1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Y khoa - Dược >

Trªn thÕ giíi

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (592.89 KB, 89 trang )


Khi bơm hoá chất vào nhánh động mạch gan nuôi dỡng khối u, thuốc có tác dụng trực tiếp lên tế bào ung th. Nút động mạch nuôi khối u bằng Spongel và các
mạch nhỏ trong khối bằng Lipiodol có tác dụng làm hạn chế nguồn nuôi dỡng các
tế bào ung th gây hoại tử khối u và hình thành vỏ xơ bao bọc quanh khối. Ngoài ra, do dòng chảy bị ngăn lại do tắc mạch, và do tính chất của Lipiodol đợc bắt giữ
mạnh và lu lại trong khối u, nó sẽ làm cho hoá chất cũng đợc lu giữ lâu trong khối có tác dụng tăng hiệu quả của hoá chất chống ung th. Hầu hết các tác giả Yamada,
Ohishi, đều thấy rằng tỷ lệ đáp ứng điều trị và thời gian sống trung bình đều tăng rõ rệt so với phơng pháp tắc mạch gan đơn độc [16, 27, 30, 36].
Các biến chứng thờng xảy ra cho tắc mạch và tắc mạch hóa chất là sốt và đau, thờng gặp ở hầu hết các bệnh nhân. Sốt từ 37,5 - 39
C trong 2-3 ngày. Đau ở HSF có thể lan lên vai phải - đó là hậu quả của tắc mạch, thờng trong thời gian 5-7
ngày hoặc có thể kéo dài đến 3 tuần. Nôn và buồn nôn gặp ở 50 bệnh nhân, th-
ờng gắn liền với sng phồng ổ bụng trong ngày đầu tiên sau tắc mạch. Tỷ lệ này có thể nặng nề hơn ở bệnh nhân tắc mạch hóa chất, có lẽ là do cả tác dụng phụ của
hóa chất. Mặc dù vậy đau có thể kiểm soát đợc bằng các thuốc giảm đau Aspirin, Indomethacine, Acetaminophen, nôn có thể đợc kiểm soát bởi Prochlorperazine 5-
10 ng tiêm bắp hoặc tiêm tĩnh mạch. Thăm dò chức năng gan sau tắc mạch có thể thấy men gan GOT tăng cao từ
10-20 lần, và kéo dài 5-7 ngày. ở hầu hết bệnh nhân, GOT trở về bình thờng trong vòng 10 ngày và không quá 3 tuần sau nút mạch.
1.5. Tình hình nghiên cứu điều trị UTBMTBG bằng phơng pháp nút mạch và tiêm hóa chất động mạch gan NMTHCĐMG

