1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >

Các vấn đề tiếp thị sản phẩm

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (361.49 KB, 61 trang )


Điều bức xúc nhất mà các lò mổ gây ra là ô nhiễm chất thải, tiếng ồn và không an toàn về thú y. Ngay cả đối với 3 lò mổ tập trung có sự quản lý của các cơ
quan chức năng , chi cục thú y Hà Nội cũng chỉ kiểm tra được 90 số lợn giết mổ, chiếm trên 50 lượng thịt bán ra trên toàn thành phố. Các lò mổ đều hoạt động q
cơng suất, khơng có quy hoạch riêng từng khu khu cách ly gia súc ốm,khu nhốt gia súc chờ giết mổ, phương thức hoạt động mua bán, giết mổ diễn ra trên cùng một
diện tích gây mất vệ sinh, chưa có hệ thống xử lý nước thải phù hợp, vị trí lò mổ quá gần khu dân cư và 100 gia súc đưa vào giết mổ khơng có giấy kiểm dịch.
Thực hiện chỉ đạo của UBND thành phố Hà Nội và nhằm phấn đấu đáp ứng tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, trên địa bàn Hà Nội cũng mới chỉ có Cơng ty
thực phẩm Hà Nội lắp đặt xong dây chuyền giết mổ hiện đại của Đan Mạch và Đức, cơng suất 50 đầu lợngiờ.
Có thể nói rằng thị trường đáp ứng được tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn Hà Nội hiện nay còn rất thiếu, trong khi nhu cầu về thịt sạch lại rất lớn
và ngày càng gia tăng.

