện mạo đời sống văn hóa cơ sở ngày một tốt hơn. Đặc biệt trong năm 2009 huyện đã huy động được các
nguồn đầu tư xây dựng được Đền thờ các anh hùng Liệt sĩ thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn của người dân huyện Phú Bình. Dưới đây là những
xóm được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch và Sở Văn hóa Tỉnh Thái Nguyên cấp trang thiết bị:
41
Bảng 2.3: Làng văn hóa được cấp trang thiết bị văn hóa. STT
Làng văn hóa Năm
Đơn vị cấp
1 Xóm Xuân Đán xã Đồng Liên
2002 Bộ văn hóa thể thao và du lịch
2 Xóm Trại xã Tân Kim
2009 Sở Văn hóa Thể thao Du lịch
tỉnh Thái Nguyên 3
Xóm Trại xã Nhã Lộng 2008
Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch 4
Tổ dân phố Quyết Tiến 1 TT. Hương Sơn
2007 Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch
5 Tổ dân phố số 2 TT. Hương Sơn
2006 Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch
6 Xóm Vàng xã Tân Đức
2001 Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch
7 Xóm Chiềng xã Lương Phú
2000 Sở Văn hóa Thể Thao Du lịch
tỉnh Thái Ngun 8 Xóm Tiều Chính xã Xn Phương 2009
Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch 9
Xóm Tây Bắc xã Kha Sơn 2005
Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch 10
Xóm Phú Lâm xã Kha Sơn 2004
Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch 11
Xóm Quán xã Thanh Ninh 2000
Bộ văn hóa thể thao và du lịch 12
Xóm Trầm Hương xã Hà Châu 2003
Sở Văn hóa Thể thao Du lịch tỉnh Thái Nguyên
13 Xóm Quyết Thắng xã Dương
Thành 2006
Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch
14 Xóm Ngò Thái xã Tân Đức
2010 Bộ văn hóa Thể thao và du lịch
15 Xóm Trại giữa xã Tân Hòa
2010 Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch
tỉnh Thái Nguyên Nguồn: Phòng văn hóa thơng tin huyện Phú Bình
Việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc đã được các cấp, các ngành và toàn thể nhân dân hết sức quan tâm. Xây dựng, trùng tu tôn tạo các di tích
lich sử trọng điểm như chùa Mai Sơn Kha Sơn, vận động nhân dân tu bổ tôn tạo các di tích đã xuống cấp, đảm bảo đúng luật di sản văn hóa cũng như hướng dẫn của bộ
văn hóa, thể thao và du lịch. Đến nay toàn huyện đã có 32 điểm di tích lịch sử được xếp hạng, trong đó di tích cấp quốc gia là 13, cấp tỉnh là 19, đã và đang đề nghị tỉnh
công nhận 10 di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh.
Sau 10 năm thực hiện, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hố” nói chung và phong trào xây dựng LàngKhu dân cư văn hóa nói riêng trên địa
bàn toàn huyện đã dần đi vào cuộc sống và có những bước phát triển đáng mừng,
42
góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường đảm bảo an ninh chính trị ở địa phương.
Tiểu kết
Dưới ánh sáng của nghị quyết Trung Ương 5 khóa VIII của Đảng về “xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”. Được sự chỉ đạo sát
sao của Ban chỉ đạo phong trào Toàn dân đồn kết xây dựng đời sống văn hóa, cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đã thực sự đi vào lòng dân
và đạt được nhiều kết quả đáng mừng: nhiều làng được công nhận là Làng văn hóa; các thiết chế văn hóa được xây dựng và thực sự phát huy hiệu quả như: Nhà văn hóa,
sân vận động, đường bê tơng được mở rộng…. Nó góp phần thúc đẩy các phong trào yêu nước, vận động nhân dân đoàn kết, giúp nhau phát triển kinh tế, xóa đói giảm
nghèo, xây dựng phong trào đền ơn đáp nghĩa, nhân đạo từ thiện, phát huy dân chủ. Các hoạt động giáo dục y tế, dân số kế hoạch hóa gia đình từng bước phát huy hiệu
quả, trình độ dân trí được tăng lên, nhiều hoạt động văn nghệ thể dục, thể thao, vui chơi giải trí được tổ chức thường xun. Có thể nói nơi nào phong trào vận động xây
dựng đời sống văn hóa tốt thì nơi đó nội lực được khơi dậy, các tiềm năng của nhân dân được phát huy, dân chủ được tôn trọng, tốc độ phát triển kinh tế tăng nhanh, cơ
sở hạ tầng được xây dựng, an ninh trật tự được giữ vũng, các chỉ tiêu kinh tế xã hội được hoàn thành sớm, quan hệ giữa đảng và nhân dân ngày càng khăng khít hơn.
