1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >

Xác định công suất của dự án

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (361.49 KB, 61 trang )


• Thời hạn hợp đồng từ 5-7 năm.
• Có thể tiêu thụ các thực phẩm sạch khác nhưng không là sản phẩm cạnh tranh
trực tiếp.

c. Đại lý cấp 3


• Sẽ phát triển khoảng 60-80 đại lý cho đến thời kỳ 3
• Giá cả, thanh tốn, đào tạo, chi phí lưu động giống như đại lý cấp 1,2.
• Tiêu thụ: 0,4-0,5 tấn thịt tươi và 0,01-0,1 tấn SP chế biếnngày.
• Chiết khấu: 3 doanh số bán hang
• Cơng ty hỗ trợ đào tạo, cung cấp một số máy móc trang thiết bị bán hang và
trang trí theo tiêu chuẩn của cơng ty, khơng có đầu tư nâng cấp tồn bộ như đại lý cấp 1,2.
• Thời hạn hợp đồng linh hoạt từ 2-5 năm.
• Trưng bày độc quyền và giành riêng ít nhất 50 diện tích của cửa hang cho
sản phẩm của công ty.
Chương II. Giải pháp kĩ thuật của dự án 2.1.Lựa chọn các hình thức đầu tư và loại hình doanh nghiệp

2.1.1. Lựa chọn hình thức đầu tư


Giết mổ gia súc và chế biến thực phẩm ăn sẵn là ngành sản xuất kinh doanh mang tính đặc thù cao, đòi hỏi phải đáp ứng được những yêu cầu khắt khe về vệ sinh
an tồn thực phẩm VSATTP. Chính vì vậy, việc lựa chọn thiết bị công nghệ là khâu vô cùng quan trọng.
Tại hội nghị bàn về công tác chế biến và xuất khẩu thịt tổ chức tháng 5 2002 tại bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn do Phó thủ tướng Nguyễn Mạnh Cầm và
Bộ Trưởng Lê Huy Ngọ chủ trì, Phó thủ tướng đã chỉ rõ: “…các cơ sở giết mổ và chế biến đầu mối, quy mơ có thể khác nhau nhưng nhất thiết phải có trang thiết bị, cơng
nghệ tiến tiến và hiện đại nhất, cho ra những sản phẩm đạt tiêu chuẩn y tế”.
Để thỏa mãn cao nhất các chỉ tiêu về VSATTP, chủ đầu tư lựa chọn hình thức đầu tư mua sắm dây chuyền giết mổ và chế biến thực phẩm mới và đồng bộ theo
công nghệ của liên minh châu Âu EU.

2.1.2. Lựa chọn loại hình doanh nghiệp


Cơng ty Đông Thành là một doanh nghiệp nhà nước trực thuộc sở nông nghiệp và phát triển nông thôn