2.5. Các vấn đề tiếp thị sản phẩm


Sản phẩm dự kiến được đến với đông đảo người tiêu dung ban đầu thong qua quảng cáo trên phương tiện truyền thong như đăng báo Người Tiêu Dùng, Tiêu dung
và tiếp thị, báo Mua Sắm, báo Lao Động… và quảng cáo trên đài tiếng nói Việt Nam. Ngoài phương pháp quảng cáo truyền thống trên, chủ đầu tư còn tiếp thị đến từng
chợ đầu mối và các siêu thị trong nội thành Hà Nội. Phương Pháp tiếp thị giới thiệu trực tiếp đảm bảo chắc chắn nhất là thong tin về sản phẩm đã đến được với người
tiêu dung vì nhân viên tiếp thị trực tiếp đến từng siêu thị và chợ đầu mối làm việc và thu thập ý kiến của họ.
Chủ đầu tư còn xây dựng hệ thống đại lý chuyên phân phối các sản phẩm của dự án. Có thể nói mơ hình đại lý tiêu thụ sản phẩm này còn khá mới mẻ trên thị
trường vì các đại lý đang hoạt động hiện nay chủ yếu bán sản phẩm hang gia dụng hoặc các nhu yếu phẩm hang ngày. Chủ đầu tư tin vào phương pháp tiếp thị sản phẩm
độc đáo này sản phẩm của dự án sẽ nhanh chóng có được chỗ đứng trên thị trường.
2.6. Khả năng cạnh tranh và chiếm lĩnh thị trường Khảo sát thị trường sản phẩm
Phương thức giết mổ và phân phối Theo phương thức giết mổ truyền thống, lợn sống đưa thẳng từ vùng chăn
nuôi xung quanh thành phố vào nội thành trên các phương tiện thơ sơ và giết mổ thủ cơng với chi phí nhỏ thuê mặt bằng rồi đưa ngay ra chợ để bán mà khơng có qua chu
trình chống lây nhiễm vi khuẩn hay bảo quản hợp vệ sinh. Lợn được đưa về với số lượng lẻ tẻ tuỳ thuộc vào khả năng của người buôn và nhu cầu tại chỗ. Kiểu chế biến
giết mổ này có ưu điểm tiết kiệm tối đa chi phi giết mổ, nhưng rất nguy hại cho ngưòi
10
tiêu dung nếu nảy sinh dịch bệnh. Mặt khác, khơng thể xác định được nguyên nhân gây ra dịch bệnh vì khơng có quy trình lien tục giám sát từ đầu nguồn.
Về mặt kinh tế, giá cả do ngưòi bán buôn đưa ra tuỳ tiện và thay đổi theo mức cung - cầu thị trường từng ngày mà khơng có sự kiểm sốt chung. Do đó, dẫn tới
những thiệt hại khơng đáng có cho người tiêu dung khi có biến động của thị truờng.
Một số mơ hình chăn ni giết mổ và tiêu thụ thịt mảnh tại miền Bắc Hợp tác xã Liên Minh các trang trại chăn nuôi lợn siêu nạc:
Đây là mơ hình hợp tác kinh tế mới giữa các trang trại tư nhân ở 14 tỉnh miền Bắc bao gồm 140 trang trại nuôi 7.500 đầu lợn nái. Hàng năm, xuất khẩu 60 sản
lượng sang thị trường Hồng Kông, hầu hết là thịt lợn choai mảnh đông lạnh… Giá trị xuất khẩu tương đương 3 triệu đô la Mỹ và đạt lợi nhuận ròng 2 doanh thu.
Mơ hình này là mơ hình kinh tế tự nhiên xây dựng trên cơ sở nhu cầu của thị truờng xuất khẩu. Mặc dù là tự phát theo hướng thị trưòng, nhưng được đánh giá là
một mẫu mới có triển vọng vì đã tiếp cận được khách hang nước ngồi tương đối khó tính và mang lại thu nhập cho nơng dân. Hiện tại, Liên minh này cũng đang có dự án
xây dựng nhà máy giết mổ lợn choai để đáp ứng nhu cầu tự có về sơ chế thịt mảnh vì vẫn đang phải đi thuê các đơn vị ở Thái Bình và Hải Phòng để giết mổ trước khi xuất
khẩu.
Như vậy, đây là một ví dụ cho việc tạo ra các mối quan hệ hợp tác giữa nông hộ dựa trên thuần tuý yếu tố kinh tế chưa có sự tác đơng của các cấp quản lý. Nghiên
cứu sự vận hành và hiệu quả của hệ thống này làm cơ sở cho việc tạo ra bền vững các quan hệ hợp tác quản lý với nông hộ, trang trại chăn nuôi là cần thiết cho sự thành
công của việc xây dựng vùng nguyên liệu của Dự Án này.
CP Group:
CP Group là một cơng ty có quốc tịch Thái Lan đã đầu tư một nhà máy thức ăn gia súc tại tỉnh Bình Dương và tổ chức một mạng lưới chăn nuôi rộng khắp. Để đẩy
mạnh tiêu thụ sản phẩm của nhà máy, CP đã tổ chức mở rộng đầu tư vào thị trường chăn ni, trong đó có cả nuôi lợn tại các tỉnh trong cả nước.
Với phương thức tổ chức đội ngũ bác sĩ thú y chăm sóc cho từng nhóm nơng hộ đã ký hợp đồng chăn nuôi với CP. Gần như tỷ lệ hao hụt đầu vào so với đầu ra của
các hộ chăn nuôi là không đáng kể trên 99 đầu lợn thu về so với 100 lợn sữa giao cho nông hộ. Toàn bộ thức ăn, thuốc thú y cho lợn do CP cung cấp. Nơng dân chỉ
phí cơng chăm sóc và chuồng trại với mức thu nhập 50.000 đồngđầu lợn và bình quân đầu lợn hộ thì tổng thu nhập của mỗi hộ trong vòng 4 tháng đạt 5 triệu đồng.
Sản phẩm lợn thịt mảnh sau khi chế biến giết mổ được xuất khẩu sang Thái Lan là chủ yếu. Các phụ phẩm long, da, long, tiết… tiêu thụ nội địa và làm nguyên
liệu chế biến thức ăn gia súc.
11
Có thể thấy đây là một điển hình về chăn ni và giết mổ an toàn vệ sinh thịt lợn đáng nghiên cứu để tổ chức cho vùng nguyên liệu và thị trường tiêu thụ của dự
án.
Các sản phẩm chế biến Phương thức chế biến và phân phối
Trên thị truờng các sản phẩm chế biến, sự xuất hiện các nhà sản xuất tại khâu chế biến kèm theo việc gắn các nhãn mác và đăng ký thương hiệu sản phẩm cùng với
việc tiếp thị thương hiệu có làm cho việc truy nguyên nguồn gốc các sản phẩm trở nên có căn cứ pháp lý. Tuy nhiên mức độ kiểm soát và đăng ký thương hiệu có khác
