1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

Bảo toàn vốn gắn liền với việc cho vay của ngân hàng.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (330.98 KB, 72 trang )


HàNG
thu hút đợc ngày càng nhiều khách hàng đến với ngân hàng, đảm bảo sự hoạt động của nguồn vốn đợc an toàn và hiệu quả nhất.
Tổ chức thực hiện cho vay đúng kỹ thuật, đúng quy trình và quy chế, không cho vay vợt quá khả năng kiểm soát của ngân hàng.
Thực hiện cho vay đúng quy chế nh mức cho vay tối đa đối với một khách hàng là bao nhiêu, mức bảo lãnh đối với một khách hàng đợc phép là
bao nhiêu, Để giảm thiểu rủi ro tín dụng, ngân hàng có thể áp dụng các hợp đồng
cho vay tín dụng với lãi suất có thể điều chỉnh đợc để giảm rủi ro lãi suất cho cả khách hàng và ngân hàng, nó cũng cho phép ngân hàng khai thác thêm thị
trờng mới với những khách hàng thích hợp loại cho vay này. Thực hiện chính sách hạ lãi suất cho vay để khuyến khích các doanh
nghiệp vay vốn, đồng thời tăng lãi suất huy động lên để thu hút nguồn tiền của công chúng. Từ đó, góp phần cân bằng nguồn vốn tín dụng và thúc đẩy
hoạt động kinh doanh của ngân hàng phát triển. Ngân hàng nên duy trì nguồn thanh khoản của mình ở mức cần thiết
thông qua việc tính toán và thông báo cho khách hàng biết khi cần thu hồi vốn. Khi lãi suất thị trờng có xu hớng tăng, ngân hàng có thể thông báo cho
khách hàng để thu hồi vốn nhằm tái đầu t với một mức lãi suất cao hơn. Việc này giúp ngân hàng hạn chế đợc những thiệt hại mang tính chi phí cơ hội và
đáp ứng đợc yêu cầu của khách hàng khi có nhu cầu vay vốn lu động thờng xuyên.
Tập trung xử lý những khoản tín dụng khó đòi, hạn chế và ngăn ngừa phát sinh nợ quá hạn mới, tạo cơ chế an toàn và hiệu quả hoạt động tín dụng.