Phát huy được hiệu quả của Cuộc vận động là huy động được nội lực trong nhân dân, tổng hợp sức mạnh của tồn dân, thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng
và Nhà nước, góp phần vào sự nghiệp đổi mới đất nước, tiến tới thực hiện mục tiêu xã hội cơng bằng, dân chủ, văn minh.
Những kết quả tích cực của phong trào thời gian qua đã góp phần quan trọng trong giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam, tạo nền tảng vững chắc củng cố
hệ thống chính trị ở cơ sở, nâng cao đạo đức lối sống, trình độ dân trí, phục vụ đắc lực cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”

Chương 3. NHỮNG HẠN CHẾ, BIỆN PHÁP VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM


3.1. Hạn chế và biện pháp 3.1.1. Hạn chế
43
Bên cạnh những kết quả đạt được, 10 năm qua phong trào xây dựng làng, khu dân cư văn hóa còn bộc lộ một số hạn chế, tồn tại cần phải nghiêm
túc kiểm điểm và có hướng khắc phục triệt để: Một số cấp ủy nhận thức chưa đầy đủ về vị trí vai trò tầm quan trọng
của văn hóa đối với đời sống xã hội. Vì vậy sự quan tâm lãnh đạo chỉ đạo còn ít. Cơng tác xây dựng làng văn hóa ở một số xã, thị trấn chưa được chú trọng
đúng mức, cơng tác triển khai ở một số làng còn bị coi nhẹ. Chất lượng phong trào phát triển chưa mạnh, chưa có chiều sâu, bề nổi
và chưa bền vững. Việc tổ chức cuộc vận động ở nhiều nơi vẫn chưa đi vào chiều sâu, bình chọn các điển hình tiên tiến, quy trình bình chọn các danh
hiệu văn hóa chưa chặt chẽ, có biểu hiện hình thức. Những thành tựu và tiến bộ đạt được trong phong trào còn chưa tương xứng và chưa vững chắc, chưa
đủ mạnh để tác động có hiệu quả đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là lĩnh vực tư tưởng, đạo đức, lối sống. Chất lượng xây dựng đời sống
văn hóa còn nhiều hạn chế. Sự suy thối về phẩm chất, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, Đảng viên và nhân dân ngày càng
nghiêm trọng hơn, gây tổn hại không nhỏ đến uy tín của Đảng và chính quyền nhà nước, niềm tin của nhân dân. Mơi trường văn hóa còn bị ô nhiễm bởi các
tệ nạn xã hội và sự lan tràn các dịch vụ và sản phẩm văn hóa mê tín, dị đoan, thấp kém, lai căng, độc hại.
Chưa xây dựng được nhiều mơ hình chuẩn làm điển hình tiên tiến để nhân rộng; kinh phí đầu tư xây dựng các thiết chế văn hóa ở mơt số địa
phương chưa được quan tâm thích đáng; việc đầu tư trang thiết bị và phương tiện phục vụ cho các hoạt động của phong trào tại cơ sở còn hạn chế nên việc
tổ chức hoạt động chưa đạt hiệu quả cao. Tệ nạn xã hội có chiều hướng gia tăng như cờ bạc, lô đề, nghiện hút.
Tỷ lệ sinh con thứ 3 tuy có giảm nhưng vẫn ở mức cao, cá biệt có cả cán bộ Đảng viên. Do vậy nhiều làng khơng giữ được danh hiệu Làng văn hóa. Năm
2009 có 59 Làng được cơng nhận là Làng văn hóa đến năm 2010 chỉ có 54 làng được cơng nhận.
44
Cơ sở vật chất, trang thiết bị cho hoạt động văn hoá - thơng tin, thể dục thể thao còn thiếu chưa đáp ứng được nhu cầu hưởng thụ của người dân.
Nhiều địa phương hiện nay chưa có nhà văn hố, điểm vui chơi cho trẻ em, có nơi còn sinh hoạt chung với đình, chùa - nơi sinh hoạt tín ngưỡng của người
dân nên nhiều hoạt động chưa thực sự phù hợp với địa điểm sinh hoạt. Kinh phí đầu tư cho các hoạt động này còn rất hạn chế
.
Hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở như nhà văn hóa, nhà truyền thống, thư viện, khu vui chơi giải trí, sân thể thao…thời gian qua được các địa
phương chú trọng xây dựng theo phương châm “nhà nước và nhân dân cùng làm”. Tuy nhiên, hiện nay còn nhiều nhà văn hóa còn ít hoạt động, phục vụ
khơng tốt vì vậy đã khơng đáp ứng được yêu cầu sinh hoạt của nhân dân, gây lãng phí.
Những khuyết điểm yếu kém trên do nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan gây ra:
Mặt trái của cơ chế thị trường đã kéo theo lối sống thực dụng, buông thả, tùy tiện không tôn trọng nếp sống cộng đồng đang bào mòn những giá trị
truyền thống văn hó của nhân dân, ảnh hưởng đến việc xây dựng Làng, khu dân cư văn hóa.