2.2. Xác định công suất của dự án


15
Chúng ta đã biết rằng, công suất của các dây chuyền lớn hay nhỏ phụ thuộc vào các yếu tố sau đây:
+ Nhu cầu thị trường hiện tại và trong tương lai, + Các đơn vị tham gia cung ứng sản phẩm,
+ Khả năng chiếm lĩnh thị trường của sản phẩm tạo ra + Khả năng cung ứng các yếu tố đầu vào
+ Khả năng mua các thiết bị công nghệ + Năng lực tổ chức điều hành sản xuất
+ Khả năng về vốn đầu tư Dưới đây sẽ phân tích lần lượt các yếu tố trên để đưa ra một công suất phù hợp khả
thi nhất a Nhu cầu thị trường hiện tại và trong tương lai:
Nghiên cứu nhu cầu thịt lợn tươi sống của thị trường Hà Nội đến năm 2010, thấy rằng vào năm 2005, Hà nội tiêu thụ 100.000 tấn lợn hơi năm tương đương với
159.000 con lợn loại 90 kg, hay 100.000 tấn thịt móc hàm. Nếu gộp cả phần dự tính xuất khẩu, thì con số thực tế còn lớn hơn rất nhiều.
b Các đơn vị tham gia cung ứng: Trên địa bàn Hà Nội có công ty thực phẩm Hà Nội, công ty Haprosimex, Hợp
tác xã Liên Minh các trang trại chăn nuôi lợn siêu nạc và chế biến xuất khẩu là có dây chuyền giết mổ. Công suất dây chuyền giết mổ của 3 đơn vị trên dự tính như sau:
Tên đơn vị Cơngsuất
congiờ Sản lượng
tấn hơinăm Sản lượng
tấn xẻ thịtnăm Công ty TP Hà Nội
50 9.450
6.615 Haprosimex
80 15.120
10.584 HTX Liên Minh
50 9.450
6.615 Tổng cộng
180 34.020
23.814
Các giả thiết tính tốn
16
+ Tỷ trọng bình qn 90kg con + Tỷ lệ cân móc hàm 70
+ Thời gian vận hành dây chuyền 7h ca ngày + Số ngày hoạt động trong năm 300 ngày
Nếu khả năng tiêu thụ được tốt thì thời gian vận hành dây chuyền giết mổ của 3 đơn vị trên có thể tăng thêm. Tuy nhiên, việc tăng sản lượng giết mổ còn phụ thuộc vào
nhiều yếu tố khác trong đó quan trọng nhất là cung ứng yếu tố đầu vào.
b Khả năng chiếm lĩnh thị trường của sản phẩm đầu ra: Sản phẩm của nhà máy sẽ có một số lợi thế sau đây:
+ Do mức sống ngày càng được nâng cao, dẫn đến thay đổi một số tập quán tiêu dùng mà trong đó có thói quen tiêu thụ thịt tươi và các sản phẩm chế biến từ thịt lợn.
Người dân đô thị sẽ quen dần với sản phẩm đạt tiêu chuẩn VSAT TP và chắc chắn sẽ là đòi hỏi bắt buộc trong giai đoạn như hiện nay.
+ Công suất của 3 nhà máy trên mới đáp ứng được 13 nhu cầu của người dân Hà Nội. Vấn đề cạnh tranh sẽ không diễn ra giữa sản phẩm thịt lợn của các nhà máy giết
mổ với thịt lợn từ các nguồn khác vì được phân loại theo 2 khái niệm tương đối “sạch” và “không sạch”. Tuy nhiên, cạnh tranh sẽ diễn ra giữa các đơn vị cung cấp
thông qua hệ thống thiết lập hệ thống tiêu thụ và giá bán giá bán sẽ được quyết định phần lớn ở khâu cung ứng nguyên liệu đầu vào.
Với phương án tiêu thụ sản phẩm đã được xây trong phần phân tích tài chính cùng với tiến trình của các dự án khác, chắc chắn sản phẩm của dự án sẽ chiếm được thị
phần lớn và không ảnh hưởng đến kế hoạch tăng công suất của nhà máy.
c Khả năng cung ứng các yếu tố đầu vào: Sự thành công của Dự án phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố đầu vào. Trong thực tế, chưa
có một mơ hình tương tự nào hoạt động để chủ đầu tư rút kinh nghiệm. Tuy nhiên, để đảm bảo sự thành công, chủ đầu tư sẽ chú trọng vào khâu tổ chức vùng nguyên liệu
cho dự án.
d Khả năng về thiết bị công nghệ: Hiện nay, việc mua được thiết bị công nghệ hiện đại khơng còn đặt thành vấn đề. Có
thể lựa chọn thiết bị của các hãng: Intercool, FSK Đan Mạch, Normand Duran Pháp, Taesa và Cato Tây Ban Nha, Banss… Chủ đầu tư đã tham dự một số buổi
hội thảo giới thiệu thiết bị và cũng đã có những thảo luận sơ bộ về dây chuyền cơng nghệ với một số nhà sản xuất nói trên.
f Năng lực tổ chức điều hành sản xuất:
17
Điều hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh của Nhà máy, Công ty có một số thuận lợi như sau:
+ Đội ngũ cán bộ trẻ được đào tạo cơ bản, có năng lực, nhanh nhạy và khả năng nắm bắt xử lý thông tin cao.
+ Đội ngũ nhân viên có kinh nghiệm trong tổ chức vùng nguyên liệu. + Kinh nghiệm sản xuất kinh doanh thương mại sẽ giúp sản phẩm của nhà máy nhanh
chóng chiếm lĩnh thị trường. g Khả năng về nguồn vốn đầu tư:
Dự kiến nguồn vốn đầu tư sẽ được huy động từ các nguồn sau đây: + Ngân sách cấp
+ Vay Quỹ hỗ trợ phát triển + Vốn tự có
Xác định cơng suất
Từ những số liệu và phân tích trên đây, thấy rằng để thay thế loại trừ các lò mổ khơng đạt tiêu chuẩn về VS ATTP, đáp ứng toàn bộ nhu cầu thịt sạch cho riêng
khu vực Hà Nội, cần ít nhất 5 nhà máy giết mổ hiện đại có cơng suất 100- 120 con lợn 90kggiờ.
Do đó, dự kiến cơng suất lựa chọn cho các dây chuyền giết mổ và chế biến của dự án như sau:
+ Dây chuyền giết mổ:
Công suất 100 con lợn bình quân 90kggiờ, tương ứng 210.000 connăm hay 18.900 tấn hơi năm nếu nhà máy chỉ hoạt động 1 ca ngày và 300 ngàynăm.
Số liệu Bảng 1 cho thấy, nhu cầu thịt lợn hơi của Hà Nội vào năm 2005 tối thiểu khoảng 100.000 tấn. Với công suất giết mổ như trên thì Nhà máy đáp ứng được xấp
xỉ 15 nhu cầu.
+ Thiết bị chế biến sản phẩm:
Từ 4 đến 6 tấn sản phẩm ca ngày. Dự kiến nhà máy sẽ sản xuất pa-tê, xúc xích, giăm bơng và một số sản phẩm truyền thống. Trong đó sản phẩm pa-tê hộp, giăm bơng,
xúc xích sẽ được sản xuất ngay từ thời kỳ đầu.
Cơ cấu sản phẩm: Thời kỳ 162009 đến tháng 62010 được dự kiến như sau:
18
Công suất: 400 con lợn 90kgcangày. Tỷ lệ móc hàm: 72
Thịt xẻ: 26.000kg. Trong đó: + Tiêu thụ thịt tươi sống: 95 tương ứng 24.700 kg24,7 tấn
+ Thịt dành cho chế biến: 5 tương ứng 1.300 kg1,3 tấn. + Xúc xích: 50
+ Dăm bông: 25 + Pa-tê: 25
+ Một số sản phẩm truyền thống sẽ được nghiên cứu chế biến khi điều kiện cho phép. Thời kỳ 272010 đến 72011:
Công suất: 700 con lợn 90 kg cangày. Tỷ lệ móc hàm: 72
Thịt xẻ: 45.500 kg. Trong đó: + Tiêu thụ thịt tươi sống: 97 tương ứng 44.135 kg 44,13 tấn.
+ Thịt dành cho chế biến: 3 tương ứng 44.135 kg 44,13 tấn. + Xúc xích: 50
+ Dăm bông: 25 + Pa-tê: 25
Thời kỳ 3 từ 82011: Công suất: 1000 con lợn 90kg2 ca ngày.
Tỷ lệ móc hàm: 72 Thịt xẻ: 64.800 kg. Trong đó:
+ Tiêu thụ thịt tươi sống: 97 tương ứng 62.856 kg 62,85 tấn. + Thịt dành cho chế biến: 3 tương ứng 1.944 kg 1,95 tấn.
+ Xúc xích: 50 + Dăm bông: 25
19
+ Pa-tê: 25
2.3. Lựa chọn dây chuyền thiết bị 2.3.1.Các đặc trưng của dây chuyền thiết bị được mô tả dưới đây:

A. Qui trình giết mổ:


a Khu chuồng nhốt lợn trước khi giết mổ Lợn được tập kết vào một khu chuồng tập trung, xây dựng trong một khu vực tách
riêng với khu vực giết mổ. Ngoài ý nghĩa tập trung lợn ở khu đầu vào, khu chuồng này còn có chức năng dự phòng ngun liệu nên số lượng đầu lợn thường xuyên phải
đảm bảo cho nhà máy hoạt động ½ đến 1 ca trong thời kỳ đầu và 2 ca trong những năm tiếp theo. Chính vì vậy, quy mô chuồng phải đủ chố chứa 700 con thời kỳ đầu
và mở rộng công suất lên 1.400 con những năm tiếp theo.
Từ chuồng nhốt, lợn được đưa đến khu vực tiếp nhận. Ở đó có một phòng kiểm định lợn sống. Tại đó, lợn sẽ được đếm và kiểm định trước khi giết mổ bởi bác sỹ thú y.
Lợn sẽ được kiểm định sẽ được đưa đến khu chờ. Để lợn không gây tiếng ồn và tránh xơ đẩy nhau, sẽ có đường dẫn lợn từ khu tiếp nhận lợn đến khu chờ. Khu chờ sẽ được
chia thành từng ngăn để xếp lợn thành từng nhóm nhỏ vì vậy giữ được lợn trật tự yên tĩnh.
b Gây mê và chọc tiết: Có hai phương pháp gây mê: Gây mê bằng điện hoặc gây mê bằng khí. Thông thường
người ta sử dụng gây mê bằng điện. Dụng cụ gây mê bằng điện gọi là kìm kẹp điện hoặc que gây sốc điện. Từ khu chờ,
lợn được dẫn vào cũi gây mê làm bằng kim loại và có cửa. Trong cũi này bố trí các thiết bị gơng thủy lực tự động. Khi lợn được đẩy đến cuối cũi, thiết bị gơng sẽ giữ
chặt thân lợn lại, còn đầu thò ra ngồi. Người cơng nhân đứng phía ngồi. Người cơng nhân đứng phía ngồi sẽ dùng kìm điện hoặc gí đầu que gây sốc điện vào đầu
lợn. Sau khi bị ngất, thiết bị gông tự động mở ra và con lợn được được đưa đến bàn chọc tiết bằng băng tải. Tại đây một công nhân sẽ thao tác chọc tiết bằng dao khử
trùng. Tiết chảy đến ngăn dưới bàn chọc tiết. Mặt bàn chọc tiết là hệ thống băng chuyền con lăn. Chiều dài của bàn chọc tiết được tính tốn sao cho đủ thời gian sao
cho tiết chảy hết khi con lợn lăn đến cuối bàn. Đến cuối bàn, một chân sau của con lợn sẽ được móc lại để treo lên ray chuyển sang khâu làm lơng.
Người ta còn sử dụng một phương pháp chọc tiết khác. Đó là chọc dao hút tiết chân khơng. Con dao này được thiết kế dạng ống, một đầu vát nhọn, còn đầu kia nối bình
chân khơng bằng ống nhựa mềm chuyên dụng. Chỉ cần chọc dao vào ức lợn là tiết sẽ bị hút ra hết trong thời gian rất nhanh. Với phương pháp này, sau khi đã bị đẩy ra từ
20
cũi gây mê, người ta sẽ cùm một chân sau con lợn lại rồi móc vào ray treo để chuyển đến khu vực hút tiết. Thiết bị này đòi hỏi chi phí đầu tư lớn, nhưng bù lãi sẽ không bị
vương vãi nhiều ra sàn như phương pháp thứ nhất.
c Tiết: + Với phương pháp chọc tiết thứ nhất, tiết trong bồn chứa bằng i-nốc bên dưới được
hút vào bình bảo quản có dung dịch chống đơng, sau đó chuyển sang thiết bị nấu chín hoặc sử dụng để chế biến các sản phẩm khác theo ý muốn. Người ta cũng có thể
chuyển tiết đi bằng xe đẩy đến bộ phận chế biến.
+ Phương pháp chọc hút, tiết cũng được chứa trong bình i-nốc có thiết bị định lượng chống đơng đặt trên giá xe phía dưới.
d Nhúng nước nóng và cạo lơng: Cùm chân sau sẽ tự động nhả ra trước khi lợn được đưa vào bồn nhúng nước nóng và
thiết bị đánh lơng kiểu quay trục kép trên khung trục lớn có gắn những thanh đập bằng cao su và dao cạo kim loại. Trên khung trục nhỏ gắn các thanh cạo bằng cao su
cong. Nước trong bồn được điều chỉnh tự động gia nhiệt bằng hơi và bơm tuần hoàn để nhiệt độ luôn ở mức yêu cầu khoảng 60-65
C. Sau khi sạch lông lợn được đẩy ra khỏi máy đánh lông và được đưa bằng ray treo đến thiết bị đốt lông tơ hoạt
động bằng khí đốt. Thời gian nhúng nước và làm lơng, đốt lơng tơ có thể được điều chỉnh qua bộ lập trình tự động PLC. Sau khâu đốt lơng là khâu làm sạch và đánh
bóng da lợn bằng thiết bị quay trục đứng. Thiết bị này được chế tạo bằng sợi nhựa tổng hợp đặc biệt và cơ chế hoạt động quay giống như thiết bị rửa xe ô tô tự động.
Nếu không sử dụng máy làm sạch và đánh bóng da tự động, người ta có thể thực hiện công đoạn này theo phương pháp thủ công cạo hết những lơng tơ còn sót bằng dao.
e Lơng lợn: Thơng qua việc bơm tuần hồn nước qua sàng chữ U, lơng lợn sẽ được tách ra khỏi
nước nóng, rồi được chuyển đến bể chứa lông bằng băng chuyền. Từ đây bể chứa, lông sẽ được ép hết nước, đóng thành bánh. Nếu khơng sử dụng băng chuyền, có thể
cho lông vào các xe đẩy và chuyển đến các thùng chứa lông để chuyển đi.
f Lấy nội tạng :Sau khi được làm sạch, lợn được đưa đến khu vực mổ và lấy nội tạng. Chu trình mổ
được tiến hành bởi nhiều thao tác được thực hiện bởi các công nhân đứng trên các bục thứ tự. Trong quá trình thao tác mổ và lấy nội tạng thì lợn vẫn được treo trên các
ray. Tại bục 1, công nhân sẽ cắt bỏ hậu môn và mổ bụng bằng dao. Bục 2, lợn sẽ được mổ để bóc tách dạ dày và cắt các bộ phận nội tạng mầu trắng. Phần nội tạng
màu trắng sẽ được vào các thùng đựng trên băng chuyền tự động và được đưa vào băng chuyền màu trắng. Bục 3, ức lợn được xẻ ra bằng cưa điện cũng có thể bằng
21
dao. Bục 4, cắt cơ hồnh. Cơng nhân tại bục 5 sẽ cắt các phần nội tạng mầu đỏ tim, cật, phổi,… và chuyển vào các thùng đựng trên băng chuyền này sẽ được đưa
vào các thùng đựng trên băng chuyền tự động và các băng chuyền này sẽ được đưa vào các băng chuyển nội tạng mầu đỏ. Cuối cùng, tại bục 6, lợn sẽ được xẻ đôi dọc
theo xương sống bằng cưa điện.
g Kiểm dịch thú y đối với các bộ phận của lợn: Việc vận chuyển lợn đã mổ trên các ray làm sạch được tiến hành đồng thời với hoạt
động của các băng tải kiểm dịch nội tạng và các bộ phận nội tạng và các bộ phận màu đỏ nằm ở phía trên. Hai hệ thống này được thiết kế sao cho tất cả các bộ phận khác
nhau của cùng một con lợn đều đến vị trí kiểm dịch cùng một lúc. Sau kiểm dịch, các mảnh thịt xẻ sẽ được cân và chuyển đến khu phân phối để chuyển đi hoặc đưa vào
phòng lạnh.
Những con lợn bị thải loại sau kiểm dịch thú y hoặc còn nghi ngờ sẽ được chuyển sang phòng thải loại lưu giữ để tiến hành kiểm dịch thêm. Bác sỹ kiểm dịch thú y có
thể điều tiết các bộ phận mầu trắng và mầu đỏ bằng cách vận hành một nút nhấn trên bục kiểm dịch.
Các phần nội tạng đã được chấp nhận qua kiểm dịch sẽ được chuyển theo các băng tải đến phòng xử lý các phần trắng và phần đỏ. Trong trường hợp có một bộ nội tạng
bị loại bỏ, bác sỹ chỉ cần nhấn nút và phần nội tạng sẽ được thả xuống một thùng chứa ở dưới băng tải.
h Phần nội tạng mầu trắng: Các phần trắng sẽ được cho trượt theo băng tải từ khu vực mổ và lấy nội tạng sang bộ
phận xử lý phần trắng, ở đây có các thiết bị để chia các bộ phận nội tạng màu trắng và làm sạch, rửa dạ dày và các bộ phận khác. Các nội tạng mầu trắng sau khi được
làm sạch có thể phục cho nhu cầu tiêu dùng của con người. Chất thải trong dạ dày và ruột được chuyển đi bằng xe đẩy.
i Phần nội tạng mầu đỏ: Các phần nội tạng màu đỏ sẽ được cho trượt theo băng tải từ khu vực mổ và lấy nội
tạng sang bộ phận xử lý phần đỏ. Ở đây, sẽ có bàn xử lý nằm dọc theo và thấp hơn băng tải. Tại mỗi thời điểm dừng các phần nội tạng mầu đỏ sẽ được cắt xuống từ
băng tải. Các bộ phận mầu đỏ sẽ được tách rời và có thể đóng gói ngay tại chỗ tuỳ thuộc vào nhu cầu sử dụng.

