1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Khoa học xã hội >

Giai đoạn điều tra tiếp Bắt đối tượng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (199.35 KB, 22 trang )


Để giải quyết tốt tình huống này cần tiến hành các hoạt động điều tra như: lấy lời khai, thanh tra kiểm tra, trưng cầu giám định, trưng dụng chuyên gia…để
phát hiện thu thập tài liệu chứng cứ mới phục vụ cho việc xác định tội phạm, lập chuyên án trinh sát đấu tranh làm rõ.

2.2.2. Giai đoạn điều tra tiếp Bắt đối tượng


- Việc áp dụng biện pháp ngăn chặn như bắt, tạm giữ, tạm giam…là việc
rất quan trọng. Cần thu thập tài liệu phản ánh về nhân thân đối tượng bắt, vận dụng chính sách của Đảng, Nhà nước ở từng thời điểm cụ thể và có sự tính toán,
tránh việc đối tượng trốn, tiếp tục gây án, tự sát hay cản trở các hoạt động điều tra.
- Chú ý: + Việc bắt, giam giữ phải có đủ tài liệu chứng cứ và xét thấy cần thiết phải
bắt để phục vụ yêu cầu điều tra. + Đảm bảo yếu tố bí mật bất ngờ khi bắt và phải đúng quy định của pháp
luật, tính toán để việc bắt nhanh gọn, tránh sự chống trả, gây khó khăn cho việc thi hành lệnh bắt.
+ Trong việc dẫn giải, tạm giữ, tạm giam cần chú ý không để các đối tượng bị bắt thông cung, tẩu tán tài sản…
+ Việc bắt bị can phải đi liền với việc khám xét và giám sát không để các đối tượng thông cung trong quá trình bị giam giử.
Khám xét, thu giữ, tạm giữ và kê biên tài sản trong điều tra vụ án - Việc khám xét cần được tiến hành ngay sau khi bắt nhằm phát hiện thu
giữ công cụ phương tiện pham tội, đồ vật tài sản do phạm tội mà có. Cụ thểlà những giấy tờ sổ sách tài liệu, hợp đồng kinh tế, báo cáo về kết quả hoạt động
kinh doanh, biên bản thanh lý hợp đồng.
- Điều tra viên cần có sự lựa chọn khi thu giữ tài liệu, khéo léo chuyển hoá tài liệu trinh sát một cách hợp lý thành chứng cứ có giá trị pháp lý.
- Cùng với việc khám xét, cơ quan điều tra có thể phối hợp với ngân hàng, kho bạc và các cơ quan chức năng tiến hành những hoạt động nhằm đảm bảo cho
việc thu hồi tài sản như niêm phong, phong toả tài sản… Hỏi cung bị can
Đối với vụ án về trật tự quản lý kinh tế, hoạt động hỏi cung bị can nhằm làm rõ những vấn đề cần chứng minh vụ án như:
- Làm rõ thủ đoạn gây án và thủ đoạn che dấu tội phạm, làm rõ hành vi phạm tội của đối tượng đã xâm hại lĩnh vực kinh tế nào, ý thức của đối tượng khi
thực hiện hành vi phạm tội. - Làm rõ hậu quả tác hại do hành vi phạm tội gây ra, số đối tượng tham
gia, vai trò của từng đối tượng trong vụ án. - Làm rõ nơi cất dấu tài sản, tài liệu liên quan đến hành vi phạm tội để thu
giữ. - Làm rõ những đối tượng đang lẩn trốn để tổ chức truy bắt.
11
- Thông qua hỏi cung bị can phát hiện những sơ hở thiếu sót trong công tác quản lý kinh tế, quản lý hành chính của nhà nước mà bọn tội phạm lợi dụng
thực hiện hành vi phạm tội để đề ra những biện pháp phòng ngừa và đấu tranh với loại tội phạm này một cách hiệu quả.
- Để hoạt động hỏi cung bị can được tiến hành đạt kết quả tốt thì việc tiến hành hỏi cung cần chú ý:
+ Công tác chuẩn bị và lập kế hoạch hỏi cung bị can. \\ Xác định rõ mục đích của hoạt động hỏi cung nhằm làm rõ vấn đề gì, hỏi
đối tượng nào trước, đối tượng nào sau, những chiến thuật hỏi cung cần sử dụng khi hỏi cung.
\\ Dự kiến những câu hỏi đối với tùng bị can, dự kiến tài liệu chứng cứ có thể đưa ra sử dụng trong từng câu hỏi, những tình huống sẽ gặp trong khi hỏi
cung, dự kiến các phương án mà đối tượng có thể trả lời và cách xử lý tình huống bất trắc.
\\ Lựa chọn thời gian, địa điểm và phương tiện để tiến hành hỏi cung. - Tiến hành hỏi cung bị can
+ Đối với bị can có kinh nghiệm sống, có trình độ năng lực thường tự mãn
về quá khứ, có biểu hiện kiêu ngạo. Trong trường hợp này điều tra viên cần có kinh nghiệm, chú ý chiến thuật củng cố từng bước, làm rõ từng việc, từng chi tiết
theo chứng cứ đã có củng cố chắc từng vấn đề rồi mới mở rộng các vấn đề khác.
