Khó khăn gặp phải

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.5 MB, 51 trang )


Cùng với việc triển khai mở rộng thủ tục Hải quan điện tử giai đoạn 2, ngành Hải quan cũng đẩy mạnh việc triển khai Hải quan từ xa tại các Cục Hải quan tỉnh, thành phố lớn
như Hải Phòng, TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng, Đồng Nai, Bình Dương, Cần Thơ, Bà Rịa - Vũng Tàu…chủ yếu đối với hàng kinh doanh, hàng gia công, hàng nhập sản
xuất xuất khẩu. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc thực hiện thủ tục Hải quan điện tử
trong thời gian qua cũng không thể tránh những khỏi khó khăn và vướng mắc, cụ thể như: cơng tác chuẩn bị các điều kiện đảm bảo thực hiện thủ tục Hải quan điện tử chưa
được tính tốn kỹ lưỡng, khoa học; một phần chưa tiên lượng hết được khối lượng công việc triển khai, năng lực chuyên môn của cơ quan được ký kết xây dựng phần mềm cũng
hạn chế về thời gian đã ảnh hưởng đến chất lượng, tiến độ xây dựng phần mềm; việc trang bị bổ sung máy móc thiết bị cho các Chi cục thực hiện thí điểm thủ tục Hải quan
điện tử đòi hỏi phải tiến hành theo trình tự mua sắm, đấu thầu nên phần nào ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện; bên cạnh đó, thủ tục Hải quan điện tử còn liên quan đến tốc độ
đường truyền, C-VAN… mà trong thời gian ngắn khó có thể thực hiện tốt. Nhìn chung q trình thí điểm thủ tục Hải quan điện tử đã đạt được mục tiêu ban đầu đề
ra, từng bước cải cách hoạt động nghiệp vụ Hải quan theo hướng phù hợp với Hải quan hiện đại, được dư luận xã hội, đặc biệt là cộng đồng doanh nghiệp quan tâm, bước đầu
tạo động lực cho triển khai thủ tục Hải quan điện tử