B. Thiết bị giết mổ:


1 Phòng làm chống 2 Que gây chống
22
3 Bàn lắp cùm 4 Thiết bị hút tiết và xe chứa tiết tùy chọn
5 Thiết bị nhúng lợn kiểu quay 6 Thiết bị làm lông
7 Thiết bị đốt lông 8 Bàn dỡ lợn
9 Thiết bị đánh bóng 10 Cưa xẻ thiệt
11 Cân kiểm tra 12 Sàn thao tác
13 Bộ phận pha thịt, lọc xương 14 Thiết bị thu gom và tách nước cho lông

C. Thiết bị vệ sinh:


1 Bồn rửa tay 2 Thiết bị thanh trùng dao
3 Thiết bị thanh trùng cưa D. Hệ thống băng chuyền trên cao:
1 Xe đẩy cùm cho lợn 2 Hệ thống nâng lợn lên ray ống.
3 Hệ thống ray chuyền móc. 4 Hệ thống băng chuyền tháo cùm tự động
5 Thiết bị tháo cùm tự động 6 Xe đẩy móc cho lợn
7 Thiết bị nâng móc cho lợn
23
8 Hệ thống ray mổ lợn 9 Băng chuyền mổ lợn
10 Băng chuyền phủ tạng 11 Hệ thống treo thứ cấp bằng thép