+ Đối với bị can là cán bộ công nhân viên chức, họ hay đỗ lỗi cho khách quan, nguỵ biện cho hành vi phạm tội của mình. Điều tra viên cần tác động tâm
lý, làm rõ từng hành vi pạhm tội của đối tượng, trách nhiệm của đối tượng sau đó sử dụng chiến thuật hỏi tuần tự từng vấn đề, củng cố chắc. Sử dụng chứng cứ và
đấu tranh mâu thuẫn buộc họ phải nhận tội.
+ Đối với bị can phạm tội lần đầu, chứng cứ rõ ràng điều tra viên có thể đặt câu hỏi thẳng, hỏi tuần tự hành vi phạm tội của bị can theo thời gian xảy ra
sự việc phạm tội. + Chiến thuật hỏi cung bất ngờ vào điểm yếu được áp dụng đối với những
đối tượng mà tài liệu chứng cứ về hành vi phạm tội còn ít, bị can có thủ đoạn tinh vi xảo quyệt, có sự thăm dò thái độ của điều tra viên trong hoạt động điều
tra.
+ Chiến thuật cho bị can viết tự khai được áp dụng đối với bị can thành khẩn khai báo. Có trường hợp cho bị can viết tự khai để bộc lộ mâu thuẩn trong
các lần khai báo, từ đó đấu tranh buộc đối tượng phải khai sự thật. Đối chất
Trong quá trình điều tra, để làm rõ vai trò của từng đối tượng phạm tội, việc ăn chia, điều tra viên có thể tiến hành đối chất giữa các bị can, giữa bị can
và các đối tượng liên quan trong vụ án. Để việc đối chất đạt kết quả điều tra viên cần nắm vững đặc điểm tâm lý,
mối quan hệ của các đối tượng được đối chất và dự kiến đưa ra những tài liệu chứng cứ gì để phục vụ cho việc đối chất. Cần chú ý những câu hỏi đưa ra để các
12
đối tượng trả lời trong đối chất, dự kiến câu trả lời của các đối tượng và những tình huống bất trắc có thể xảy ra. Kết quả đối chất cần phải đem đối chiếu với
các tài liệu khác để đánh giá, sử dụng kết quả đối chát cần kết hợp với các hoạt động điều tra khác.
Trưng cầu giám định chuyên môn Việc trưng cầu giám định chuyên môn nhằm góp phần xác định có hành vi
phạm tội của đối tượng, hậu quả tác hại do tội phạm gây ra. Khi tiến hành trưng cầu giám định cần xác định rõ những yêu cầu của hoạt
động điều tra cần phải làm rõ thông qua giám định, gửi trưng cầu cho cơ quan có thẩm quyển và phối hợp lựa chọn phương pháp goíam định, đánh giá và sử dụng
kết luận giám định.
Các dạng giám định thường được tiến hành - Giám định tài liệu để làm rõ hoá đơn chứng từ, biên bản, hợp đồng kinh
tế bị tẩy xoá, tẩy sửa, giám định chử viết, chữ ký trong văn bản, giấy tờ hoá đơn nghi có sự giả mạo chữ ký, con dấu…để thực hiện hành vi phạm tội.
- Giám định về tài chính kế toán để làm rõ những hành vi làm trái nguyên tắc, chế độ chính sách về quản lý kinh tế.
- Giám định về sản phẩm hàng hoá, các công trình xây dựng, công trình giao thông…nhằm xác định những hành vi vi phạm về chất lượng vật tư, chỉ tiêu
kinh tế kỹ thuật, chất lượng công trình do hành vi phạm tội gây ra. - Giám định về hoá lý, sinh hoá, dịch tể học…nhằm xác định các tiêu
chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng nhà nươc hoặc quốc tế bị xâm hại do hành vi phạm tội gây ra.
2.2.3. Kết thúc điều tra vụ án Việc kết thúc điều tra khi cơ quan điều tra thu thập đủ tài liệu chứng cứ
chứng minh hành vi phạm tội hoặc khi hoạt động điều tra ở vào một trong những trường hợp theo quy định tại Khoản 1 điều 139 BLTTHS.
Dựa vào kết quả điều tra mà cơ quan điều tra có thể ra một trong các quyết định kết thúc điều tra như:
- Cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án về trật tự quản lý kinh tế trong những trường hợp sau đây:
+ Có một trong những căn cứ quy định tại khảon 2 điều 105 và điều 107 BLTTHS hoặc tại điều 19, điều 25 và khoản 2 điều 69 BLHS;
+ Đã hết thời hạn điều tra mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm;
Trong trường hợp đình chỉ điều tra cơ quan điều tra bản kết luận điều tra nêu rõ quá trình điều tra, lý do và căn cứ đình chỉ điều tra.
