1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Thạc sĩ - Cao học >

Tâm lý học tiếng Việt của học sinh dân tộc thiểu số thờng không ổn định.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (410.54 KB, 82 trang )


Đến trờng các em mới đợc học tiếng Việt. Đây quả l một vấn đề hết sức nan giải cho công tác giáo dục, đặc biệt l công việc phát triĨn, më réng
vèn tõ tiÕng ViƯt cho häc sinh tiĨu häc ng−êi d©n téc thiĨu sè.

2.2.3. T©m lý häc tiÕng Việt của học sinh dân tộc thiểu số thờng không ổn định.


Đối với tiếng mẹ đẻ thì học sinh dân tộc thiểu số học rất tự nhiên, thoải mái v l nhu cầu thiết yếu để tồn tại. Trong điều kiện sinh hoạt chủ
yếu dựa vo nếp sống nơng rẫy khá phóng túng, việc sử dụng tiếng mẹ đẻ để giao tiếp với nhau đã trở thnh nét văn hoá riêng, đặc thù của cộng đồng
ngời dân tộc thiểu số. Nhu cầu học tiếng Việt của học sinh dân tộc khá mờ nhạt, không có
mục tiêu học tập rõ rng. Điều ny có thể thấy đợc qua khảo sát tại lng KonTum Knâm, nơi đa số ngời dân tộc Ba Na sinh sống. Các em học sinh
ngời dân tộc thiểu số tại đây không hề xác định cho mình động cơ, mục tiêu học tập; với 202 hộ, khoảng 1390 nhân khẩu nhng số ngời có đợc
trình độ Đại học, Cao đẳng chỉ vi ngời. ở đây có nhiều nguyên nhân, cụ thể nh điều kiện kinh tế khó khăn, gia đình đông con v đặc biệt l quan
niệm đi học về cũng lên rẫy cuốc đất đã chi phối động lực phấn đấu học tập của họ. Bên cạnh đó, chính bản thân họ cũng không thích đi học.
Vả lại, môi trờng rèn luyện tiếng Việt không có, khi sử dụng tiếng Việt các em không biết đúng sai. ë ®iĨm nμy chóng ta dƠ dμng nhËn thÊy
häc sinh ngời dân tộc thiểu số có sự khác biệt rất lín so víi häc sinh ng−êi Kinh. Sù kh¸c biƯt thể hiện ở trình độ xuất phát: học sinh tiểu học ngời
Kinh học tiếng Việt trên cơ sở vốn liếng tiếng mẹ đẻ l tiếng Việt, đây l một u thế bẩm sinh, còn học sinh dân tộc thiểu số lại khác tiếng mẹ đẻ
của các em l tiếng Ba Na, Gia Rai. C¸i kh¸c thø hai lμ kh¸c vỊ m«i tr−êng häc tËp. M«i tr−êng häc tËp cđa học sinh ngời Kinh l môi trờng rộng
lớn, thoải mái mọi nhu cầu giao tiếp. Trong môi trờng gia đình, ngoi xã hội v các môi trờng giao tiếp gián tiếp khác các em đều rất thuận lợi
trong việc tiếp xóc víi tiÕng ViƯt. Víi häc sinh d©n téc thiĨu số thì môi trờng tiếng Việt lại rất hạn hẹp, không đợc thoải mái nhu cầu học tập.
Nếu chúng ta có dịp đi vo các xã vùng sâu của huyện Đăk Lei - Tỉnh Kon Tum nh Măng Buk, Đăk Rin, Ngọc Trem thì các trờng ny cách điểm
trung tâm từ 30 đến 40 km đờng lầy lội, rất khó ®i vμo mïa m−a, mμ ph−¬ng tiƯn duy nhÊt lμ đi bộ.
Cái khác nhau thứ ba l về cơ chÕ lÜnh héi. Häc sinh ng−êi Kinh häc tiÕng ViÖt xuất phát từ sự nói năng bộc phát, ngẫu nhiên từ trong môi
trờng giao tiếp chủ yếu l gia đình, xã hội v dần dần cách thức nói năng của các em trở thnh chuẩn mực khi bớc vo đầu cấp tiểu học. Học sinh
dân tộc thì ngợc lại. Bản thân các em không có điều kiện, môi trờng để tiÕp xóc víi tiÕng ViƯt. Giao tiÕp th«ng th−êng hμng ngy của các em l
tiếng mẹ đẻ. Chính vì vậy, khi đến trờng đợc học tiếng Việt một cách bi bản l điều thật sự không dễ dng đối với học sinh tiểu học ngời dân tộc
thiểu số.
2.3. Những nguyên tắc xây dựng, phát triển, mở rộng vốn từ cho häc sinh tiĨu häc ng−êi d©n téc thiĨu sè vïng Tây Nguyên.
Để hình thnh v phát triển năng lực sử dụng tiếng Việt cho học sinh tiểu học cần phải dựa trên những nguyên tắc nhất định. V đặc biệt l thực
hiện một số nguyên tắc có tính đặc thù của Từ ngữ. Trong quá trình phát triển, mở rộng vốn từ cho học sinh, giáo viên cần phải chú trọng đến sự bổ
trợ, tơng tác lẫn nhau giữa các nguyên tắc ny. Tuy nhiên, khi thực hiện việc phát triÓn vèn tõ cho häc sinh tiÓu häc ng−êi DTTS vùng Tây Nguyên,
chúng tôi tập trung nhấn mạnh một số nguyên tắc cơ bản sau:

2.3.1. Nguyên tắc hệ thống:


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (82 trang)

×