Sự bùng nổ của khoa học kỹ thuật nhất là công nghệ thông tin cũng như việc tăng cường mở cửa quan hệ nhiều mặt với các nước trên thế giới bên
cạnh những nét văn hóa tốt đẹp còn có cả những văn hóa độc hại, những thói hư tật xấu làm cản trở việc xây dựng nếp sống văn hóa.
Tình hình kinh tế xã hội ở một số nơi còn chậm phát triển, việc đầu tư cho hoạt động của BCĐ phong trào Toàn dân đồn kết xây dựng đời sống văn
hóa các cấp còn thấp, tiêu chí cơng nhận hộ nghèo tăng cao dẫn đến tăng cao số hộ nghèo trên toàn huyện, do đó ảnh hưởng đến việc thực hiện và kết quả
của phong trào. Nhận thức của một số cấp ủy, chính quyền cơ sở còn chưa đầy đủ về
vai trò ý nghĩa của phong trào chưa chủ động trong việc xậy dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện triển khai phong trào.
45
Một số ngành thành viên trong BCĐ chưa thực sự chủ động trong việc tuyên truyền vận động các tầng lớp nhân dân trong việc xây dựng phong trào
TDĐKXDĐSVH nói chung và làng văn hóa nói riêng. Việc xây dựng các thiết chế văn hóa còn mang tính áp đặt, chưa chú ý
đến vai trò chủ thể của cộng đồng trong việc tiếp nhận và sử dụng các thiết chế này. Mặc dù chỉ tiêu hưởng thụ văn hóa của người dân trong những năm
đổi mới vừa qua tăng lên gấp nhiều lần so với trước đây nhưng tính sáng tạo văn hóa của nhân dân bị hạn chế do sự áp đặt của “văn hóa đại chúng”.

3.1.2 Biện pháp.


Để khắc phục những hạn chế tồn tại nêu trên, trong những năm tới chúng ta cần chú trọng triển khai các giải pháp thực hiện cuộc vận động xây
dựng làng, khu dân cư văn hóa. Trước hết các cấp ủy đảng và chính quyền cần tiếp tục quán triệt trong
toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở các cấp, các ngành về mục đích, ý nghĩa, nội dung của phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa. Cần thấy
rõ: phong trào tồn dân đồn kết xây dựng đời sống văn hóa là giải pháp quan trọng hàng đầu của Nghị quyết Trung Ương 5 khóa VIII, thực chất là 1 cuộc
vận động lớn, lâu dài, tồn diện khơng chỉ về xây dựng văn hóa, đạo đức lối sống mà còn tác động lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội, chính trị, an ninh,
quốc phòng trong thời kì hội nhập quốc tế và đẩy mạnh cơng nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Nghĩa là lãnh đạo các cấp các ngành các địa phương quán
triệt phát triển kinh tế phải đi cùng với phát triển văn hóa, văn hóa vừa là động lực vừa là mục tiêu của sự phát triển, là nền tảng tinh thần của xã hội để
từ đó có kế hoạch chỉ đạo và đầu tư cho văn hóa, đồng thời mỗi người dân phải thấy giá trị văn hóa trong cuộc sống của chính mình và gia đình mình.
Cần phải quán triệt và thực hành tốt tinh thần của nghị quyết Trung Ương V khóa 8 : “…làm cho văn hóa thấm sâu vào tồn bộ đời sống văn hóa và hoạt
động xã hội, vào từng người, từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng trên địa bàn dân cư, vào mọi lĩnh vực quan hệ con người”[2,16]
46
Đẩy mạnh khối đại đoàn kết toàn dân, tuyên truyền và tổ chức thực hiện tốt chương trình hành động của huyện ủy, kế hoạch của UBND huyện.
Thường xuyên tuyên truyền sâu rộng các nội dung hương ước trong nhân dân. Đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế nơng thơn theo hướng
cơng nghiệp hóa hiện đại hóa, tăng nhanh tốc độ phát triển kinh tế, từng bước nâng cao đời sống nhân dân.