Nếu trong vụ án có nhiều bị can mà căn cứ đình chỉ điều tra không liên quan đến tất cả các bị can thì có thể đình chỉ điều tra đối với từng bị can.
- Khi đầy đủ chứng cứ xác định có tội phạm xảy ra và bị can đã thực thực hiện hành vi phạm tội thì làm bản kết luận điều tra đề nghị truy tố.
13
III. KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ TRONG HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA CÁC TỘI PHẠM
XÂM PHẠM TRẬT TỰ QUẢN LÝ KINH TẾ
3.1. Khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn hoạt động điều tra các tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế
- Bộ Luật hình sự năm 1999 còn quy định chung trong khi đó nhiều điều luật chưa được các cơ quan chức năng hướng dẫn chi tiết nên việc áp dụng luật
còn nhiều tranh luận, chưa thống nhất, thậm chí còn kẽ hở cho phần tử tiêu cực lợi dụng nhất là tội tham ô, cố ý làm trái, lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm, tội phạm
trong lĩnh vực đất đai… - Pháp luật hình sự hiện nay tuy có nhiều đổi mới phù hợp với tình hình,
nhưng chưa có quy định cụ thể, rõ ràng, đầy đủ và chính xác để phân biệt rõ vi phạm hình sự và các vi phạm khác hành chính, kinh tế, dân sự . Ranh giới giữa
tội phạm và không phải là tội phạm trong các vụ án kinh tế không rõ ràng, nhiều khi là ý kiến chủ quan của những người tham gia tiến hành tố tụng, dẫn đến việc
áp dụng pháp luật không thống nhất, tạo kẽ hở để lách luật, “hình sự hoá” các quan hệ kinh tế, dân sự hoặc ngược lại trong khi các quan hệ này vẫn còn đang
tiếp tục, chưa dứt điểm hoặc phi hình sự hoá, áp dụng “nguyên tắc có lợi cho bị can” để gỡ tội, miễn trách nhiệm hình sự.
- Quyết định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Phòng PC15 Công an tỉnh, thành phố và của Đội CSĐT tội phạm kinh tế công an quận, huyện do Tổng
cục III ban hành chưa thống nhất với chức năng, nhiệm vụ của C15 và còn nhiều điểm chưa hợp lý nhưng chậm được sửa đổi, bổ sung nên việc thực hiện, đặc biệt
là việc kiểm tra, hướng dẫn có khó khăn, nhất là trong công tác điều tra tố tụng và việc xử lý hành chính.
- Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của lực lượng CSĐT tội phạm kinh tế từ TW đến địa phương chưa thống nhất, còn trùng dẫm với một số
lực lượng khác, nhất là lực lượng Cảnh sát môi trường và CSĐT tội phạm về tham nhũng. Các quy định về cơ chế phối hợp và phân định trách nhiệm giữa các
lực lượng cũng chưa rõ ràng, do đó chưa tạo ra sức mạnh tổng hợp trong phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm, tình trạng vừa chồng chéo, trùng dẫm, vừa sót
lọt trong công tác điều tra cơ bản, trong điều tra và xử lý tội phạm tuy đã được hạn chế nhưng vẫn xảy ra giữa các lực lượng nghiệp vụ An ninh, Cảnh sát, các
cấp trung ương, tỉnh, thành phố, quận, huyện. - Công tác giám định tài chính còn nhiều bất cập, ảnh hưởng đến thời gian
điều tra kéo dài, nhiều vụ đối tượng nhận tội tham ô, làm hoá đơn giả hoặc đối tượng tự khai mình rút ruột công trình xây dựng, làm đường, nhưng vẫn phải
giám định hoặc công tác giám định không đáp ứng được yêu cầu điều tra, nhất là giám định chất lượng các công trình giao thông, xây dựng. Các tổ chức giám
định có số lượng giám định viên ít, kiêm nhiệm nhiều việc. Nhiều trường hợp Cơ
14
quan điều tra trưng cầu giám định, phía bị hại hoặc tổ chức cá nhân có quyền và nghĩa vụ có liên quan lại đề nghị trưng cầu tổ chức giám định khác, do đó dẫn
đến tình trạng có nhiều kết quả giám định khác nhau. Trong khi kinh phí giám định quá tốn kém, rất thiếu đã ảnh hưởng đến tiến độ và chất lượng công tác điều
tra. Nhiều vụ án kinh phí điều tra, nhất là kinh phí giám định cần số tiền hàng tỷ đồng nhưng không đủ nên việc giám định kéo dài, hoặc không tiến hành được.