nhau giữa 2 chủng loại cao cấp và truyền thống.
Các sản phẩm cao cấp gần như do các nhà máy và các cơng ty có uy tín như Vissan, Hạ Long, Đức Việt.. tập trung tiếp thị. Điều đó làm cho quá trinh truy
nguyên nguồn gốc thực phẩm trở nên thuận tiện và có căn cứ hơn. Mặc dù vẫn còn một tỷ lệ nhỏ nguyên liệu chế biến được mua từ các lò mổ thủ cơng hoặc khơng xác
định nguồn gốc. Nhưng nói chung vệ sinh an toàn của các sản phẩm này được “đảm bảo” bởi các nhà sản xuất có trách nhiệm về an tồn sản phẩm của mình với khách
hang.
Đối với các sản phẩm truyền thống, nhà sản xuất là các hộ thủ cơng cá thể là chính, chưa có nhãn hiệu hang hoá và phân tán nhiều nơi. Họ chú trọng vào tiếp thị
trên giá thành và một phần nhờ vào hương vị của sản phẩm do gia tăng một số phụ gia khơng được kiểm sốt chặt chẽ. Điều này dẫn tới việc thực hiện các điều kiện vệ
sinh an tồn thực phẩm ở đây khơng được chú trọng đầy đủ và khả năng gây ngộ độc là rất dễ xảy ra.
Muốn làm được việc kiểm soát an toàn thực phẩm ở khâu chế biến các sản phẩm truyền thống, nỗ lực của nhà sản xuất là sẽ tạo ra một số sản phẩm phù hợp với
“gu” thưởng thức của người tiêu dung với giá cả hợp lý nhất đử sức cạnh tranh trên thương trường. Tuy nhiên sẽ là chưa đủ nếu khơng có sự quản lý giám sát chặt chẽ
của các cơ quan quản lý.
Mơ hình sản xuất kinh doanh SP chế biến từ thịt lợn của Vissan:
Công ty Vissan hay công ty Việt Nam kỹ nghệ Súc sản là một đơn vị có bề dàt hoạt động trong lĩnh vực chế biến các sản phẩm từ thịt nói chung và thịt heo nói riêng tại
Việt Nam. Tuy không phải là một nhà máy chế biến ngay từ khi thành lập, nhưng có lợi thế về nhiều mặt , mà quan trọng nhất là uy tín công nghệ, đặt tại trung tâm kinh
tế tiêu dung của cả nước và gần như độc chiếm trên thị trường nên Vissan đã có mặt trên thị trường miền Bắc từ khá lâu 1995. Qua 7 năm kinh doanh tại phía Bắc,
Vissan đã thiết lập được mạng lưới tiêu thụ rộng khắp các tỉnh thành gồm khoảng 40 khách hang kể cả các đại lý và các khách hang tập thể. Doanh số và sản lượng của
Vissan tại phía Bắc co xu hướng tăng nhanh trong 3 năm gần đây. Tuy do các tháng
12
đầu năm 2002 doanh thu có giảm nhưng cho thấy phần giảm này phụ thuộc vào tỷ lệ giữa SP cao cấp và truyền thống. Trong đó có thể thấy các SP cao cấp chiếm khoảng
80 doanh thu và sản lượng hang năm. Điều đó chứng tỏ Vissan đã chiếm lĩnh được và tập trung cho thị trường cao cấp. Mặt khác điều này cũng chỉ cho thấy muốn đạt
được hiệu quả kinh tế cao của dự án, thì việc đầu tư cho các hạng mục các sản phẩm cao cấp và truyền thống là không thể bỏ qua.
Sự có mặt của các đối thủ cạnh tranh với nhiều phương thức giết mổ và kinh doanh lợn thịt khác nhau, từ mơ hình giết mổ truyền thống tới mơ hình giết mổ tập trung, có
những đối thủ chỉ là một số lò mổ địa phương mang tính chất làm ăn nhỏ lẻ cho tới đối thủ đã có vị thế trên thị trường như Vissan, những yếu tố trên đòi hỏi chủ đầu tư
phải có một chiến lược kinh doanh riêng biệt, độc đáo mới có khả năng thu hút khách hang và có chỗ đứng trên thương trường.
Do yêu cầu về mặt nguồn gốc xuất xứ của lợn nuôi cung cấp cho dự án phải đạt tiêu chuẩn vệ sinh và chất lượng đảm bảo nên giá thành đầu vào của dự án không
thể thấp hơn giá đầu vào của các lò mổ hoặc các công ty chế biến thực phẩm khác. Nhưng do quy mô giết mổ rộng lớn và công suất dây chuyền giết mổ tự động ở thời
kỳ phát huy hết công suất rất cao nên có thể tiết kiệm được rất nhiều chi phí - điều mà các lò mổ khác khơng thể làm được. Do đó, giá thành của sản phẩm cũng không
bị đội lên quá cao.
Chiến lược cạnh tranh sản phẩm của dự án là về sự độc đáo và chất lượng sản phẩm. Thịt lợn đảm bảo vệ sinh ngay từ đầu vào và thực hiện giết mổ đảm bảo vệ
sinh trong tất cả các khâu giết mổ tự động nên người tiêu dung hoàn toàn yên tâm về mức độ an toàn vệ sinh. Những sản phẩm đồ hộp chế biến sẵn có hương vị khác biệt
với sản phẩm khác đang có mặt trên thị trường nên khơng khó khăn trong việc tạo chỗ đứng. Qua thử nghiệm cho 100 người dung thử sản phẩm pa-tê thì 80 nhận ra
sự khác biệt trong hương vị và khen ngon. Mặt khác, chiến lược cạnh tranh bằng hệ thống đại lý cũng là điểm mạnh của dự án. Sau đây là chính sách với đại lý các cấp.
Các điều kiện chung để làm đại lý
Điều kiện bắt buộc •
Có cửa hang ở vị trí thuận lợi cho bán hang thực phẩm gần khu dân cư, khu vực trong hoặc xung quanh chợ đuợc phép kinh doanh, gần đường giao
thong….
• Có vốn lưu động từ 30 triệu trở lên.
• Đủ các hồ sơ chứng minh tư cách hợp pháp để đăng ký kinh doanh
Điều kiện được ưu tiên: •
Có kinh nghiệm kinh doanh hang thực phẩm. •
Có đội ngũ bán hang thành thạo trong các giao dịch và tiếp thị khách hang tại khu vực uỷ thác.
13
• Nhiệt tình đóng góp vào thành cơng chung và có thái độ hợp tác kinh doanh.
Trách nhiệm và quyền lợi của đại lý:

a. Đại lý cấp 1


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (61 trang)

×