Đưa các chỉ tiêu, nhiệm vụ xây dựng đời sống văn hóa vào nghị quyết của các cấp ủy Đảng, các ngành, đoàn thể…trong toàn huyện, để chỉ đạo triển
khai thực hiện. Đưa dự tính kinh phí chỉ đạo triển khai thực hiện phong trào
“Tồn dân đồn kết xây dựng đời sống văn hóa” vào mục chi ngân sách thường xuyên ở các cấp…Tăng cường công tác kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn
và tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ phong trào. Tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy Ban chỉ đạo phong trào “Toàn dân
đồn kết xây dựng đời sống văn hóa” các cấp huyện, xã, thị trấn; ban vận động các xóm, tổ dân phố khi có biến động về cơ cấu tổ chức, nhất là sau đại
hội đảng các cấp, sau hội đồng bầu cử nhân dân. Xây dựng bổ sung, hoàn thiện quy chế hoạt động của BCĐ và BVĐ, phân công trách nhiệm cụ thể cho
từng thành viên đảm bảo 100 các BCĐ đi vào hoạt động thường xuyên và có hiệu quả. Củng cố và nâng cao hiệu quả của BCĐ, ban vận động xây dựng
làng văn hóa. Đổi mới và tăng cường công tác kiểm tra kiểm tra chéo giữa ban chỉ
đạo cấp xã phường thị trấn, công tac xóm làng, tổ dân phố để đánh giá chất lượng phong trào một cách sát thực, trao đổi học tập lẫn nhau và đề ra các giải
pháp, huy động, tập hợp các lực lượng đẩy mạnh việc nâng cao chất lượng phong trào TDĐKXDĐSVH ở địa phương, thực hiện các mục tiêu trong từng
năm và cả giai đoạn đến năm 2015. Tập trung chỉ đạo điểm về xây dựng các làng, bản, tổ dân phố điển hình
để tiến tới xây dựng xã phường thị trấn văn hóa, đồng thời học hỏi rút kinh nghiệm, tìm ra cách làm tốt nhất để nhân rộng ra trên địa bàn. Đôn đốc, chỉ đạo,
47
hướng dẫn các làng, tổ dân phố bổ sung, hoàn chỉnh quy ước, hương ước và tất cả các quy ước, hương ước đều phải được các cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Việc công nhận danh hiệu làng văn hóa, gia đình văn hóa đơi khi chỉ là hình thức, chạy theo thành tích. Sau khi được cơng nhận đạt chuẩn văn hóa, ở
một số địa phương, cuộc vận động có chiều hướng lắng xuống. Cơng tác tun truyền, vận động của các Ban chủ nhiệm ấp, khóm mang tính “cầm
chừng”, thỏa mãn với những thành tích đã đạt được, nhiều gia đình, làng khu dân cư văn hóa trong tỉnh đã bị rút giấy cơng nhận văn hóa. Vì vậy cần tăng
cường cơng tác kiểm tra trong việc đăng kí, bình xét thẩm định và cơng nhận Làng văn hóa.
Nâng cao đời sống tinh thần, văn hóa tín ngưỡng của nhân dân. Chăm lo sự nghiệp phát triển sự nghiệp giáo dục. xây dựng, phát triển và nâng cao
chất lượng hoạt động của các thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở làng xã. Chăm lo xây dựng cơ sở hạ tầng, chăm sóc sức khỏe nhân dân; khơng để có hộ tái
nghèo, tái nhà tranh, khơng phát sinh người nghiện ma túy, phấn đấu giảm tưới mức thấp nhất các loại tội phạm và tệ nạn xã hội ở các làng văn hóa.
Thực hiện phát huy vai trò gương mẫu của cán bộ, Đảng viên trong cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”. Triển khai
thực hiện có hiệu quả các phong trào hưởng ứng cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đòi sống văn hóa” của các ngành đồn thể trên địa bàn dân
cư. Xây dựng cơ chế, chính sách động viên, khen thưởng kịp thời đối với tập thể cá nhân có đóng góp xuất sắc, tiêu biểu trong cuộc vận động xây dựng
làng văn hóa. Tăng cường đào tạo, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm cơng tác
văn hóa thơng tin cơ sở, duy trì việc mở các lớp huấn luyện cho cán bộ trong ban vận động xây dựng Làng Văn hóa, tăng cường cơng tác chỉ đạo, kiểm tra,
duy trì chế độ báo cáo định kì 6 tháng, 1 năm. Tăng cường sự phối hợp giữa ban chỉ đạo các cấp, các ngành các đơn
vị, đặc biệt là giữa các cán bộ làm ông tác văn hóa cơ sở với quần chúng nhân dân, nhằm vận động nhân dân tích cực tham gia phong trào.
48
Để hoạt động của các nhà văn hóa ln sôi nổi, hấp dẫn, ban chỉ đạo phong trào huyện đã hướng dẫn cho các xã, thị trấn tổ chức xây dựng nhiều
câu lạc bộ như các câu lạc bộ phụ nữ, không sinh con thứ 3, pháp luật, khuyến nông, hội nông dân, các câu lạc bộ thể dục thể thao văn nghệ,… Vì
vậy mà hoạt động văn nghệ thể dục thể thao quần chúng của huyện phát triển mạnh mẽ, góp phần thúc đẩy phong trào đi vào thực tế hơn.
Khi nhu cầu sinh hoạt văn hóa của nhân dân ngày càng cao cần phải tăng cường đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất của hệ thống thiết chế văn hóa,
phải được xây dựng khang trang, được trang thiết bị hiện đại, phải trở thành nơi tổ chức thường xuyên các hoạt động văn hóa bổ ích cho từng làng, từng
khu dân cư. Phấn đấu đến năm 2015 đạt các chỉ tiêu sau:
+ 100 xóm tổ dân phố có quy ước, hương ước văn hóa được phê duyệt hoặc bổ sung chỉnh lý hợp lý.