- Công tác quản lý giam, giữ bước đầu đã đảm bảo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, tuy nhiên vẫn còn để tình trạng trốn trại, tự sát, thông cung
trong khi đó việc lựa chọn, xây dựng và sử dụng đặc tình trại tạm giam gặp không ít khó khăn do tính đặc thù của tội phạm kinh tế; vấn đề luật sư lợi dụng
việc tham gia bảo vệ cho quyền lợi của bị can, bị cáo trong các giai đoạn tố tụng hình sự để làm “thày cò” chạy án, vấn đề hỏi cung người nước ngoài, thiếu kinh
phí điều tra cũng gây không ít khó khăn, cản trở cho quá trình điều tra án kinh tế. - Nhiều vụ án gặp không ít khó khăn việc thu thập tài liệu chứng cứ do
việc bị can bỏ trốn, trong khi đó công tác truy nã tội phạm kinh tế chưa được coi trọng do chưa có quy định hướng dẫn cụ thể rõ ràng, chưa bố trí tổ chức, biên
chế hợp lý nên hiệu quả còn hạn chế. - Trình độ năng lực của một số điều tra viên, nhất là ngoại ngữ và kiến
thức về quản lý kinh tế, tài chính còn nhiều hạn chế. Một số vụ án kinh tế còn để kéo dài phải ra hạn tạm giam bị can nhiều lần hoặc bị trả lại hồ sơ để điều tra bổ
sung dẫn đến ảnh hưởng đến tiến độ điều tra vụ án cũng như quá trình truy tố xét xử.
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động điều tra các tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong thời gian tới
3.2.1. Thực hiện có hiệu quả các biện pháp công tác Công an - Biện pháp pháp luật: Trên cơ sở tổ chức phòng ngừa, đấu tranh chống tội
phạm kinh tế, lực lượng CSĐT tội phạm kinh tế phải phát hiện những sơ hở, thiếu sót trong hệ thống pháp luật và cơ chế, chính sách mà tội phạm kinh tế lợi dụng
hoạt động, nhất là những chính sách về quản lý kinh tế, kiến nghị các cấp sửa đổi, bổ sung kịp thời. Bên cạnh đó, phải tham mưu xây dựng và hoàn thiện hệ
thống pháp luật mang tính đồng bộ, chặt chẽ, không để tội phạm kinh tế lợi dụng hoạt động. Tham mưu cho Chính phủ ký kết và triển khai có hiệu quả các hiệp
định, nghị định tương trợ tư pháp với các quốc gia, nhất là các quốc gia có mối quan hệ xuất nhập khẩu hàng hoá thường xuyên hoặc có nhiều doanh nghiệp có
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam. Nghiên cứu kỹ những điều khoản, hợp đồng kinh tế, những hiệp định về kinh tế mà Việt Nam đã ký kết với các
nước để chủ động có kế hoạch phòng ngừa, đấu tranh. Đối với các vụ án kinh tế có yếu tố nước ngoài phải giải quyết đúng pháp luật Việt Nam , pháp luật, thông
lệ quốc tế, không vì giải quyết vụ án kinh tế mà ảnh hưởng đến môi trường đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Trọng tâm trong thời gian tới là tham mưu cho lãnh
15
đạo các cấp sửa đổi, bổ sung những điều luật trong Bộ luật hình sự năm 1999 liên quan đến các loại tội phạm kinh tế.
- Biện pháp nghiệp vụ: Công tác điều tra cơ bản và phân cấp để nắm tình hình địa bàn, tuyến trọng điểm vẫn còn nhiều vướng mắc giữa lực lượng An ninh
và Cảnh sát, giữa trung ương và địa phương dẫn đến trùng dẫm, bỏ sót đối tượng, địa bàn và không nắm được tình hình hoạt động của tội phạm. Lực lượng
CSĐT tội pham kinh tế cấp quận, huyện đông nhưng không mạnh, hoạt động chưa đạt hiệu quả, còn làm thay các ngành chức năng. Để khắc phục tình trạng
nêu trên, Cục CSĐT tội phạm kinh tế phải khẩn trương phối hợp với Cục An ninh kinh tế, Cục An ninh văn hóa tư tưởng tổng kết công tác phân cấp và quản lý nghiệp
vụ địa bàn. Để nâng cao chất lượng công tác điều tra cơ bản nhằm chủ động nắm chắc tình hình địa bàn, tuyến trọng điểm, phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi
vi phạm pháp luật về kinh tế thì lực lượng CSĐT tội phạm kinh tế phải tập huấn lại và thực hiện đầy đủ các qui định của Bộ về công tác điều tra cơ bản theo
hướng không quản lý nghiệp vụ địa bàn tràn lan mà kết hợp điều tra cơ bản và quản lý nghiệp vụ địa bàn theo lĩnh vực và ngành hàng trọng điểm. Việc thu thập
thông tin theo lĩnh vực, địa bàn và ngành hàng trọng điểm phải được mở rộng bằng nhiều hình thức, từ nhiều nguồn, đảm bảo hồ sơ điều tra cơ bản phải phục
vụ đắc lực cho công tác nắm tình hình và chủ động phòng ngừa, phát hiện ngăn chặn kịp thời các hành vi phạm tội, trong quá trình điều tra cơ bản tuyến, lĩnh
vực, ngành hàng trọng điểm cần chú ý việc thu thập, tổng hợp, phân tích thông tin tài liệu qua các phương tiện thông tin đại chúng, các nguồn thông tin trên
mạng, các thông tin từ đối tác trong và ngoài nước. Cần chú ý các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, các chương trình, dự án trọng điểm của nhà
nước hoặc có nguồn viện trợ của nước ngoài và liên quan đến nước ngoài. Những thông tin thu thập được phải được tích luỹ, tổng hợp và phân tích sâu sắc
để nắm chắc tình hình địa bàn, tuyến, lĩnh vực, ngành hàng trọng điểm phục vụ tốt công tác lãnh đạo, chỉ đạo.