E. Hệ thống điện:


1 Tủ điện chính 2 Bảng điều khiển
3 Màn hình hiển thị các thông số hoạt động và nguyên nhân sự cố

F. Thiết bị chế biến:


a Xúc xích: Qui trình chế biến xúc xích thường:
Thịt tươi và phụ liệu được xay và trộn đều→ Máy nhồi xúc xích→ Máy buộc chỉ hai đầu→ Nồi nấu → Máy lột vỏ xúc xích→Máy đóng gói chân khơng.
Qui trình chế biến xúc xích tiệt trùng: Thịt tươi và phụ liệu được xay và trộn đều → Máy nhồi xúc xích→ Máy kẹp nhơm 2
đầu → Nồi hấp thanh trùng.
Qui trình chế biến xúc xích hun khói: Thịt tươi được và phụ liệu được xay và trộn đều → Máy nhồi xúc xích→ Máy kẹp
nhơm 2 đầu→ Máy xông hơi → Nồi hấp thanh trùng.
b Giăm bông: Cách chế biến giăm bông cũng gần tượng tự cách chế biến xúc xích thường chỉ khác
ở khâu tẩm ướp làm mềm thịt không xay.
c Pa-tê hộp: Qui trình chế biến
+ Vỏ hộp: Được rửa sạch trên băng chuyền, sau đó sẽ chuyển đến bộ phận nhồi thịt bằng bàn quay.
24
+ Nguyên liệu: Tất cả nguyên phụ liệu để làm pa-tê trộn đều được tập trung ở đây. Thịt và đồ gia vị được xay trộn nhuyễn trước khi chung chuyển sang máy nhồi.
+ Nạp nguyên liệu: Bộ phận này gồm máy nhồi thịt, băng chuyền nước sốt, nồi nấu nước sốt. Sau khi được tra thêm nước sốt, hộp thịt được chuyển sang máy ép ghép mí
nắp bằng băng tải và tiếp đến khâu rửa sạch bề ngồi hộp.
+ Nồi hấp thanh trùng: Là cơng đoạn cuối cùng của chế biến. + Kiểm tra, dán nhãn và đóng gói.
Về bảo quản lạnh: Sau khi được xẻ thành 2 mảnh, qua các khâu kiểm tra vệ sinh và thịt mảnh sẽ được
đưa vào kho làm mát bằng hệ thống ray treo.
Từ lúc giết mổ cho đến khi xẻ mảnh, nhiệt độ thịt lợn giảm xuống còn khoảng 25 C.
Sau thời gian lưu trong kho làm mát khoảng 12-14 giờ, nhiệt độ mảnh thịt giảm còn ±7
C. Thơng thường, quá trình pha chế được thực hiện sau khi thịt đã đạt đủ độ lạnh khi được làm lạnh, miếng thịt sẽ không mất nước và săn lại. Do đó tránh được hao
hụt và việc pha chế thuận lợi hơn.
Để phục vụ nhu cầu xuất khẩu thịt mảnh đông lạnh, từ kho làm mát, sản phẩm sẽ được hạ xuống - 18
C sau 14- 18 giờ. Khâu cuối cùng, chuyển sang kho lạnh bảo quản lạnh sản phẩm luôn ở nhiệt độ - 18
C. Tuy nhiên, theo tính tốn thì trong giai đoạn 1 và 2, sản phẩm của nhà máy sẽ được
tiêu thụ tại thị trường nội địa, nên chủ trương chưa đầu tư xây dựng kho lạnh và kho bảo quản lạnh mà chỉ trang bị kho làm mát với cơng suất lưu trữ được tính dự phòng
cho cả thời kỳ 2 khi nhà máy hoạt động 1 ca ngày.
Kho làm mát
Các thông số của kho lạnh hồn chỉnh với thiết bị nhập tồn bộ: + Cơng suất trữ của kho: 80 tấn thịt mảnh.
+ Kích thước kho DxRxC: 10.000 mm x 9.000 mm x 3.500mm. + Điện áp: 380V, 3 pha, 50 Hz
+ Tiêu thụ điện: 10 kW giờ. Về phương tiện vận tải:
Nhu cầu phương tiện vận tải được tính tốn trên cơ sở phân kỳ hoạt động của nhà máy như sau:
25
+ Năm đầu tiên hoạt động, dự kiến từ tháng 6 2009 đến tháng 6 2010: công suất giết mổ 400 con lợn ca ngày.
+ Từ 72010 đến tháng 7 2011: Nhà máy hoạt động đạt công suất thiết kế là 700 con ca ngày.
+ Từ tháng 82011 đến 2014: Nhà máy hoạt động 2 ca ngày, công suất giết mổ 1.400 con ngày.
Bảng nhu cầu lợn hơi và sản lượng thịt sau giết mổ Công suất
Sản lượng 6 2009- 62010
400 con ngày 72010-72011
700 conngày Từ 82011
1.000 con ngày Thịt hơi tấn
36 63
90 Thịt móc hàm tấn 26
45,5 65
- chế biến 1,35
1,363 1.953
- tiêu thụ thịt tươi 90-87
24,7 44
63
Xe đông lạnh
Với khối lượng thịt tươi cần đưa đi tiêu thụ ở các cửa hàng, siêu thị… như trình bày ở bảng trên, phương tiên vận chuyên chở cần có như sau:
Bảng nhu cầu xe đông lạnh
TT Loại phương tiện
Số lượng Trọng tải
Số chuyến Tổng cộng
tấnngày 1
62009-62010 - Xe thùng lạnh nhỏ
-Xe thùng lạnh vừa 3
1 1,45
3,0 4
3 17,4
9
26
Cộng: 4
12 24,7
2 72010-72011
- Xe thùng lạnh nhỏ -Xe thùng lạnh vừa
Cộng: 3
2 5
1,45 3,0