+ 95 xóm, tổ dân phố có nhà văn hóa. + 80 xóm, tổ dân phố có sân chơi thể thao.
+ 100 số xóm, tổ dân phố đăng kí xây dựng làng văn hóa, khu dân cư tiên tiến. + 100 cơ quan, đơn vị, trường học đăng kí xây dựng cơ quan văn hóa.
+ 95-97 hộ gia đình đăng kí xây dựng gia đình văn hóa. + Có 40 xóm, tổ dân phố đạt danh hiệu làng văn hóa.
+ Có 40 xóm, tổ dân phố đạt danh hiệu khu dân cư tiên tiến. + Có 90 trở lên hộ nhân dân đạt danh hiệu gia đình văn hóa.
+ 90 xóm, tổ dân phố có đội văn nghệ, thể thao. + 40 xã, thị trấn xây dựng nhà văn hóa xã.
+ Hồn chỉnh lắp đặt 100 xóm, tổ dân phố có loa FM. + 30 xóm, xã có thư viện cấp xóm, xã.[3, 10 - 11]

3.2. Bài học kinh nghiệm


Phong trào “TDĐKXDĐSVH” nói chung và xây dựng Làng Khu dân cư văn hóa của huyện Phú Bình nói riêng đã thực sự đi sâu vào trong nhân
49
dân. Qua phong trào sức dân được khơi dậy, đóng góp cơng sức và trí tuệ vào công cuộc đổi mới đất nước, đem lại bộ mặt mới cho nơng thơn huyện Phú
Bình trong thời kỳ cơng nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn những hạn chế thiếu sót. Từ q trình thực hiện phong trào
xây dựng làng văn hóa ở huyện Phú Bình trong 10 năm2001- 2010, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:
Một là: Nhận thức đúng đắn tầm quan trọng và quán triệt các chủ
trương, đường lối của Đảng về xây dựng, phát triển văn hoá. Tăng cường cơng tác tun truyền với nhiều hình thức phong phú, đa dạng nhằm tuyên
truyền sâu rộng trong cán bộ đảng viên và các tầng lớp nhân dân, đồng thời tích cực cổ vũ động viên mọi tầng lớp nhân dân, từng người từng gia đình thi
đua phấn đấu xây dựng gia đình văn hóa, Làng, khu dân cư văn hóa, nắm được các yêu cầu, mục đích, ý nghĩa cũng như tiêu chuẩn GĐVH, LVH,
KDCTT
Hai là: Các cấp uỷ đảng, chính quyền cần chủ động, sáng tạo, đề ra
những phong trào cụ thể để định hướng cho phong trào xây dựng các làng, khu dân cư văn hoá phù hợp với điều kiện cụ thể của huyện đồng thời chỉ đạo
quyết liệt quá trình thực hiện ở địa phương. Tích cực, chủ động, năng động, sáng tạo trong quá trình tổ chức thực hiện phong trào, triệt để khai thác và
phát huy mọi khả năng trong nhân dân để xây dựng phong trào.
Ba là: Nhận thức đúng vai trò của quần chúng, trên cơ sở đó đẩy mạnh
việc tuyên truyền để mọi quần chúng nhân dân hiểu về ý nghĩa của phong trào và tích cực tham gia đóng góp, xây dựng làng, khu dân cư đạt tiêu chuẩn văn
hố. Vì quần chúng chính là người trực tiếp thực hiện những tiêu chí xây dựng Làngkhu dân cư văn hóa
Bốn là: Trong cơng tác lãnh đạo, chỉ đạo cần triển khai kịp thời các văn
bản của Đảng và Nhà nước về văn hóa tới các tầng lớp nhân dân trong huyện. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo sát sao của chính quyền, sự
phối hợp và chủ động thường xuyên của các ban ngành đoàn thể các cấp địa phương cơ sở, cơ quan, đơn vị.
50
Năm là: Bên cạnh sự lãnh đạo toàn diện của các cấp ủy đảng, chính
quyền đối với phong trào, cần quan tâm đến cơ chế, chính sách đầu tư về mọi mặt, nhất là kinh phí đối với hoạt động của BCĐ các cấp, đầu tư phương tiện
cơ sở vật chất, đầu tư xây dựng các thiết chế văn hóa nhằm tạo điều kiện cho các thơn, bản, làng phát huy hết điều kiện thuận lợi để tổ chức triển khai chỉ
đạo phong trào.
Sáu là: Thường xuyên kiện tồn BCĐ phong trào “TDĐKXDĐSVH”
các cấp phân cơng rõ trách nhiệm của từng thành viên, đẩy mạnh hoạt động của ban chỉ đạo các cấp, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát kịp thời nắm
bắt tình hình và tìm ra các giải pháp để thúc đẩy và phát triển phong trào. Có những hình thức biểu dương gương “Người tốt, việc tốt”, gia đình văn hóa
Làng, khu dân cư văn hóa trong thực hiện phong trào để thức đẩy phong trào ngày một phát triển mạnh và đi sâu vào cuộc sống của mỗi người dân.