Nâng cao chất lượng công tác sưu tra đối tượng kinh tế là một yêu cầu cấp bách trong giai đoạn hiện nay. Để phòng ngừa, đấu tranh có hiệu quả hoạt động
của tội phạm kinh tế, nhất là các đối tượng, các vụ việc có yếu tố nước ngoài, trên cơ sở kết quả công tác sưu tra nếu phát hiện người, việc hiện tượng nghi vấn
hoạt động phạm tội, phải tiến hành xác lập và tổ chức xác minh hiềm nghi để có kết luận chính xác nhằm đảm bảo phát hiện được tội phạm, nhưng cũng phòng
ngừa được oan, sai. Trong quá trình xác minh hiềm nghi cần phải khẩn trương tập trung xác minh để sớm đưa ra kết luận chính xác có phải là tội phạm hay
không?
Trinh sát phân công theo dõi, quản lý nghiệp vụ tuyến, địa bàn, lĩnh vực, ngành hàng trọng điểm phải có kế hoạch chủ động xây dựng và sử dụng mạng lưới
bí mật trong đó chú ý xây dựng và sử dụng nhân viên mạng lưới bí mật là người nước ngoài ở những khâu quan trọng, thiết yếu, những bộ phận liên quan đến tiền,
16
hàng, ở vị trí đó nhân viên mạng lưới bí mật có thể nắm vững và cung cấp những thông tin, tài liệu cần thiết và có giá trị phục vụ cho công tác phòng ngừa, đấu
tranh chống tội phạm kinh tế. Đối với người nước ngoài có thể được xây dựng thành đặc tình, cộng tác viên danh dự, cơ sở bí mật để phục vụ công tác phòng
ngừa, đấu tranh chống tội phạm có yếu tố nước ngoài khi người đó đảm bảo các điều kiện theo quy định của Bộ.
Tăng cường công tác đấu tranh chuyên án, có sự chỉ đạo tập trung, thống nhất, phối hợp chặt chẽ của nhiều lực lượng, sử dụng đồng bộ các biện pháp,
phương tiện kỹ thuật, chiến thuật nghiệp vụ, nhằm vào những đối tượng nguy hiểm phức tạp đã xác định để phòng ngừa, ngăn chặn, khám phá, truy bắt tội
phạm, đảm bảo kịp thời, hiệu quả. Đồng thời, xác định nguyên nhân, điều kiện của tội phạm, mở rộng công tác điều tra nghiên cứu và kiến nghị các cơ quan
chức năng và doanh nghiệp có biện pháp khắc phục kịp thời, bịt kín những sơ hở, thiếu sót không để tội phạm kinh tế lợi dụng hoạt động. Các đơn vị CSĐT tội
phạm kinh tế cần chú ý tăng cường mối quan hệ phối hợp chặt chẽ giữa giai đoạn điều tra trinh sát và điều tra tố tụng trong quá trình điều tra từng vụ án, tránh oan
sai nhưng không để lọt tội phạm. Trong đấu tranh chuyên án phải chủ yếu áp dụng biện pháp trinh sát bí mật. Khi đã khởi tố vụ án, phải hết sức chú ý và bàn
kỹ với Viện kiểm sát khi quyết định các biện pháp ngăn chặn, thu giữ tài sản... Với những vụ án có yếu tố nước ngoài, đảm bảo yêu cầu đấu tranh chống tội
phạm kiên quyết, triệt để, nhưng không ảnh hưởng đến môi trường đầu tư.