3.2.3. Bảo toàn vốn gắn liền với việc cho vay của ngân hµng.


NghiƯp vơ kinh doanh sinh lêi quan träng nhÊt cđa ngân hàng là nghiệp vụ cho vay. Tín dụng là thị trờng rất sôi động, đầy tiềm năng cha đợc khai
thác, nhng đây lại là lĩnh vực phức tạp, có nhiều yếu tố bất ngờ. Đầu t vốn vào
HàNG
khu vực này nếu không có những giải pháp hữu hiệu thì sẽ dẫn đến nợ quá hạn, nợ khó đòi, thậm chí có thể dẫn đến mất vốn vì có rất nhiều thành phần
kinh tế tổ chức kinh doanh với phơng châm thực hiện mục tiêu lợi nhuận với bất kỳ giá nào và bằng mọi thủ đoạn trong sản xuất kinh doanh. Chính vì vậy
mà ngân hàng cần phải có những biện pháp thích hợp để vừa bảo toàn đợc vốn của mình vừa mở rộng đợc trong hoạt động cho vay.
Ngân hàng cần tôn trọng nguyên tắc và quy trình tín dụng, chấp hành mọi quy chế về tín dụng.
Đối với mỗi món vay ngân hàng cần phải thẩm định kỹ và tìm hiểu từ nhiều phía, từ nhiều nguồn thông tin, kể cả việc tìm hiểu qua ngời nhà, bạn bè
của ngời vay để nắm chắc tình hình sản xuất kinh doanh và tính đích thực của ngời vay. Điều quan trọng là thẩm định về t cách pháp nhân của ngời vay, còn
việc thẩm định về thị trờng nguyên liệu, thị trờng tiêu thụ, tính toán hiệu quả kinh tế qua các dự án sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp là điều cần
thiết nhng cũng chỉ mang tính khái niệm vì thờng thì các nguồn tài liệu mà doanh nghiệp gửi cho ngân hàng phần lớn là các số liệu giả, không đảm bảo
chính xác thực tế. Khi ta đã nắm chắc đối tác là ngời làm ăn đứng đắn, có tín nhiệm, thực sự vay vốn để sản xuất kinh doanh dịch vụ thì đó là cơ sở để ngân
hàng an tâm xem xét và đầu t vốn. Đối với những tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh khi thực hiện cho
vay mà ngân hàng thấy cha thật sự tin tởng vào giấy tờ sở hữu của tài sản đó có hợp pháp không, có đầy đủ không, đã sang tên hay cha,... thì theo quy chế
đối với những loại tài sản này ngân hàng không đợc phép cho vay nhng điều chủ yếu là ngân hàng nên căn cứ vào giấy tờ chứng minh đợc nguồn gốc
chính chủ và đích thực không phải là nhà đi thuê, nhà không thuộc đất quy hoạch, đất lấn chiếm. Ngân hàng nên tìm hiểu tại các cơ quan chức năng nh:
Viện quy hoạch thành phố, Sở Địa chính và Sở Nhà đất,... để ngân hàng có thể bảo đảm đợc nguồn vốn đầu t của mình có hiệu quả và an toàn nhất.
HàNG
Để bảo đảm đợc nguồn vốn của mình thì ngân hàng cần phải có biện pháp chống nợ quá hạn.
Ngân hàng nên tránh dồn vốn vào một khách hàng hoặc một nhóm khách hàng, nếu ngân hàng đầu t vốn vào một khách hàng thì tiềm ẩn trong
đó là rất nhiều rủi ro, nếu không may khách hàng này bị phá sản thì sẽ ảnh h - ởng rất lớn đến kết quả tài chính của ngân hàng, có thể kéo theo ngân hàng sẽ
bị thua lỗ hoặc phá sản. Chính vì ý nghĩa ngăn ngừa này mà luật ngân hàng thờng quy định các giới hạn cho vay đối với một khách hàng hoặc một nhóm
khách hàng nhằm hạn chế rủi ro xảy đến với ngân hàng. Ngân hàng nên cho vay nhiều đối tợng thuộc các loại hình khác nhau.
Điều này giúp cho ngân hàng đa dạng hoá đợc các hình thức cho vay và có thể mở rộng đợc khách hàng, nếu có rủi ro xảy ra thì rủi ro đó sẽ đợc phân
tán. Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, nếu khách hàng trong lĩnh vực này gặp khó khăn dẫn đến chậm trả nợ thì khách hàng khác hoạt
động có hiệu quả hơn sẽ trả nợ đúng hạn, do đó hoạt động kinh doanh của ngân hàng sẽ có hiệu quả hơn.
Ngân hàng hợp tác đầu t : hợp tác đầu t làm cho ngân hàng có thể cung cấp những khoản tín dụng lớn mà một ngân hàng không có đủ khả năng cho
vay vì theo luật các tổ chức tín dụng thì ngân hàng không đợc phép cho một khách hàng vay quá 15 vốn tự có của ngân hàng . Vì vậy, ngân hàng cần
phải hợp tác liên kết với các tổ chức tín dụng khác để từ đó đáp ứng đợc nhu cầu vốn và tạo quan hệ nhiều với khánh hàng nhằm đảm bảo an toàn vốn
trong cho vay của ngân hàng. Khi một doanh nghiệp có nhu cầu vốn lớn, các ngân hàng và các tổ chức tín dụng có thể hợp vốn để cho vay. Nếu quy mô tín
dụng không quá lớn thì có thể hai hoặc ba ngân hàng đứng ra cho vay; nhng nếu là một nhóm tín dụng rất lớn thì đòi hỏi phải có nhiều ngân hàng tham
gia. Vấn đề bảo hiểm tín dụng: hoạt động tÝn dơng lµ mét ngµnh kinh
doanh gặp nhiều rủi ro. Khách hàng khi vay vốn tại ngân hàng phải tham gia
HàNG
bảo hiểm cho ngành nghề mà họ kinh doanh. Vì vậy, đối với những khoản tín dụng đã đợc bảo hiểm ngân hàng nên có những chính sách u đãi hơn khi cho
vay. Vấn đề bảo lãnh ngân hàng: một ngân hàng khi cho vay một khoản tín
dụng lớn, có thể yêu cầu một ngân hàng hoặc một tổ chức tín dụng khác bảo lãnh một phần cho món vay đó. Nh vậy, khi rủi ro xảy ra ngân hàng sẽ không
phải gánh chịu một mình và sẽ không làm ảnh hởng nhiều đến hoạt động chung của ngân hàng.
Ngân hàng không nên tập trung vốn cho một ngành công nghiệp hoặc dịch vụ mà phải phân chia cho nhiều nguồn khác nhau.
Ngân hàng cần phải bảo hiểm cho chính mình bằng cách lập các quỹ nh : Quỹ bù đắp rủi ro, Quỹ bổ sung vốn,...
Kinh doanh trong cơ chế thị trờng rất đa dạng và phức tạp. Vì vậy, các ngân hàng cần phải nghiên cứu và hoàn thiện mọi mặt. Trong chiến lợc khách
hàng cần phải nghiên cứu cả chiều rộng lẫn chiều sâu, tạo cho ngân hàng mình một lợng khách hàng ổn định để từ đó tạo đà nhân rộng, thu hút thêm
khách hàng đến với ngân hàng. Cần tranh thủ sự chỉ đạo của các cấp uỷ đảng, chính quyền địa phơng vàa sự chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nớc.
3.2.4. Phân tích và đánh giá hồ sơ xin vay để vận dụng loại cho vay và kỹ thuật cho vay thích hợp.
Một trong những giải pháp quan trọng để đảm bảo an toàn vốn tín dụng là:
Ngân hàng phải phân tích hồ sơ xin vay và xếp loại khách hàng vay cụ thể để áp dụng loại cho vay và kỹ thuật vay thích hợp. Thông thờng các ngân
hàng chia khách hàng thành nhiều loại tốt xấu khác nhau theo những tiêu thức riêng của mình.
Để có thể phân tích đợc hồ sơ xin vay ngân hàng phải thu thập đầy đủ các thông tin về các mặt hoạt động của khách hàng và từ đó ngân hàng tiến
HàNG
hành phân tích năng lực của khách hàng trong đó chú trọng phân tích về năng lực tài chính, về t cách của khách hàng để áp dụng loại và kỹ thuật cho vay
thích hợp. Từ đó ngân hàng ngày càng tạo đợc nhiều khách hàng tốt và hạn chế đợc các rủi ro tín dụng xảy ra.

3.2.5. Về chÝnh s¸ch l·i suÊt.


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (72 trang)

×