2. Khó khăn gặp phải


Theo nhận định từ Chi cục Hải quan Điện tử TPHCM, những kết quả đạt được như ở trên khá khả quan, nhưng cũng chỉ là bước đầu. Hiện thông quan điện tử vẫn còn nhiều
khâu phải xử lý thủ cơng, cụ thể: khi doanh nghiệp có đơn đề nghị sao trích nội dung giấy phép thì Chi cục Hải quan Điện tử cấp phiếu theo dõi trừ lùi giấy phép và trả lại
doanh nghiệp. Trên thực tế, các doanh nghiệp làm thủ tục hải quan khi nộp giấy phép để trừ lùi số
lượng đều không đồng ý để Chi cục Hải quan Điện tử lưu giữ giấy phép cho nên việc theo dõi giấy phép trừ lùi hiện nay, Chi cục Hải quan Điện tử thực hiện như khi làm thủ
tục hải quan thủ cơng.
43
Hiện tại, chưa có quy định về xác định giá tính thuế, kiểm tra sau thơng quan, thu thập xử lý thông tin, quản lý rủi ro và kiểm soát hải quan áp dụng cho thủ tục hải quan điện tử,
toàn bộ đang thực hiện theo quy trình thủ cơng, khơng phù hợp đối với thủ tục hải quan điện tử. Việc phải xử lý thủ công càng cụ thể hơn theo như quy định tại quyết định
502005QĐ-BTC: Doanh nghiệp tự kê khai và tự chịu trách nhiệm trong việc tính thuế, khi doanh nghiệp khai điện tử thì thơng qua hệ thống cơ quan hải quan kiểm tra việc tính
thuế. Chi cục Hải quan Điện tử phải sử dụng chương trình tính thuế tự xây dựng riêng để kiểm
tra việc tính thuế. Bên cạnh đó, phần lớn các chính sách mặt hàng của các bộ ngành biểu thuế tiêu thụ đặc biệt chưa được mã hóa; biểu thuế xuất nhập khẩu, biểu thuế ưu đãi theo
từng khối nước, từng nước không được tập hợp đầy đủ nên việc phân luồng hoàn toàn thực hiện bằng thủ cơng.
Các chương trình phần mềm chưa hồn thiện
Đầu tiên là vấn đề chỉnh sửa tờ khai của doanh nghiệp. Do chương trình chưa thiết kế các nội dung khai báo lý do đề nghị chỉnh sửa tờ khai của doanh nghiệp, thông báo tự động
trạng thái tờ khai đề nghị chỉnh sửa của doanh nghiệp và trình tự các bước thủ tục chỉnh sửa tờ khai thiết kế trên chương trình chưa hợp lý, cho nên những trường hợp tờ khai có
chỉnh sửa thường được xử lý chậm. Do đó cơ quan hải quan phải thường xuyên kiểm tra danh mục tờ khai yêu cầu sửa của doanh nghiệp và phải liên lạc với doanh nghiệp qua
điện thoại để biết các nội dung cần chỉnh sửa mới có thể chấp nhận. Chương trình phần mềm cũng bộc lộ tính thiếu hoàn thiện qua việc theo dõi, trừ lùi giấy
phép được thực hiện như thủ tục hải quan thủ cơng vì chương trình chưa thực hiện được do giấy phép có rất nhiều loại và chưa được chuẩn hóa. Ví dụ: giấy phép có 2 dòng hàng
trùng mã số, hệ thống khơng biết dòng hàng nào để xử lý; hạn ngạch cấp theo trị giá thì hệ thống khơng biết trừ trên trị giá khai báo hay trị giá tính thuế và trừ lùi tại thời điểm
nào; nếu doanh nghiệp khai báo khác đơn vị tính trên giấy phép thì hệ thống cũng khơng thể xử lý.
Tiếp đó, mẫu tờ khai hải quan điện tử HQ2005-TKĐT được qui định chung cho tờ khai nhập khẩu và tờ khai xuất khẩu. Đối với tờ khai xuất khẩu thì việc xác định nước nhập
44
khẩu hàng là rất quan trọng trong việc cấp CO giấy xác nhận nguồn gốc hàng hóa. Tuy nhiên mẫu tờ khai hiện nay khơng có tiêu chí nước nhập khẩu mà chỉ có tiêu chí nước
xuất khẩu cho nên doanh nghiệp khó khăn trong việc cấp CO và thanh tốn… Trước thực tế trên, ơng Đỗ Đình Thực, Phó cục trưởng Cục Hải quan TPHCM cho rằng,
nhanh chóng hồn thiện và nâng cấp chương trình hiện tại, chỉnh sửa các lỗi, bổ sung các chức năng còn thiếu như đã nêu ở trên là việc cần làm ngay. Thiết lập hệ thống dự
phòng, đảm bảo an tồn cho việc thông quan điện tử trước mắt, đặc biệt cho giai đoạn mở rộng sắp tới và nghiên cứu mơ hình thơng quan điện tử thích hợp theo lộ trình phù
hợp, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ của Chi cục Hải quan Điện tử hiện tại cũng là việc không thể chậm trễ. Có như vậy kế hoạch triển khai mở rộng thông quan điện tử với dự
kiến khoảng 60-70 doanh nghiệp trong năm 2005 và tiến hành thông quan điện tử tại Sân bay Tân Sơn Nhất, Khu chế xuất Tân Thuận, Linh Trung mới có khả năng thực hiện…
Hải quan điện tử hiện nay chưa tạo được sự hấp dẫn cho các doanh nghiệp. Lý do thì có nhiều nhưng trước tiên phải nói tới hệ thống phần mềm. Phần mềm thơng quan điện tử
hiện nay vẫn còn một số hạn chế, ví dụ như chương trình quản lý rủi ro trước đây khơng có, nay để phục vụ cho việc triển khai Luật Hải quan sửa đổi phần mềm này mới được
xây dựng và đưa vào hệ thống thơng quan điện tử, hay như danh mục hàng hố xuất nhập khẩu chịu sự quản lý của Nhà nước hàng cấm xuất nhập khẩu, hàng xuất nhập khẩu có
điều kiện phải được mã hoá để tránh theo dõi quản lý thủ công mà điều này liên quan đến các bộ, ngành có liên quan.
Lý do thứ hai phải kể đến đó là việc thí điểm thơng quan điện tử bước đầu mới chỉ dừng ở việc thông quan cho loại hình hàng hố xuất nhập khẩu kinh doanh trong khi nhiều
doanh nghiệp có hoạt động đa dạng, ngồi loại hình nhập xuất kinh doanh, doanh nghiệp còn có thêm nhiều loại hình xuất nhập khẩu khác như loại hình hàng gia công xuất nhập
khẩu, hàng tạm nhập tái xuất... nên doanh nghiệp khơng thể khai điện tử loại hình kinh doanh ở Chi cục Hải quan điện tử và khai ở Chi cục khác những loại hình còn lại. Điều
đó sẽ gây mất nhiều thời gian và chi phí cho doanh nghiệp. Một điểm quan trọng khơng kém đó là từ khi triển khai thực hiện Luật Hải quan và Luật Thuế xuất nhập khẩu sửa đổi
đã tạo điều kiện thơng thống hơn cho doanh nghiệp trong khi làm thủ tục vì vậy nhiều doanh nghiệp đã vẫn chọn cách khai hải quan truyền thống.
45
Qua thời gian thí điểm, nhiều động tác của TTHQĐT phải xử lý thủ công, ngun nhân là do chưa hồn thành việc chuẩn hóa, mã hóa các thơng tin về chính sách mặt hàng, cơ
sở dữ liệu thông tin chưa phong phú, đa dạng... Việc triển khai thí điểm chỉ mới áp dụng cho loại hình kinh doanh XNK với số lượng DN tham gia và địa bàn áp dụng còn hạn chế
chỉ áp dụng cho các DN chấp hành tốt pháp luật tại Cục Hải quan Hải Phòng và TP HCM. Mặt khác, công tác phối hợp giữa ngành Hải quan và các bộ ngành chưa tốt, đặc
biệt là việc ban hành mã số đối với danh mục hàng hóa XNK phải quản lý còn chậm... Một số DN chưa thực sự quan tâm đầu tư cơ sở vật chất và nâng cao trình độ cho nhân
viên về CNTT dẫn tới việc thực hiện còn có sai sót.

IV. Phương hướng phát triển trong tương lai


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (51 trang)

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×