Thực tế qua công tác kiểm tra tại hầu hết PC15 và các Đội CSĐT tội phạm kinh tế Công an các địa phương trong những năm qua có thể nói đại đa số bộ
phận cán bộ, chiến sỹ bước đầu đã có những nhận thức cơ bản về tầm quan trọng của công tác nghiệp vụ cơ bản và chế độ hồ sơ nghiệp vụ. Tuy nhiên, bên cạnh
đó do có tư tưởng khoán xây dựng đăng ký hồ sơ, khoán xây dựng nhân viên mạng lưới bí mật và việc lấy chỉ tiêu đăng ký hồ sơ nghiệp vụ, xây dựng nhân
viên mạng lưới bí mật làm tiêu chí phân loại thi đua cuối năm... Trong khi đó công tác kiểm tra, hướng dẫn, đôn đốc việc thực hiện không được thực hiện
thường xuyên, liên tục đã làm cho một bộ phận không nhỏ CBCS có tư tưởng chạy theo chỉ tiêu, hình thức dẫn đến chất lượng công tác nghiệp vụ cơ bản, chất
lượng công tác hồ sơ còn kém và không có hiệu quả, không đạt được mục đích của việc thực hiện các Chỉ thị 05, 10 và các Quyết định của Bộ trưởng về công
tác nghiệp vụ cũng như công tác hồ sơ. Có thể thấy càng đi sâu xuống các cấp cơ sở thì chất lượng công tác nghiệp vụ, công tác hồ sơ nghiệp vụ Cảnh sát càng
kém hiệu quả. Việc thu thập tài liệu bổ sung hồ sơ NV chưa được thường xuyên đặc biệt là hồ sơ ĐB, SN, ST. Việc phân loại đối tượng sưu tra còn yếu, chưa
đúng với danh mục, hệ loại, không có tài liệu làm cơ sở cho công tác phân loại dẫn đến hiệu quả chưa cao trình tự lập hồ sơ, các tài liệu trong hồ sơ phục vụ
công tác phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm còn yếu và thiếu như các kế hoạch phòng ngừa tội phạm trong các cơ quan, doanh nghiệp, việc xác định các
17
bộ phận thiết yếu cơ mật cần phải thực hiện các công tác nghiệp vụ, các thống kê, xắp xếp tài liệu trong hồ sơ. Công tác xây dựng nhân viên mạng lưới bí mật
nhất là tại các Đội Cảnh sát kinh tế các quận, huyện còn ít, thiếu về số lượng, yếu về chất lượng, đặc tình loại 2, loại 3 và đặc tình trại giam còn ít. Chưa xây
dựng được đặc tình là người nước ngoài, đặc tình ngoại biên, đặc biệt là xây dựng MLBM tại doanh nghiệp ngoài quốc doanh và doanh nghiệp 100 vốn đầu
tư nước ngoài nhiều hồ sơ báo cáo tin của nhân viên mạng lưới cơ sở bí mật lãnh đạo các đơn vị chỉ ký mà không bút phê thể hiện sự chỉ đạo đối với trinh sát và
cơ sở.
- Biện pháp ngoại giao: Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, biện pháp ngoại giao trong phòng ngừa tội phạm kinh tế có ý nghĩa rất quan trọng, bởi vì
công tác phòng ngừa tội phạm kinh tế phải được sự hỗ trợ đắc lực của công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước được thể hiện bằng sự phối hợp có hiệu quả giữa lực
lượng Cảnh sát ĐTTP kinh tế với các bộ, ngành liên quan, trong đó có các lực lượng chức năng trong ngành Công an. Trong quá trình xử lý tội phạm kinh tế có
yếu tố nước ngoài, chúng ta không chỉ dựa trên những quy định của pháp luật Việt Nam mà còn phải dựa vào pháp luật và thông lệ quốc tế, dựa vào đường lối và các
quan điểm đối ngoại của Đảng và Nhà nước cũng như các hiệp định, nghị định tương trợ tư pháp mà Nhà nước Việt Nam đã ký kết với các quốc gia để vận dụng
cho phù hợp. Tăng cường hợp tác quốc tế, nhất là với tổ chức Cảnh sát Interpol, Aseanapol và Cảnh sát các quốc gia trong trao đổi, xác minh thông tin, truy bắt tội
phạm, đào tạo cán bộ, tập huấn, trao đổi kinh nghiệm tổ chức phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm.
- Biện pháp kinh tế: Đối với các vụ án kinh tế hiệu quả nhất vẫn là thu hồi tối đa số tài sản bị thất thoát và xử lý các hành vi vi phạm bằng hình sự, kinh tế, hành
chính theo quy định của pháp luật. Thực tế cho thấy, trong nhiều vụ, việc vi phạm và tội phạm về kinh tế đã được lực lượng CSĐT tội phạm kinh tế tham mưu cho lãnh
đạo các cấp xử lý bằng biện pháp hành chính, kinh tế, truy thu tài sản thất thoát, xử lý các đối tượng vi phạm bằng nhiều biện pháp như xử lý hành chính kết hợp với xử
phạt kinh tế và xử lý hình sự. Do vậy, biện pháp này cần được tiếp tục phát huy trong thời gian tới. Về biện pháp kinh tế, cần chú ý công tác công an là phải tạo ra
những điều kiện cần thiết để bảo vệ tài sản của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, tạo mọi điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp phát triển sản xuất, kinh doanh, qua
đó nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội phạm.