5 3
18 21,75
18 44
3 82011 trở đi:
- Xe thùng lạnh nhỏ -Xe thùng lạnh vừa
Cộng: 4
3 7
1,45 3,0
5 4
34 29
36 63
Trong năm đầu hoạt động, để đảm bảo tính chủ động trong tiêu thụ, cần có 4 xe lạnh để cung ứng toàn ứng toàn bộ sản phẩm cho thị trường. Các xe lạnh sẽ hoạt động chủ
yếu vào sáng sớm khoảng 45 số chuyến thực hiện từ 4 giờ đến 8 giờ.
Xe vận tải:
Giả thiết nhu cầu cung ứng lợn cho hoạt động sẽ do đội xe tải của nhà máy bảo đảm 100. Căn cứ vào bảng trên, số đầu xe cần có như sau:
Bảng nhu cầu xe vận tải Số lượng
Trọng tải tấn
Số lợn conchuyến
Số chuyến ngày
Tổng cộng conngày
62009- 72010
3 8
70 - 80 2
400
72010- 72011
5 8
70 – 80 2
700
27
82011 trở đi
7 8
70 – 80 2
1000
Cần ít nhất 3 xe tải loại 8 tấn để cung ứng đủ số lợn cho nhà máy hoạt động trong thời kỳ đầu.
Vốn đầu tư: Dự kiến sau khi đi vào hoạt động, nhà máy sẽ cần đầu tư mua sắm đội xe như sau:
TT Loại xe
Số lượng Đơn giá
Thành tiền 1
Xe lạnh 1,45 tấn
3 370.000.000
1.110.000.000
2 Xe lạnh 3,0
1 500.000.000
500.000.000 3
Xe tải 8 tấn 3
500.000.000 1.500.000.000
4 Xe bán tải nhỏ 1
250.000.000 250.000.000
5 Xe 4 chỗ
1 250.000.000
250.000.000 Tổng cộng
9 3.610.000.000
Ghi chú: + Xe lạnh: Giá tham khảo xe Isuzu Nhật được lắp đặt hệ thống làm lạnh do Thermo
King USD sản xuất. + Xe tải: Huyndai Hàn Quốc.
Vốn đầu tư mua sắm toàn bộ phương tiện vận tải cho thời kỳ đầu ước tính khoảng 3,61 tỷ đồng chưa bao gồm thuế VAT. Nếu một số trong các đại lý Cấp I của nhà
máy có phương tiện của mình và phương thức hợp đồng mua lợn tại cổng nhà máy được thực hiện thì vốn đầu tư có thể giảm được nhiều.
6.3. Tổng hợp vốn đầu tư dây chuyền thiết bị và phương tiện vận tải: TT
Thiết bị CIF cảng Hải Phòng
28
1 Dây chuyền giết mổ gồm
cả hệ thống ray treo lắp cho kho lạnh
14.000.000.000
2 Thiết bị chế biến
13.000.000.000 3
Kho làm mát 680.000.000
4 Phương tiện vận tải
chuyên dùng 3.610.000.000
Tổng cộng: 31.290.000.000
2.4.Quy hoạch vùng nguyên liệu
Thực tế cho thấy hầu hết các nhà máy giết mổ gia súc đã được đầu tư xây dựng trong nước và ở các nước khác trên thế giới chỉ phát huy được hết công suất và hiệu quả
khi tổ chức và xây dựng được vùng nguyên liệu của riêng mình ổn định, đảm bảo đáp ứng đủ về số lượng cho hoạt động của nhà máy.
Ý thức được tầm quan trọng trên, chủ đầu tư đã khảo sát tình hình chăn ni gia súc, nhất là giống lợn nạc cao sản ở các vùng huyện ngoại thành và một số tỉnh lân cận,
nhằm lập kế hoạch xây dựng vùng nguyên liệu đáp ứng nhu cầu của nhà máy từ ngay thời gian đầu đi vào vận hành. Vùng nguyên liệu ổn định sẽ được phát triển gồm:
Vùng nguyên liệu tại chỗ:
Sẽ tổ chức trên địa bàn Hà Nội: các huyện ngoại thành Đông Anh, Gia Lâm, Sóc Sơn.
Theo dự kiến, khi đi vào hoạt động và trong năm đầu tiên, nhà máy sẽ chỉ đạt công suất giết mổ khoảng 50-60. Lý do của việc giảm công suất này là năm đầu được coi
như thời gian quảng bá sản phẩm và chiếm lĩnh thị trường. Chính vì vậy, chỉ cần vùng ngun liệu xây dựng ở 3 huyện ngoại thành sẽ đảm bảo hoàn toàn nguyên liệu
đầu vào cho nhà máy.
Vùng nguyên liệu phụ cận
Gồm các tỉnh Hưng Yên, Bắc Ninh, Vĩnh Yên, Hà Tây. Vùng nguyên liệu này bắt đầu được tổ chức và phát triển dần dần từ giữa những năm hoạt động đầu tiên, sao
cho có thể cung cấp nguyên liệu cho nhà máy vào năm thứ 2. Khi đó, nhà máy sẽ đạt 100 cơng suất giết mổ tính theo ca sản xuất 700 con lợnca .
Tổ chức và phát triển vùng nguyên liệu nhằm thực hiện một số mục tiêu sau đây:
29
Mục tiêu tổng quát: •
Tổ chức sản xuất để cung ứng đủ thịt lợn chất lượng cao cho nhà máy giết mổ và chế biến thịt.
• Đảm bảo cung ứng một cách đều đặn cả về số lượng, chất lượng lợn thịt, theo
lộ trình hoạt động và công suất giết mổ, chế biến thịt của nhà máy.
2.5. Cơ cấu tổ chức quản lý vận hành của nhà máy giết mổ và chế biến thực phẩm
