1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >

Phân đoạn thị trường, xác định thị trường mục tiêu Xác định sản phẩm của dự án

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (361.49 KB, 61 trang )


II. Nghiên cứu thị trường về sản phẩm của dự án 2.1. Phân tích đánh giá thị trường tổng thể
Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, nhu cầu tiêu dùng của người dân cả nước nói chung và của người dân thủ đơ Hà Nội nói riêng ngày càng tăng cao, trong
số đó nhu cầu lương thực thực phẩm nhất là thực phẩm chứa hàm lượng chất đạm cao như thịt lợn cũng gia tăng. Qua khảo sát 1000 hộ gia đình Hà Nội về lượng tiêu
thụ thịt lợn hàng tuần kết quả là trong 1000 hộ có 800 hộ tiêu dùng thịt lợn thường xuyên và liên tục trong các bữa ăn. Mỗi tuần lượng thịt lợn tiêu thụ trong nội thành
Hà Nội là 1,2 tấn. Như vậy cầu về thịt lợn khu vực nội thành Hà Nội là rất lớn, đây là thị trường tiềm năng và vẫn còn chỗ trống cho doanh nghiệp gia nhập.

2.2. Phân đoạn thị trường, xác định thị trường mục tiêu


Thị trường mục tiêu là địa bàn Hà Nội

2.3. Xác định sản phẩm của dự án


Sản phẩm của dự án phân ra làm 2 dòng chính: sản phẩm thịt lợn tuơi sống và chế biến sẵn đóng hộp.
• Sản phẩm thịt lợn tươi sống: thịt nạc, xương, mỡ, phủ tạng…
• Sản phẩm chế biến sẵn đóng hộp: pa-tê, giăm bong, xúc xích…
2.4. Dự báo cung cầu thị trường về sản phẩm của dự án trong tương lai a. Dự báo nhu cầu thị trường về sản phẩm
Nhu cầu tiêu dung của thị trường nội địa Sử dụng phương pháp phân tích thống kê để dự báo nhu cầu thị trường sản phẩm:
Song song với tăng trưởng kinh tế và thu nhập bình qn, lượng thịt nói chung tiêu thụ bình quân đầu người không ngừng tăng lên. Theo thống kê, lượng thịt tiêu thụ
bình quân trên đầu người cả nước năm 2006 là 17,6kg lợn hơi tương đương 12kg thịt xẻ, năm 2007 con số này là 19,7 kg lợn hơi tương đương 13,4 kg lợn xẻ.
Ở các thành phố lớn mức tiêu thụ bình qn còn lớn hơn nhiều. Tại Hà Nội, năm 2006 đã tiêu thụ 70.000 tấn lợn hơi tương đương 47.600 tấn thịt xẻ, và tương
ứng 130 tấn ngày . Theo quy hoạch tổng thể kinh tế-xã hội Thủ đô Hà Nội đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính Phủ phê duyệt, dự báo dân số Hà Nội đến năm 2010
là 3,2 triệu người, cộng với lượng khách du lịch trong nước và nước ngồi khoảng 1 triệu lượt ngườinăm thì nhu cầu thịt lợn sẽ còn lớn hơn nhiều.
7
Bảng 1.1. Dự tính nhu cầu thịt lợn của Hà Nội đến năm 2010
Năm Nhu cầu tấn lợn
hơi Bình
quân kgngườinăm
Tỷ lệ tăng bình quân
2000 75.000
17,612 kg thịt xẻ 2002
91.250 2215kg thịt xẻ
7,25 năm 2005
107.000 25,517,3kg thịt
2010 143.000
3423kg thịt xẻ Nguồn: Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn- chương trình phát triển giống
lợn năm 2000-2010
Bảng 1.2. Dự báo khả năng đáp ứng của ngành chăn nuôi Hà Nội
Năm 2000
2005 2010
Tổng đàn lợn con
315.000 370.000
450.000
Sản lượng thịt hơi tấn
30.000 45.000
65.000 Nguồn: Sở nơng nghiệp và phát triển nơng thơn- chương trình phát triển giống