- Về biện pháp khoa học - kỹ thuật: Lực lượng CSĐT tội phạm kinh tế cần phối hợp với các đơn vị để vận dụng đồng bộ, tổng hợp các biện pháp của ngành
Công an. Đồng thời, tiếp tục trang bị phương tiện kỹ thuật hiện đại, khắc phục tình trạng lạc hậu, xuống cấp phục vụ đắc lực cho công tác phòng ngừa, đấu
tranh chống tội phạm kinh tế.
18
3.2.2. Đổi mới công tác tổ chức và chỉ huy hoạt động nghiệp vụ trong hoạt động điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế.
Lãnh đạo các đơn vị CSĐT tội phạm kinh tế cần chủ động nâng cao nhận thức, đổi mới công tác chỉ huy, chỉ đạo các biện pháp nghiệp vụ trong
phòng ngừa, phát hiện và đấu tranh chống các loại tội phạm kinh tế, tránh trùng dẫm, sót lọt, tránh oan sai. Muốn vậy, mỗi đồng chí lãnh đạo các đơn vị
CSĐT tội phạm kinh tế phải chủ động nghiên cứu các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, hệ thống các
văn bản pháp luật trong nước và quốc tế để thống nhất trong nhận thức và công tác chỉ đạo.
Về mô hình tổ chức của lực lượng CSĐT tội phạm kinh tế mặc dù đã được sửa đổi, sắp xếp nhiều lần nhưng vẫn còn nhiều điểm chưa thống nhất từ trung
ương đến địa phương. Bên cạnh đó, việc bố trí trinh sát làm công tác chuyên sâu phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm của lực lượng CSĐT tội phạm kinh tế,
nhất là ở cấp quận, huyện cũng cần phải được xem xét đánh giá nghiêm túc, rút ra những bài học kinh nghiệm về mô hình tổ chức và công tác bố trí cán bộ. Để
khắc phục tình trạng trên, lãnh đạo lực lượng CSĐT tội phạm kinh tế các cấp phải nghiên cứu bố trí cán bộ trinh sát chuyên sâu theo ngành nghề đã được đào tạo,
mặt khác công tác luân chuyển cán bộ cũng phải được thực hiện hợp lý, thường xuyên, tránh bố trí cán bộ ở lâu trong một lĩnh vực, một tuyến, một địa bàn dễ
dẫn đến bị vô hiệu hoá trong hoạt động phòng ngừa, phát hiện và đấu tranh với các loại tội phạm kinh tế.
Trong thời gian tới, Cục CSĐT tội phạm kinh tế cần tiếp tục chủ động phối hợp với Khoa nghiệp vụ Cảnh sát kinh tế, Học viện Cảnh sát nhân dân, trường Đại
học Cảnh sát nhân dân và các trường Trung học Cảnh sát nhân dân xây dựng nội dung bài giảng, giáo trình chuyên sâu về công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm
kinh tế trong tình hình mới để đào tạo và đào tạo lại nghiệp vụ hoạt động phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm, trong đó chú ý đào tạo chuyên sâu về quản lý kinh tế, tài
chính, kế toán, thống kê, ngoại ngữ, tin học Trang bị kiến thức về hội nhập kinh tế quốc tế cho cán bộ chiến sĩ lực lượng CSĐT tội phạm kinh tế thấm nhuần mục
đích, yêu cầu và những nội dung cụ thể, từ đó xác định vai trò, vị trí và nhiệm vụ chính trị trong quá trình hội nhập. Lãnh đạo các đơn vị phải có kế hoạch bố trí thời
gian phù hợp tạo điều kiện thuận lợi cho trinh sát, điều tra viên học thêm ngoại ngữ, vi tính, nghiên cứu tìm hiểu thông lệ và luật pháp quốc tế hoặc được ra nước ngoài
nghiên cứu, học tập trao đổi kinh nghiệm phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm kinh tế của các nước để nâng cao nhận thức và áp dụng vào thực tiễn của Việt Nam. Tăng
cường trang bị phương tiện cho lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm kinh tế theo hướng chuyên sâu, từng bước hiện đại hoá đáp ứng yêu cầu phòng ngừa, đấu tranh
chống tội phạm trong tình hình mới.
19
3.2.3. Tăng cường hợp tác quốc tế trong đấu tranh chống tội phạm Hợp tác quốc tế trong phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm kinh tế chỉ có
thể thực hiện có hiệu quả khi chúng ta làm tốt các nội dung sau: Hội nhập và toàn cầu hoá tạo điều kiện cho chúng ta tiếp xúc, nghiên cứu,
học tập và vận dụng các thành tựu, kinh nghiệm, kỹ thuật, tận dụng các nguồn vốn đầu tư của các nước để phát triển kinh tế. Chúng ta có thể mở rộng tầm kiểm soát
tình hình và phối hợp phòng ngừa, ngăn chặn hoạt động của tội phạm kinh tế. Với việc gia nhập các tổ chức Interpol, Aseanapol và ký hiệp định tương trợ tư pháp
với nhiều nước, chúng ta nhận được sự hợp tác, hỗ trợ trao đổi học hỏi kinh nghiệm của lực lượng Cảnh sát các nước trong công tác đấu tranh với các tổ chức
tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm khủng bố, rửa tiền và các loại tội phạm kinh tế khác. Mở rộng hợp tác quốc tế với nhiều hình thức, nội dung phong phú, trong đó
phải chú ý có lộ trình phù hợp, thực hiện nguyên tắc vừa hợp tác vừa đấu tranh. Nâng cao nhận thức của cán bộ chiến sĩ lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm kinh
tế về hội nhập kinh tế quốc tế để nắm bắt kịp thời tình hình, phương thức, thủ đoạn hoạt động phạm tội mới trong từng giai đoạn và các lĩnh vực kinh tế khác nhau.