Bảy là: Tổ chức tốt ngày hội “Đại đoàn kết toàn dân tộc” 1811 hàng
năm. Đồng thời tổ chức cho nhân dân đăng ký thực hiện cam kết xây dựng gia đình văn hóa, khu dân cư tiên tiến, làng văn hóa. Thực hiện nếp sống văn minh
theo quy ước, hương ước văn hóa của xóm, làng. Qua đó phát huy tinh thần tự quản trong nhân dân. Thường xuyên xây dựng, bổ sung và điều chỉnh và nâng cao
điều kiện quy ước, hương ước của làng, khu dân cư cho phù hợp với tình hình của huyện trong giai đoạn mới để ngày càng đẩy mạnh chất lượng phong trào.
Tiểu kết
Mười năm qua với sự chỉ đạo trực tiếp của Ban chỉ đạo phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” phong trào xây dựng Làng,
khu dân cư văn hóa cùng với phong trào Tồn dân đồn kết xây dựng đời sống văn hóa của huyện đã thực sự trở thành phong trào thi đua sôi nổi và đạt
được những thành tựu đáng kể. Nhiều làng văn hóa đã đạt danh hiệu làng văn hóa trong nhiều năm như xóm Đồng Tiến 1 xã Tân Khánh liên tục trong 11
năm, xóm Vàng xã Tân Đức là một trong những điểm sáng của tỉnh Thái Nguyên trong việc thực hiện phong trào này. Qua phong trào thì tình làng
nghĩa xóm được gắn kết hơn, những giá trị văn hóa truyền thống của làng
51
xóm được giữ vững và phát triển. Tuy nhiên cũng cần phải thấy rằng, phong trào phát triển chưa đồng đều giữa các vùng trong huyện nhũng xóm, xã miền
núi phong trào chưa thực sự phát triển, bề rộng chưa đi đôi với chiều sâu, chất lượng chưa tương xứng với số lượng cho nên hiệu quả của phong trào chưa
cao. Đặc biệt trong 3 năm trở lại đây số lượng Làng, Khu dân cư văn hóa đang có xu hướng giảm dần, ở một số Làng văn hóa những nếp sống mới
chậm được hình thành, thực hiện nếp sống văn minh chưa có sự chuyển biến rõ rệt, lối sống thiếu văn hóa, phi đạo đức, tệ nạn xã hội ngày càng tăng…
Những thếu sót hạn chế đó ngồi những ngun nhân chủ quan còn có những ngun nhân như số hộ trong xóm q đơng nên việc thực hiện cũng gặp
nhiều khó khăn, nhân dân có ý muốn tách xóm. Vì vậy cần có những giải pháp thích hợp để đưa phong trào đi lên trong những năm sau.
KẾT LUẬN
52
Nhìn lại một cách tổng quát phong trào xây dựng Làng văn hóa trên tồn huyện Phú Bình trong 10 năm từ 2001 đến năm 2010 có thể rút ra một
số kết luận sau:
1. Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở là một nhiệm vụ có ý nghĩa Chiến lược lâu dài của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Ngay từ những ngày
đầu mới thống nhất đất nước thì văn hóa đã được coi là một mặt trận quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Bước vào thời kỳ đổi mới
thì vấn đề xây dựng đời sống văn hóa càng được Đảng và Nhà nước ta quan tâm hơn, đặc biệt là sau hội nghị Trung Ương 5 khóa VIII Đảng ta đã đưa ra
nhiều Nghị quyết về văn hóa ở các cấp độ khác nhau. Những thắng lợi đã đạt được trong 10 năm thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời
sống văn hóa”, 20 năm phong trào “xây dựng Làng văn hóa” đã khẳng định đường lối văn hóa đúng đắn của Đảng ta trong thời kỳ đổi mới. Đường lối văn
hóa đúng đắn và sáng tạo của Đảng là cơ sở để chúng ta tiến hành và xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và phát huy vai trò văn
hóa đối với phát triển kinh tế xã hội, củng cố chế độ chính trị xã hội, phát huy vị thế của Việt Nam trong đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa thế giới.