1.5.1. Trên thế giới


Năm 1972, Doyon Pháp và sau đó năm 1978, Yamada Nhật đã làm tắc động mạch gan bằng Gelfoam để điều trị UTBMTBG, tuy nhiên kết quả thu đợc
18
cha tốt lắm. Năm 1979, Nakaguma là ngời đầu tiên bơm Lipiodol vào động mạch gan để chẩn đoán và điều trị ung th gan. Năm 1985, Ohishi phối hợp Lipiodol và
Gelfoam. Sau đó nhiều tác giả đã dùng Lipiodol nh chất chuyên chở thc chèng
ung th b»ng c¸ch dïng Lipiodol pha trén víi thuốc chống ung th tiêm vào động mạch nuôi u và cuối cùng là làm tắc nghẽn mạch với Gelfoam Spongel. Từ năm
1990 đến nay, kỹ thuật thông mạch chọn lọc và siêu chọn lọc đến các mạch máu rất nhỏ nuôi khối u đã phát triển mạnh, phơng pháp CE phát triển và chỉ định ngày
càng mở rộng không chỉ cho các khối u gan nguyên phát mà cả các khối thứ phát di căn gan.
Yamada và cộng sự báo cáo 120 bệnh nhân UTBMTBG đợc điều trị nút mạch hoá chất sử dụng Gelfoam và Mitomycin C hoặc Doxorubicin, tỷ lệ sống sót
sau 1 năm , 2 năm và 3 năm lần lợt là 44, 29 và 15 [36].
Ohishi vµ céng sù sư dơng Gelfoam víi Lipiodol vµ Mitomycin C hoặc Doxorubicin để làm tắc mạch gan trên 97 bệnh nhân. Tỷ lệ sống sót 1 năm là 69.
Sù gi¶m cã ý nghÜa cđa AFP hut thanh quan sát đợc ở 90 bệnh nhân.
Chamsagave và cộng sự báo cáo 23 bệnh nhân với u hắc tố mắt di căn gan đã đợc nút mạch với Ivalon và Cisplatin, 14 bệnh nhân 61 đáp ứng điều trị với
thời gian sống sót trung bình là 8 tháng, và thời gian sống lâu nhất là 41 tháng [36].
Nhiều tác giả khắp nơi trên thế giới: Batolozzi, Savastano, Florio Italy, Bayrakta Thæ NhÜ Kú, Levy Israel, Hsich, Chang Trung Quèc, Tanaka,
Yasuda, Yamakado Nhật, Rose, Chapman Mĩ đã tiến hành điều trị cho bệnh nhân UTBMTBG bằng phơng pháp NMTHCĐMG. Các tác giả này đã so sánh
với phơng pháp điều trị tiêm cồn, hoặc so sánh tác dụng của điều trị đơn độc một phơng pháp hay NMTHCĐMG kết hợp tiêm cồn , kết hợp tia xạ, Hầu hết các
tác giả đều thÊy r»ng, víi nh÷ng khèi u lín 5 cm không còn chỉ định phẫu thuật hoặc tiêm cồn thì NMTHCĐMG là phơng pháp đợc chọn chỉ định. Và thời gian
19
sống sau điều trị của bệnh nhân là có ý nghĩa. Tuy nhiên, tùy giai đoạn của xơ gan theo Child hoặc theo Okuda thời gian sống sót cũng khác nhau một cách có ý
nghĩa. Ngoài ra các nghiên cứu so sánh giữa hai nhóm điều trị TACE đơn thuần và TACE kết hợp với PEI đều cho thấy giá trị của phơng pháp kết hợp. Chẩn đoán
sớm, điều trị sớm, tuân thủ điều trị, và điều trị kết hợp với TACE là chìa khóa để đạt đợc kết quả ®iỊu trÞ tèt [35, 41, 49, 52, 57].
1.5.2.ë ViƯt Nam
Tõ trớc tháng 61999 phơng pháp NMTHCĐMG cha đợc thực hiện vì lý do thiếu trang thiết bị, thiếu vật liệu ®Ĩ tiÕn hµnh thđ tht, vµ chđ u lµ cha đợc
chú ý tới. Một số bệnh nhân ung th gan phải ra nớc ngoài với chi phí rất tốn kém để đợc NMTHCĐMG, một phơng pháp hoàn toàn có thể thực hiện đợc ở Việt
Nam.
Từ tháng 91999 đến tháng 62000, nhóm các bác sĩ Phan Minh Thông, Bùi Văn Giang, D Đức Chiến, Nguyễn Trờng Khanh, Nguyễn Khánh Trạch, Khoa
Chẩn đoán hình ảnh Bệnh viện Bach Mai, đã tiến hành những ca NMTHCĐMG đầu tiên trên 12 bệnh nhân với 20 lần điều trị. Cho đến 62001 đã tăng lên đến 24
bệnh nhân với 47 lần điều trị. Kết quả đợc ghi nhận về kỹ thuật. Tình trạng lâm sàng của bệnh nhân cũng đợc cải thiện nh giảm đau, tăng cân, vẫn đi làm việc bình
thờng ngoài đợt điều trị [30].
Cùng thời gian 71999 đến 82000, nhóm nghiên cứu gồm các bác sĩ Huỳnh Đức Long, Thi Văn Gừng, Thái Ngọc Dâng, Trần Ngọc Danh, Phạm Ngọc Hoa,
Đặng Văn Phớc, Khoa Chẩn đoán hình ảnh Bệnh viện Chợ Rẫy và Bộ môn Nội tr- ờng Đại học Y Dợc TpHCM cũng áp dụng điều trị trên 201 bệnh nhân UTBMTBG
không còn chỉ định phẫu thuật tại Bệnh viện Chợ Rẫy với 244 lợt TOCE. Kết quả trớc mắt đợc ghi nhận và không thấy có biến chứng nghiêm trọng [16].
20
Tháng 112000, các bác sĩ Lê Văn Trờng, Mai Hồng Bàng, Vũ Văn Khiên, Nguyễn Văn Thịnh, Phạm Văn Hùng, Bệnh viện Quân y 108 bắt đầu áp dụng điều
trị và 10 bệnh nhân đợc điều trị bằng phơng pháp TOCE cũng đợc báo cáo [22].
Cho đến nay, sau những ca bệnh nhân đầu tiên đợc báo cáo chủ yếu về những thành công của kỹ thuật, các bác sĩ quan tâm đến vấn đề này đều muốn đi
sâu vào đánh giá kết quả điều trị thực tế trên các bệnh nhân ở Việt Nam và mong muốn tìm đợc một chỉ định, một quy trình điều trị cho kết quả tốt nhất.
21
Chơng 2: Đối tợng và phơng pháp nghiªn cøu

Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (89 trang)

×