lợn năm 2000-2010 Số liệu từ bang 1 và 2 cho thấy, với tốc độ đàn lợn tăng 4-5 năm và mức
tăng sản lượng thịt hơi 7-8năm thì con số thiếu hụt phải nhập từ các vụng phụ cận là rất lớn.
Bảng 1.3. Nhu cầu thiếu hụt cần bổ sung cho Hà Nội.
Năm 2000
2005 2010
Tổng đàn lợn con
421.000 570.000
821.000 Sản lượng thịt hơi
tấn 40.000
55.000 78.000
b. Dự báo nhu cầu cung sản phẩm Phương pháp dùng để xác định nhu cầu cung sản phẩm dự án là phương pháp ngoại
suy thống kê:
8
Xuất khẩu thịt lợn của Việt Nam: Nước nhập khẩu
Năm 2004 Nga
15.000 Hồng Kông
12.000 Trung Quốc+Lào
5.000 Malayxia
2.000 Cộng
34.000 Nguồn: Vietnam Economic Times số 56 ngày 1052001
Nhu cầu nhập khẩu thịt lợn năm 2006 cuả một số nước: Nga:
603.000 tấn Nhật Bản:
1.070.000 tấn Hồng Kông:
280.000 tấn Các đơn vị tham gia xuất khẩu chính: Hợp tác xã lien minh trang trại chăn
nuôi lợn siêu nạc, Công ty giống lợn miền Bắc, Vissan, xí nghiệp chăn ni heo Đồng Hiệp.
Mục tiêu xuất khẩu lợn Việt Nam đến năm 2010: Năm
Tấn thịt thành phẩm 2002
42.000 2005
80.000 2010
170.000 Khái quát về hoạt động giết mổ ở Hà Nội
Hiện nay trên địa bàn Hà Nội có một số lò mỏ lợn tập trung: •
Lò mổ ở đường Tam Trinh quận Hai Bà Trưng •
Lò mổ Đền Lừ quận Hai Bà Trưng •
Lò mổ Lương n quận Hai Ba Trưng •
Lò mổ Khương Đình Thanh Xn •
Lò mổ Thịnh Liệt Thanh Trì •
Lò mổ Phùng Khoang Từ Liêm •
Lò mổ Tứ Liên Tây Hồ Trong số các cơ sở trên, chi duy nhất cơ sở Lương Yên thuộc công ty thực phẩm Hà
Nội mới được lắp đặt dây chuyền giết mở mới và theo quy trình cơng nghiệp hồn tồn. Cơng suất giết mổ 50 congiờ. Các lò mổ Tứ Liên, Phùng Khoang cũng mới
được nâng cấp, công suất khoảng 1.300 conngày.
Ngồi ra còn tồn tại khoảng 30 lò mổ tự do với quy mô nhỏ trong nội thành và vùng phụ cận.
9
Điều bức xúc nhất mà các lò mổ gây ra là ô nhiễm chất thải, tiếng ồn và khơng an tồn về thú y. Ngay cả đối với 3 lò mổ tập trung có sự quản lý của các cơ
quan chức năng , chi cục thú y Hà Nội cũng chỉ kiểm tra được 90 số lợn giết mổ, chiếm trên 50 lượng thịt bán ra trên tồn thành phố. Các lò mổ đều hoạt động q
cơng suất, khơng có quy hoạch riêng từng khu khu cách ly gia súc ốm,khu nhốt gia súc chờ giết mổ, phương thức hoạt động mua bán, giết mổ diễn ra trên cùng một
diện tích gây mất vệ sinh, chưa có hệ thống xử lý nước thải phù hợp, vị trí lò mổ q gần khu dân cư và 100 gia súc đưa vào giết mổ khơng có giấy kiểm dịch.
Thực hiện chỉ đạo của UBND thành phố Hà Nội và nhằm phấn đấu đáp ứng tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, trên địa bàn Hà Nội cũng mới chỉ có Cơng ty
thực phẩm Hà Nội lắp đặt xong dây chuyền giết mổ hiện đại của Đan Mạch và Đức, cơng suất 50 đầu lợngiờ.
Có thể nói rằng thị trường đáp ứng được tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn Hà Nội hiện nay còn rất thiếu, trong khi nhu cầu về thịt sạch lại rất lớn
và ngày càng gia tăng.

2.5. Các vấn đề tiếp thị sản phẩm


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (61 trang)

×