2. Phú bình là một huyện trung du miền núi phía Nam tỉnh Thái Ngun, có điều kiện địa lý khơng thuận lợi, đời sống của một bộ phận nhân
dân còn khó khăn, tỉ lệ hộ nghèo cao, tư tưởng trọng nam khinh nữ cò nặng nề…đã cản trở việc xây dựng Làng văn hóa. Nhưng với sự lãnh đạo của các
cấp ủy, chính quyền, sự phối hợp chặt chẽ giữa các ban, ngành, đoàn thể, sự đoàn kết, tự giác của nhân dân các địa phương trong huyện Phú Bình, phong
trào “Tồn dân đồn kết xây dựng đời sống văn hố” đã thực sự thấm sâu vào đời sống xã hội, có tác dụng trực tiếp đến cách nghĩ, lối sống và tinh thần của
nhân dân nói chung, các cơ quan đơn vị nói riêng, từng bước ngăn chặn sự thối hố về tư tưởng, đạo đức, lối sống, góp phần xây dựng mơi trường văn
hố ngày càng lành mạnh trên địa bàn toàn tỉnh. Đây cũng là động lực nhằm thúc đẩy việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội của tỉnh trong thời gian
qua và những năm tiếp theo. Cuộc vận động đã nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần, làm lành mạnh mơi trường xã hội, góp phần nâng cao nhận thức của
nhân dân về thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước, thúc đẩy sự phát triển của xã hội.
3. Quá trình xây dựng và giữ vững danh hiệu Làng văn hố của huyện khơng chỉ tác động tích cực đến việc ổn định, củng cố hệ thống chính trị ở cơ
53
sở, phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo của nhân dân trong xây dựng và phát triển kinh tế, xố đói giảm nghèo, làm giàu chính đáng mà còn giữ vững
kỷ cương, phép nước, tạo ra sự ổn định, an tồn trật tự an ninh ở nơng thôn, làm cho người nông dân được thật sự làm chủ cuộc sống trong làng quê của
mình. Phong trào đã làm cho nhân dân sống với nhau thân thiện, gần gũi, giúp đỡ tương trợ lẫn nhau vượt qua hoạn nạn hướng tới xây dựng làng quê “thuần
phong mỹ tục”. Thực hiện tốt các Quy ước, Hương ước và xây dựng làng văn hoá đã làm cho mỗi người dân và từng gia đình, từng cộng đồng dân cư ngày
một thấm sâu các chuẩn mực về văn hoá, tạo ra một lối sống vệ sinh, nhân ái và ngày càng tiến bộ văn minh.
4. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa nói chung và phong trào xây dựng Làng
văn hóa nói riêng ở nhiều nơi còn bộc lộ những yếu kém phải rút kinh nghiệm và chỉnh sửa như là chúng ta chưa đạt được nhiều mơ hình làng văn hố xuất
sắc có tính đỉnh cao. Chất lượng làng văn hố cũng khơng đồng đều và có sự cách biệt nhau ở các khu vực, các vùng miền. Nhiều địa phương chất lượng
làng văn hoá giảm sút và nảy sinh những diễn biến phức tạp về xã hội. Tại nhiều địa phương, công tác xây dựng làng văn hố vẫn còn bị xem nhẹ do
thiếu sự quan tâm chỉ đạo của cấp uỷ, chính quyền. Vấn đề phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong cơng tác xây dựng làng văn hố chưa thật sự
nghiêm túc và dân chủ, còn mang tính chiếu lệ, đối phó ở một số địa phương. Đời sống của một bộ phận dân cư trong các làng văn hố còn gặp nhiều khó
khăn. Nhiều làng văn hố có tỷ lệ hộ gia đình văn hố chưa cao. Cơng tác xã hội hoá trong lĩnh vực văn hoá ở nhiều địa bàn dân cư chưa đạt được kết quả
tốt; công tác xây dựng làng văn hố còn thiếu những giải pháp bền vững.
Tóm lại trong 10 năm 2001 - 2010 thực hiện, duới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Phú Bình và Ban chỉ đạo phong trào của huyện, Phong trào
xây dựng LàngKhu dân cư văn hoá cũng như phong trào Tồn dân xây dựng đời sống văn hóa của huyện đã đạt đuợc kết quả đáng mừng. Phong trào đã
góp phần quan trọng vào thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của huyện. Vì vậy trong những năm tới chúng ta cần đẩy mạnh hơn nữa để đưa nền kinh tế
của huyện ngày càng phát triển.
TÀI KIỆU THAM KHẢO
54

1. Ban chấp hành Đảng bộ huyện Phú Bình 2005, Lịch sử Đảng bộ huyện Phú


Bình, Huyện ủy Phú Bình.

2. Ban chỉ đạo Trung ương phong trào tồn dân xây dựng đời sống văn hóa 2006,


Văn bản chỉ đạo, hướng dẫn phong trào toàn dân xây dựng đời sống văn hóa, Hà Nội.
3. Ban chỉ đạo phong trào “TDĐKXDĐSVH”, Báo cáo tổng kết 10 năm phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” giai đoạn 2000 –
2010, Lưu trữ tại phòng văn hóa thơng tin huyện Phú Bình. 4. BCH Đảng bộ huyện Phú Bình, chương trình số 08CTr – HU, ngày
1592006 của BCH Đảng bộ huyện khóa XIV, chương trình phát triển đời sống văn hóa cơ sở huyện Phú Bình giai đoạn 2006 – 2010. Lưu trữ tại phòng
văn hóa thơng tin huyện Phú Bình. 5. Ban chỉ đạo phong trào “TDĐKXDĐSVH” tỉnh Thái Nguyên, Tài liệu hội
nghị biểu dương các điển hình tiên tiến 10 năm phong trào TDĐKXDĐSVH; 15 năm cuộc vận động TDĐKXDĐSVHƠKDC; 10 năm thực hiện cuộc vận động
ngày vì người nghèo Thái Ngun. Lưu trữ tại Phòng văn hóa thơng tin huyện Phú Bình.
