1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Thạc sĩ - Cao học >

Lý luận về phát triển và phát triển kinh tế tư nhân.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (669.55 KB, 174 trang )


Theo quy định của pháp luật Việt Nam: Công ty CP là doanh nghiệp có Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần
bằng nhau gọi là cổ phần; Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các khoản nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào
doanh nghiệp; Cổ đơng có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết; Cổ
đơng có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và khơng hạn chế tối đa.
Cơng ty CP có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Được phát hành cổ phiếu để huy động vốn.

2.1.2 Lý luận về phát triển và phát triển kinh tế tư nhân.


a Phát triển: Phạm trù triết học chỉ ra tính chất của những biến đổi đang diễn ra
trong thế giới. Phát triển là một thuộc tính phổ biến của vật chất. Mọi sự vật và hiện tượng của hiện thực không tồn tại trong trạng thái bất biến, mà trải
qua một loạt các trạng thái từ khi xuất hiện đến lúc tiêu vong. Phạm trù phát triển thể hiện một tính chất chung của tất cả những biến đổi ấy. Điều đó có
nghĩa là bất kì một sự vật, một hiện tượng, một hệ thống nào, cũng như cả thế giới nói chung khơng đơn giản chỉ có biến đổi, mà ln ln chuyển sang
những trạng thái mới, tức là những trạng thái trước đây chưa từng có và khơng bao giờ lặp lại hồn tồn chính xác những trạng thái đã có, bởi vì
trạng thái của bất kì sự vật hay hệ thống nào cũng đều được quyết định không chỉ bởi các mối liên hệ bên trong, mà còn bởi các mối liên hệ bên
ngoài. Nguồn gốc của phát triển là sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập. Phương thức phát triển là chuyển hoá những thay đổi về lượng
thành những thay đổi về chất, và ngược lại theo kiểu nhảy vọt. Chiều hướng phát triển là sự vận động xốy trơn ốc.
13
b Phát triển kinh tế: Quá trình biến đổi nền kinh tế quốc dân bằng một sự gia tăng sản xuất
và nâng cao mức sống của dân cư. Đối với các nước đang phát triển PTKT là quá trình nền kinh tế chậm phát triển thốt khỏi lạc hậu, đói nghèo, thực hiện
cơng nghiệp hố, hiện đại hoá; là sự tăng trưởng kinh tế gắn liền với sự thay đổi cơ cấu kinh tế, thể chế kinh tế, văn hố, pháp luật, thậm chí về kĩ năng
quản lý, phong cách và tập tục. Tăng trưởng kinh tế là tiền đề và điều kiện tất yếu của PTKT, nhưng không đồng nghĩa với PTKT. Tăng trưởng kinh tế là
tăng thu nhập và sản phẩm bình quân đầu người. PTKT bao hàm ý nghĩa rộng hơn tăng trưởng kinh tế, vì trong tăng trưởng kinh tế, thu nhập bình quân
đầu người chỉ là thước đo về số lượng, chưa biểu thị được chất lượng. Về khía cạnh chất lượng, PTKT có ý nghĩa rộng lớn hơn tổng sản phẩm thực tế của
nền kinh tế, nó bao gồm hầu như tất cả các khía cạnh văn hố, xã hội, chính trị. Cho nên, PTKT khơng phải chỉ là sự tăng trưởng, vì nó có những mục tiêu
khác với sự tăng trưởng đơn giản của tổng sản phẩm quốc dân. Sự phát triển là quá trình một xã hội đạt đến trình độ thoả mãn các nhu cầu mà xã hội ấy
coi là cơ bản. PTKT được xem xét trước hết và cơ bản ở ba khía cạnh chính: 1 Tổng sản phẩm trong nước GDP hay tổng sản phẩm quốc dân GNP tính
theo đầu người. Đây là chỉ tiêu tổng hợp, thể hiện đại thể và căn bản về trạng thái kinh tế, sự tăng trưởng và sự phát triển của một nước. Nhưng xét về mặt
chất lượng, còn phải xem xét năng suất lao động chung và năng suất của các ngành, các vùng khác nhau, thu nhập của các tầng lớp dân cư và của các vùng
khác nhau. 2 Mức độ thoả mãn các nhu cầu xã hội được coi là cơ bản, tức là các chỉ tiêu xã hội về phát triển; chúng phản ánh chất lượng của sự phát triển
xét về nội dung phương thức sinh hoạt kinh tế như tuổi thọ bình quân, số calo theo đầu người, tỉ lệ người biết chữ, vv. 3 Cơ cấu của nền kinh tế, tính chất
và sự thay đổi của nó.
14
+ Phát triển kinh tế theo chiều rộng PTKTTCR: Phát triển kinh tế bằng cách tăng số lượng lao động, khai thác thêm các
nguồn tài nguyên thiên nhiên, tăng thêm tài sản cố định và tài sản lưu động trên cơ sở kĩ thuật như trước. Trong điều kiện một nước kinh tế chậm phát
triển, những tiềm năng kinh tế chưa được khai thác và sử dụng hết, nhất là nhiều người lao động chưa có việc làm thì PTKTTCR là cần thiết và có ý
nghĩa quan trọng, nhưng đồng thời phải coi trọng phát triển kinh tế theo chiều sâu. Nó thể hiện ở chỗ mức tăng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân vừa