Tổ chức thực hiện có hiệu quả các điều ước quốc tế đa phương, song phương, các hiệp định, nghị định tương trợ tư pháp hình sự, các văn bản pháp quy
đã ký kết về hợp tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm giữa Việt Nam với các quốc gia. Tham mưu cho lãnh đạo các cấp rà soát các hiệp định, nghị định tương
trợ tư pháp hình sự, đề xuất sửa đổi, bổ sung điều chỉnh hoạt động hợp tác quốc tế trong phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm cho phù hợp với tình hình hiện nay.
Đồng thời, xây dựng và hoàn thiện cơ sở pháp lý liên quan đến hợp tác quốc tế trong phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm nói chung, tội phạm kinh tế nói riêng.
Bên cạnh đó, phải chủ động phối hợp với các đơn vị liên quan tham mưu cho Tổng cục Cảnh sát xây dựng và hoàn thiện quy trình tiếp nhận, xử lý thông tin tội
phạm, quy trình công tác liên quan đến hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung, tội phạm kinh tế nói riêng là một yêu cầu quan trọng
trong tình hình hội nhập quốc tế hiện nay. Tham gia xây dựng các chính sách, quy trình, quy chế hoạt động của các doanh nhân nước ngoài trong các hoạt động
thương mại, đầu tư, dịch vụ nhằm loại bỏ được các doanh nghiệp xấu, lừa đảo từ nước ngoài vào cũng như hạn chế các hành vi vi phạm pháp luật của các doanh
nghiệp nước ngoài.
Tăng cường giao lưu, trao đổi kinh nghiệm công tác nghiệp vụ Công an và công tác bảo vệ kinh tế của một số nước đã trải qua giai đoạn đầu của hội nhập
kinh tế quốc tế hoặc có hoàn cảnh kinh tế tương tự như nước ta đã vào WTO để học tập những kinh nghiệm quý báu, tránh những bỡ ngỡ ban đầu, thích ứng nhanh
với quá trình hội nhập.
KẾT LUẬN
20
Tính đa dạng, phức tạp về thành phần đối tượng và phạm vi của các vụ án kinh tế ngày càng phổ biến. Rất nhiều vụ án có liên quan đến nhiều địa phương,
nhiều cơ quan với nhiều thành phần tham gia, phạm nhiều tội khác nhau. Tội phạm trong lĩnh vực công nghệ cao cũng như việc sử dụng công nghệ cao chủ
yếu là công nghệ thông tin để phạm tội và che dấu tội phạm phát triển nhanh và gây những hậu quả nghiêm trọng, trong khi đó kiến thức và kinh nghiệm của
chúng ta về vấn đề này còn rất hạn chế. Tội phạm có tổ chức, tội phạm có tính quốc tế và tội phạm là người nước ngoài vào Việt Nam hoạt động đang xuất hiện
ngày càng nhiều, nhất là khi Việt Nam đã là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới. Xuất hiện các doanh nghiệp “ảo” ở nước ngoài là đối tác để một số
doanh nghiệp trong nước thực hiện các hoạt động phạm tội như lừa đảo, trốn thuế... Không loại trừ một số cơn sốt giá một số mặt hàng trong thời gian qua có
bàn tay của các tổ chức phạm tội quốc tế. Tội phạm rửa tiền đã xuất hiện ở Việt Nam song công tác phát hiện, điều tra còn rất hạn chế.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu đặc điểm hoạt động điều tra các tội phạm về về trật tự quản lý kinh tế có ý nghĩa to lớn trong tình hình hiện nay. Qua đó có
những giải pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả công tác này, và cũng chính là cơ sở để hồn thiện hệ thống lý luận về điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế nói
riêng và lý luận điều tra tội phạm nói chung.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
21
1. Bợ luật hình sự nước CHXHCN Việt Nam 1999. 2. Bộ luật tố tụng hình sự nước CHXHCN Việt Nam 2003.
3. Giáo trình: Luật hình sự Việt Nam HV CSND 2002. 4. Giáo trình: Phương pháp điều tra hình sự hệ Cao học – Trường
ĐHCSND 2008. 5. Tài liệu tập huấn nghiệp vụ CSĐT TPKT – năm 2007; 2008.
22

Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (22 trang)

×