2.5.1. Hình thức tổ chức quản lý nhà máy Theo dự kiến, khi dự án đi vào hoạt động, nhà máy giết mổ và chế biến
thực phẩm sẽ trở thành một đơn vị thành viên của công ty Đông Thành, có bộ máy quản lý riêng và hoạt động hoàn toàn độc lập.
2.5.2.Cơ cấu tổ chức quản lý vận hành của nhà máy Dự kiến nhân sự và cơ cấu lao động
TT Nhân sự
Thời kỳ 6 2004 –
6 2005 7 2005 –
7 2006 8 2006
trở đi 1
Ban giám đốc: - Giám đốc
- Phó giám đốc 1
2 1
2 1
2 2
Phòng HC - NS: - Trưởng phòng
- Nhân viên - Bảo vệ
- Tạp vụ 1
2 2
3 1
3 4
5 1
4 4
6
3 Phòng TC – KT:
- Trưởng phòng 1
1 1
30
- Nhân viên kế toán 2
2 2
4 Phòng kinh doanh:
- Trưởng phòng - Giao nhận
- Thu mua - Bộ phận marketing
- Bộ phận XNK 1
8 8
2 1
12 12
3 3
1 20
20 3
3 5
Phòng sản xuất: - Trưởng phòng
- Chăn nuôi - Giết mổ
- Quản lý đốc PX GM - Chế biến + bao gói
- Quản đốc PX CB BG - Đội xe
1 10
35 1
26 1
10 1
15 35
1 26
1 15
1 20
70 1
52 1
23 6
Phòng kỹ thuật: - Trưởng phòng
- Hóa nghiệm - Thú y
- Cơ khí 1
2 2
2 1
2 4
4 1
2 4
4
Tổng cộng : 122
153 235
Tổng số lao động có thể thay đổi không phụ thuộc vào phân kỳ như trên mà tùy thuộc tình hình thực tế của hoạt đợng kinh doanh.
Ghi chú:
• Nhu cầu về phương tiện vận tải xem chương 6 – Dây chuyền thiết bị và
Phương tiện vận tải
31
- 6 2009 – 6 2010:5 xe lạnh, 3 xe tải và 1 xe có 4 chỗ, 1 xe bán tải nhỏ 10 lái xe . - 7 2010 – 7 2011:
7 xe lạnh, 5 xe tải và 1 xe 4 chỗ, 2 xe bán tải nhỏ 15 lái xe .
- 8 2011 trở đi: 10 xe lạnh, 10 xe tải và 1 xe 4 chỗ, 2 xe bán tải nhỏ 23
lái xe . Trong thực tế việc hợp đồng với các địa phương bán lợn tại cổng nhà máy là hoàn
toàn có thể thực hiện. Tuy nhiên, trong các tính toán về nhu cầu lao động cũng như phân tích tài chính, các số liệu sử dụng dựa trên việc bảo đảm cung ứng 100 cho
nhu cầu.
• Nhân viên bán, giao nhận hàng :
Với kế hoạch tổ chức và phát triển mạng lưới Đại lý và Nhà phân phối các cấp, nhà máy sẽ giảm bớt được bộ phận bán hàng trực tiếp xem chương 7 – Hệ thống tiêu
thụ sản phẩm …. Tuy nhiên, trong cơ cấu nhân sự, vẫn cần có một bộ phận đảm trách việc giao, nhận hàng.
Dự kiến, mỗi xe lạnh và xe tải, ngoài lái xe sẽ có 1 nhân viên giao nhận đi cùng. Do vậy, số lượng nhân viên ở bộ phận này sẽ tương ứng với số lái xe lạnh và xe tải tại
từng thời điểm. Công nhân sản xuất trực tiếp trong cùng một ca :
Giai đoạn 1 : 6 2009– 6 2010 - Giết mổ
: 30 + 5 thay ca luân phiên = 35 người. - Pha thịt và bao gói : 6+ 2 thay ca luân phiên = 8 người.
- Chế biến : 15 + 3thay ca luân phiên = 18 người.
Giai đoạn 2 : 7 2010 – 7 2011 như giai đoạn 1 Giai đoạn 3 : 8 2011 trở đi
- Giết mổ : 70 người.
- Pha thịt và bao gói : 16 người. - Chế biến
: 36 người Phòng kỹ thuật, cơ khí : 11 – 18 – 18 người.
Chế độ làm việc Do đặc thù của lĩnh vực hoạt động, thường dản phẩm thịt tươi sống được cung
cấp, phân phối vào thị trường trong khoảng từ 5 đến 6 giờ sáng và 15 giờ 30 chiều
32
tuy nhiên, trong phần này chỉ trình bày chế độ làm việc áp dụng theo giờ hành chính và cho 1 ca đêm, phù hợp với thời gian đầu hoạt động của nhà máy. Vì vậy, chế độ
làm việc được dự tính như sau :
Giờ làm việc hành chính : T ừ 7 : 30 đến 16 : 30 nghỉ trưa 1 tiếng, tử 12 giờ đến 13 giờ.
Nghỉ cuối tuần : Chiều thứ 7 thứ 7 và chủ nhật. Áp dụng cho bộ phận sản xuất. Dự tính các dây chuyền của nhà máy sẽ vận hành tổng
cộng 300 ngày năm tối đa. Ngày nghỉ : Công nhân sẽ nghỉ thay phiên nhau vào các ngày trong tuần Lưu ý : nếu
nghỉ 2 ngày, tức là 2 ca đêm thì tổng số công nhân sẽ phải tăng tương ứng lên 30 + 10 = 40 người ca.
Chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội, khen thưởng kỷ luật… sẽ được áp dụng theo đúng luật quy định của Nhà nước.
.Tuyển dụng và đào tạo lao động : Công nhân vận hành dây chuyền giết mổ và chế biến sẽ được rút bớt một số từ