dựa vào lực lượng lao động và tài sản cố định, vừa dựa vào cải tiến thiết bị, kĩ thuật, công nghệ và tăng năng suất lao động. Tuy nhiên, PTKTTCR có những
giới hạn, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội thấp. Vì vậy, phương hướng cơ bản và lâu dài là phải chuyển sang phát triển kinh tế theo chiều sâu
+ Phát triển kinh tế theo chiều sâu PTKTTCS: Phát triển kinh tế chủ yếu nhờ đổi mới thiết bị, áp dụng công nghệ tiên
tiến, nâng cao trình độ kĩ thuật, cải tiến tổ chức sản xuất và phân công lại lao động, sử dụng hợp lý và có hiệu quả các nguồn nhân tài, vật lực hiện có.
Trong điều kiện hiện nay, những nhân tố phát triển theo chiều rộng đang cạn dần, cuộc cách mạng khoa học - kĩ thuật trên thế giới ngày càng phát triển
mạnh với những tiến bộ mới về điện tử và tin học, công nghệ mới, vật liệu mới, công nghệ sinh học đã thúc đẩy các nước coi trọng chuyển sang
PTKTTCS. Kết quả PTKTTCS được biểu hiện ở các chỉ tiêu: tăng hiệu quả kinh tế, tăng năng suất lao động, giảm giá thành sản phẩm, giảm hàm lượng
vật tư và tăng hàm lượng chất xám, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng hiệu suất của đồng vốn, tăng tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân theo đầu
người. ở Việt Nam và một số nước chậm phát triển, do điều kiện khách quan có tính chất đặc thù, kinh tế chậm phát triển, nên phát triển kinh tế theo chiều
15
rộng vẫn còn có vai trò quan trọng. Nhưng để mau chóng khắc phục sự lạc hậu, đuổi kịp trình độ phát triển chung của các nước trên thế giới, trước hết là
các nước trong khu vực, PTKTTCS phải được coi trọng và kết hợp chặt chẽ với phát triển theo chiều rộng trong phạm vi cần thiết và điều kiện có cho
phép. c Phát triển kinh tế tư nhân: Là q trình tăng lên về quy mơ và có sự
thay đổi về cơ cấu dẫn tới tăng lên cả về chất và lượng của khu vực kinh tế tư nhân. Tăng lên về số lượng nghĩa là ở đó có sự tăng trưởng về số lượng các
doanh nghiêp, quy mô doanh nghiệp được mở rộng, lao động tăng lên, mặt bằng sản xuất kinh doanh được mở rộng, máy móc thiết bị được đầu tư. Tăng
lên về chất là tăng về hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp, trình độ quản lý được nâng lên, trình độ sản xuất kinh doanh phát triển lên một bước mới,
thị trường khơng ngừng được mở rộng, giá trị đóng góp cho nền kinh tế của khu vực KTTN ngày càng tăng lên. Thay đổi về cơ cấu trong lao động, cơ cấu
ngành nghề kinh doanh, cơ cấu vốn...
2.2 Nội dung cơ bản của phát triển kinh tế tư nhân. 2.2.1 Sự phát triển số lượng, quy mô
Hộ cá thể, Doanh nghiệp là một bộ phận cấu thành của kinh tế tư nhân, do vậy số lượng hộ cá thể và các doanh nghiệp ngày càng nhiều chứng tỏ
KTTN ngày càng phát triển. Phát triển KTTN là phải có sự tăng trưởng nghĩa là sự gia tăng về số lượng, quy mô hộ cá thể và các doanh nghiệp trong khu
vực kinh tế tư nhân. Sự phát triển về quy mô, số lượng hộ cá thể, các doanh nghiệp là một trong những tiêu chí quan trọng để nghiên cứu đánh giá sự phát
triển kinh tế tư nhân. Quy mơ của hộ cá thể, doanh nghiệp có thể hiểu là độ lớn của từng cơ
16
sở về vốn, lao động, mặt bằng sản xuất kinh doanh…Phát triển quy mô chính là làm cho các yếu tố này của từng hộ, doanh nghiệp lớn lên, phù hợp hơn.
Quy mô hộ, doanh nghiệp hợp lý là sự đầu tư hợp lý về vốn, lao động, mặt bằng sản xuất kinh doanh…nhằm tạo ra sản phẩm hàng hóa, dịch vụ phù hợp
yêu cầu, mục tiêu kinh tế xã hội, với nhu cầu thị trường, đem lại lợi nhuận cho hộ, doanh nghiệp.
Phát triển về số lượng hộ cá thể, doanh nghiệp không chỉ là sự tăng lên về số lượng đăng ký kinh doanh, mà là sự tăng lên về số lượng hộ cá thể,
doanh nghiệp hoạt động thực chất và ổn định; mặt khác sự tăng lên về số lượng đó phải phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế xã hội.
Phát triển vế số lượng, quy mô hộ cá thể, doanh nghiệp cần được xem xét đánh giá cơ cấu ngành nghề, khu vực hợp lý đáp ứng nhu cầu của
thị trường trong nước và xuất khẩu cũng như cơ cấu về trình độ cơng nghệ phù hợp với sự phát triển nhanh chóng của khoa học- cơng nghệ trong
nước và thế giới. Sự phát triển về số lượng, quy mô hộ cá thể, doanh nghiệp phải được
kiểm chứng thơng qua cạnh tranh, uy tín thương hiệu, nói cách khác chỉ tăng thêm số lượng những doanh nghiệp đứng vững và phát triển trong điều kiện
cạnh tranh, hội nhập mới đánh giá đúng sự phát triển của kinh tế tư nhân.

2.2.2 Vấn đề mở rộng thị trường


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (174 trang)

×