1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

Kh¸i niƯm.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (330.98 KB, 72 trang )


HàNG
t bởi các ngân hàng đều đợc đảm bảo với mức xác suất cao , lãi thu đợc thờng dới dạng lãi suất cố định . Nhng khi có rủi ro ,mặc dù xảy ra với xác suất thấp
, mức vốn co thể mất lại không có giới hạn . Cã thĨ lÊy c¸c tr¸i phiÕu cã phiÕu lÜnh l·i cố định do các doanh nghiệp phát hành và các khoản cho vay
của ngân hàng để minh chứng cho mâu thuẫn giữa thu nhập và rủi ro tín dụng . Trong cả hai trờng hợp , nếu không có rủi ro , nguồn thu nhập của ngân hàng
là có giới hạn dới dạng lãi suất các khoản cho vay hoặc lãi suất trái phiếu, ng- ợc lại ngân hàng thờng mất toàn bộ phần lãi suất và có thể một phần hay toàn
bộ vốn gốc, điều này còn phụ thuộc vào khả năng bồi hoàn của tàI sản thế chấp và kết quả của việc thanh lý tài sản trong trờng hợp ngời đi vay phá sản.

1.2. KHáI NIệM vai trò của bảo Đảm an toàn vốn tín dụng.


1.2.1. Khái niệm.


Một trong những nhiệm vụ quan trọng của ngân hàng thơng mại là đảm bảo an toàn nguồn vốn tín dụng nhằm tối thiểu hoá rủi ro xảy đến với ngân
hàng. Để đạt đợc mục tiêu này, các ngân hàng sử dụng nhiều phơng pháp, quy trình đánh giá đảm bảo an toàn vốn tín dụng khác nhau, bao gồm cả chính
thức, bán chính thức và không chính thức. Mặc dù ngày nay các phơng pháp đánh giá, quản lý an toµn vèn tÝn dơng ngµy cµng hoµn thiƯn và tinh vi hơn đã
góp phần vào việc nâng cao hiệu quả, độ tin cậy của các quyết định về cho vay, nhng chúng vẫn không hoàn toàn khắc phục đợc những hạn chế vốn có,
thậm chí trong một vài trờng hợp có thể làm lạc hớng các chuyên gia ngân hàng. Và để đảm bảo thu hồi đợc nợ thì các ngân hàng phải xem xét thận
trọng đến uy tín và năng lực của khách hàng để từ đó áp dụng các phơng pháp cho vay thích hợp. Nếu khách hàng đợc đánh giá là tốt nh có phẩm chất tốt
trong kinh doanh, có khả năng tài chính mạnh, chấp hành tốt tất cả các hợp đồng tín dụng trong quá khứ và có triển vọng phát triển trong tơng lai thì
HàNG
ngân hàng có thể cho vay không cần phải có sự đảm bảo đối với món vay đó theo quy định. Mà ngợc lại, nếu khách hàng không đạt đợc các tiêu chuẩn đó
thì để hạn chế rủi ro, buộc ngân hàng phải thực hiện cho vay có bảo đảm. Đây là cơ sở để nguồn vốn tín dụng của ngân hàng luôn đợc đảm bảo an toàn
trong quá trình vận hành của mình. Nh vậy có thể nói rằng:
Bảo đảm an toàn vốn tín dụng là việc thiết lập những cơ sở pháp lý để có thêm nguồn thu nợ thứ hai ngoài nguồn thu nợ thứ nhất trong quan hệ tín
dụng của khách hàng với ngân hàng. Nguồn thu nợ thứ nhất của ngân hàng trong hoạt động kinh doanh là
doanh thu đối với cho vay vốn lu động hoặc là khấu hao và lợi nhuận đối với cho vay trung và dài hạn để hình thành tài sản cố định; trong hoạt động cho
vay nguồn này lại là thu nhập của cá nhân nh tiền lơng, các khoản thu nhập tài chính lãi cho vay, lãi các chứng khoán, và các thu nhập khác.
Nguồn thu nợ thứ hai của ngân hàng đợc thiết lập để nhằm mục đích
bảo đảm an toàn vốn tín dụng, đề phòng trờng hợp nguồn thu nợ thứ nhất không có khả năng thu hồi đợc.

1.2.2. Vai trò của bảo đảm an toàn vốn tín dụng.


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (72 trang)

×