các bộ phận hiện tại trong công ty, số khác sẽ tuyển dụng từ bên ngoài. Do tính chất đặc thù của công việc và ca sản xuất nên đối tượng tuyển dụng chỉ là nam giới.
Toàn bộ công nhân của 2 dây chuyền sẽ được chuyên gia nước ngoài đào tạo và hướng dẫn thực hành thuần thục mọi thao tác, đảm bảo nắm vững tất cả các qui
trình sản xuất cũng như cơ chế hoạt động của thiết bị. Nhân viên thu mua, tổ chức vùng nguyên liệu sẽ được xây dựng dựa trên nòng cốt là
đội ngũ công nhân nông trường hiện tại. Chi phí nhân lực tiền lương và bảo hiểm
Tiền lương là các khoản tiền trả cho nhân viên tương ứng với số lượng, chất lượng lao động.Nhà máy sẽ lựa chọn hình thức và chế độ trả lương phù hợp với điều
kiện sản xuất của công ty, tuân thủ nguyên tắc phân phối theo lao động và theo chế độ, chính sách của Nhà nước.
Dựa vào biểu tượng theo qui định hiện hành của nhà nước và thu nhập hiện tại của công ty, mức lương sẽ trả cho cán bộ công nhân viên của nhà máy được đề xuất
như sau : Ban giám đốc nhà máy
- Giám đốc : 5 triệu đồng tháng;
- Các phó giám đốc : 4 triệu đồng tháng;
33
Phòng kinh doanh - Trưởng phòng
: 2,5 triệu đồng tháng; - Giao nhận thu mua
: 1,5 triệu đồng người tháng; -Marketing XNK
: 1,5 triệu đồng người tháng; Bộ phận sản xuất
- Trưởng bộ phận 1 người : 3 triệu đồng tháng;
- Dây chuyền giết mổ : 1,8 triệu đồng người tháng;
- Quản đốc phân xưởng giết mổ : 2,3 triệu đồng tháng;
- Chế biến bao gói, lái xe, chăn ni : 1,5 triệu đồng người tháng;
- Quản đốc phân xưởng chế biến… : 2 triệu đồng tháng;
Phòng kỹ thuật - Trưởng phòng
: 2 triệu đồng người tháng; - Nhân viên
: 1,5 triệu đồng người tháng; Phòng HC – NS
- Trưởng phòng : 2 triệu đồng tháng;
- Phòng hành chính : 1,2 triệu đồng người tháng;
- Bảo vệ, tạp vụ : 0,8 triệu đồng người tháng;
Phòng kế tốn - Trưởng phòng
: 2,5 triệu đồng tháng; - Nhân viên
: 1,8 triệu đồng người tháng; Dựa vào mức lương đề xuất trên và Bảng nhu cầu nhân sự, dự tính tổng quỹ lương
tháng trong từng thời kỳ như sau : Đơn vị tính : đồng năm
Cơ cấu nhân sự Thời kỳ
6 2004 – 6 2005 7 2005 – 7 2006
8 2006 trở đi Giám đốc
60.000.000 60.000.000
60.000.000 Phó giám đốc
96.000.000 96.000.000
96.000.000
34
Phòng HC – NS 100.800.000
153.600.000 177.600.000
Phòng TC – KT 73.200.000
73.200.000 73.200.000
Phòng KD 354.000.000
570.000.000 858.000.000
Bộ phận sản xuất 1.707.600.000
1.905.600.000 3.381.600.000
Phòng kỹ thuật 132.000.000
204.000.000 204.000.000
Cộng : 2.523.600.000
3.062.400.000 4.850.400.000
BHXH 17 378.540.000
459.360.000 727.560.000
BHYT 2 50.472.000
61.248.000 97.088.000
Tổng quỹ lương : 2.952.612.000
3.583.008.000 5.674.968.000
BH xã hội : 15 ; BH y tế 2 tổng quỹ lương theo quy định
2.6.Mô tả địa điểm
Điều kiện tự nhiên Khu vực xây dựng nhà máy có diện tích khn viên khoảng 7,5ha nằm trên
cánh đồng Cửa Kho thuộc khu vực Tự Do xã Xuân Nộn, thị trấn Đơng Anh. Hiện tại , tồn bộ diện tích 7,5ha là ruộng lúa nước, ao đầm, có độ cao trung bình so với
mực nước biển 11-12m. Phía Nam và Tây Nam giáp Trường Công Nhân, Bắc tiếp giáp đường giao thong lien xã thong ra quốc lộ 3, Đông giáp mương tưới tiêu nước ra
song Cà Lồ, Tây giáp Cơng ty xây dựng Đơng Anh.
Thời tiết khí hậu Cơng trình nằm trong vùng mang đặc điểm khí hậu đồng bằng Bắc Bộ, bốn
mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông phân biệt rõ rang -Độ ẩm tương đối:
85 -Tốc độ gió trung bình trong năm:
cấp III -Lượng mưa trung bình trong năm:
200mm -Nhiệt độ trung bình vào mùa hè:
28-32độ C -Nhiệt độ trung bình vào mùa đơng:
13-18độ C -Nhiệt độ trung bình trong năm:
34-36 độ Ccao nhất 8-14 độ C thấp nhất

Chương III. Phân Tích Tài Chính Dự Án


35

Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (61 trang)

×