6. Bộ văn hóa, thể thao và du lịch cục văn hóa cơ sở 2008, văn bản của nhà nước về nếp sống văn hóa, Hà Nội.
7. Nông Quốc Chấn, Huỳnh Khái Vinh 2002, Văn hóa các dân tộc Việt Nam thống nhất mà đa dạng, Nxb chính trị quốc gia Hà Nội.
8. Đảng cộng sản Việt Nam 1996, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Sự thật Hà Nội.
9. Đảng cộng sản Việt Nam 2001, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Sự thật Hà Nội.
10. Đảng cộng sản Việt Nam 2006, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb chính trị quốc gia Hà Nội.
11. Đảng cộng sản Việt Nam 2008, Văn kiện Đảng thời kỳ đổi mới và hội nhập Đại hội VI, VII,VIII, IX, X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
55
12. Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên, Văn kiện đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ XVI,
nhiệm kỳ 2000 -2005. 13. Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên, Văn kiện đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ
XVII, nhiệm kỳ 2005 – 2010. 14. Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên, huyện ủy Phú Bình 2000, Văn kiện đại hội
Đảng bộ huyện Phú Bình lần thứ XXIII, nhiệm kỳ 2000 – 2005. 15. Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên, huyện ủy Phú Bình 2005, Văn kiện đại hội
Đảng bộ huyện Phú Bình lần thứ XXIV, nhiệm kỳ 2005 – 2010. 16. Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên, huyện ủy Phú Bình 2010, Văn kiện đại hội
Đảng bộ huyện Phú Bình lần thứ XXV, nhiệm kỳ 2010 – 2015. 17. Địa chí Thái Nguyên 2009, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội.
18. Phạm Duy Đức chủ biên 2010, Đường lối văn hóa của Đảng cộng sản Việt Nam từ 1930 đến nay, Nxb Văn hóa - thơng tin và Viện văn hóa.
19. Phạm Duy Đức chủ biên 2010, Phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội.
20. Nguyễn Hồng Hà 2005, Môi trường văn hóa với việc xây dựng lối sống con người Việt Nam, Nxb văn hóa thông tin Hà Nội.
21. Lê Thị Thu Hương 2008, Huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên qua tư liệu địa bạ triều Nguyễn nửa đầu thế kỉ XIX, Luận văn thạc sĩ lịch sử, Thái Nguyên.
22. Nguyễn Hữu Khánh 1998, Đất và người Thái Nguyên, Nxb Sở văn hóa thơng tin, Thái Ngun.
23. Phan Ngọc Liên chủ biên 2003, Phương pháp luận sử học, Nxb Đại học sư phạm, Hà Nội.
24. Nguyễn Cảnh Minh chủ biên – Đỗ Hồng Thái 1999, Lịch sử địa phương, Nxb Giáo dục Hà Nội.
25. Sở văn hóa thơng tin tỉnh Thái Ngun 2000, Sổ tay cơng tác văn hóa thơng tin cơ sở, Tỉnh Thái Nguyên.
26. Hà Văn Tấn 2005, Đến với lịch sử văn hóa Việt Nam, Nxb Hà Nội, Hội Nhà văn. 27. Trần Ngọc Thêm 2000, cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
56
28. Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, ban phong trào 2002, sổ tay công tác mặt trận trong cuộc vận động “Tồn dân đồn kết xây dựng
đời sống văn hóa ở khu dân cư”, Hà Nội. 29. Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 1999, Toàn dân đoàn
kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 30. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh Thái Nguyên 2002, Cuộc vận động “Tồn
dân đồn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư. 31. UBND Tỉnh Thái Nguyên, Ban chỉ đạo phong trào “Toàn dân đoàn kết
xây dựng đời sống văn hóa”, Chương trình thực hiện phong trào tồn dân
đồn kết xây dựng đời sống văn hóa tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2006 – 2010. Lưu trữ tại Phòng văn hóa thơng tin huyện Phú Bình.

32. UBND tỉnh Thái Ngun Sở văn hóa Thơng tin, Hướng dẫn số 410HD-


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Đóng góp của đề tài. Ban chấp hành Đảng bộ huyện Phú Bình 2005, Lịch sử Đảng bộ huyện Phú Ban chỉ đạo Trung ương phong trào tồn dân xây dựng đời sống văn hóa 2006,

Tải bản đầy đủ ngay(79 tr)

×