1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Thạc sĩ - Cao học >

Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (669.55 KB, 174 trang )


2.5.4 Quan hệ giữa nhà nước và doanh nghiệp


Mối quan hệ giữa nhà nước và doanh nghiệp thông qua các cơ chế, chính sách như luật Doanh nghiệp, các chính sách khuyến khích, ưu đãi đầu
tư có tác động rất lớn tới sự phát triển của Doanh nghiệp. Thực tế hiện nay sự hỗ trợ của nhà nước đối với khu vực KTTN tuy đã
có những bước thay đổi tích cực tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của kinh tế tư nhân.
Hoạt động hỗ trợ, hướng dẫn khởi nghiệp mới tập trung chủ yếu vào tuyên truyền phổ biến pháp luật, hướng dẫn các thủ tục thành lập doanh
nghiệp mà cũng chỉ tập trung ở những thành phố và những vùng đô thị. Còn các cơng việc hỗ trợ khác như: đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực, dịch vụ kế
toán, xúc tiến thương mại, chuyển giao khoa học công nghệ, cung cấp thơng tin, đào tạo, tư vấn quản lý...còn q ít so với yêu cầu, còn mang nặng cơ chế
xin cho. Thiếu sự công bằng và kém hiệu quả.

2.5.5 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên.


Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên là một trong những yếu tố khách quan tác động lớn tới quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ, doanh
nghiệp. Nó ảnh hưởng tới chi phí vận chuyển, khả năng tiếp cận thị trường nhanh hay chậm, khả năng được hưởng các ưu đãi từ địa phương… Yếu tố vị
trí địa lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi mang lại lợi thế cạnh tranh cho hộ, doanh nghiệp.
Chính vì vậy, hiện nay các doanh nghiệp mới thành lập thường xin lập dự án và thuê đất tại những nơi có cơ sở hạ tầng tốt, hệ thống giao thông
thuận lợi, gần các cảng hàng không và cảng biển. Thường tập trung ở các vùng đồng bằng, đơng dân cư…
Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên có những tác động tới doanh nghiệp
33
ngay cả trong ý thức ban đầu của người quản lý doanh nghiệp, nó ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển của doanh nghiêp sau này. Vì vậy để doanh nghiệp
yên tâm sản xuất, góp phần hỗ trợ tối đa cho các doanh nghiệp, nâng cao lợi thế cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong nước chúng ta tiến hành xây dựng
các khu công nghiệp tập trung, ưu tiên xây dựng hạ tầng kỹ thuật tốt đi kèm sẽ tránh được hiện tượng doanh nghiệp đua nhau xây dựng các nhà máy, xí
nghiệp bám mặt đường giao thơng chính và quá gần các vùng, khu dân cư, gây ra nhiều bất lợi trong phát triển kinh tế xã hội sau này.
2.6 Cơ sở thực tiễn 2.6.1 Tình hình phát triển KTTN ở các nước trên thế giới.
Tại Trung Quốc:
Hội nghị Trung ương 3 khóa XI Đảng cộng sản Trung Quốc 2004 đã khẳng định kinh tế dân doanh là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền
kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa. Kinh tế dân doanh ở Trung Quốc bao gồm 4 loại chính là hộ kinh doanh cá thể, xí nghiệp tư nhân, xí nghiệp khoa học kỹ
thuật dân doanh và xí nghiệp hương trấn đã được cải tạo, trong đó hộ kinh doanh cá thể chiếm số lượng đông nhất với 30 triệu hộ, có số vốn đăng ký
khoảng 2500 tỷ NDT và thu hút 100 triệu lao động. Trong hơn 20 quan bộ phận kinh tế này đã phát triển mạnh mẽ với tốc độ tăng trưởng hơn 20năm,
chiếm khoảng 50 tổng sản lượng kinh tế Trung Quốc. Hiện nay mỗi ngày ở Trung Quốc có thêm 1500 doanh nghiệp dân
doanh được thành lập. Tính bình qn, mỗi doanh nghiệp dân doanh giải quyết việc làm cho 6,1 lao động thất nghiệp và mỗi năm có hơn 1 triệu người
thất nghiệp tìm kiếm được việc làm ở các xí nghiệp này. Tại một số huyện thuộc hai tỉnh Quảng Đông và Chiết Giang, kinh tế dân doanh đã chiếm
khoảng 80 tổng GDP. Nhờ phát triển kinh tế dân doanh, hai tỉnh này đã đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế rất cao và trở thành “hiện tượng kinh tế ở Trung
34
Quốc” Theo Thời báo kinh tế Việt Nam ngày 2382004.
Trong 5 năm trở lại đây, nhân lực KTTN Trung Quốc tăng gần 10 Một trong 16 lao động ở Đại lục Trung Quốc là tự doanh hoặc là làm
việc cho một công ty tư nhân nội địa. Điều này đánh dấu một sự phát triển quan trọng trong lĩnh vực tư nhân của Trung Quốc.
Ban Quản lý Công nghiệp và Thương mại Nhà nước SAIC báo cáo có năm 2006 có 120 triệu người, tăng 9,5 so với năm 2005, đang làm việc
trong lĩnh vực tư nhân, khơng tính các cơng ty ở Hồng Kông, Đài Loan, Macao và đầu tư nước ngoài.
Trong năm 2006, khoảng 9,3 trong thu nhập thuế quốc gia, 349,5 tỉ nhân dân tệ đến từ các công ty tư nhân, tăng 28,7 so với năm trước đó và
cao hơn mức tăng thu nhập thuế trung bình của quốc gia là 21,9. Cá nhân tự doanh đã trả 119,5 tỉ nhân dân tệ tiền thuế, chiếm 3,2
trong tổng thuế của quốc gia. Theo SAIC các DNTN và cá nhân đã duy trì phát triển với sản lượng
chung tăng 16,1 và đối với cá nhân tự doanh đã tăng 9,4. “Sự tăng trưởng đều đặn như thế đã làm nhẹ bớt áp lực việc làm của
quốc gia”, theo SAIC. Khoảng 132 triệu doanh nghiệp mới do cá nhân tự doanh điều hành đã
đăng ký trong năm 2006, tăng 5,4 so với năm trước đó, nâng tổng số doanh nghiệp cá nhân của Trung Quốc lên gần 26 triệu.
Tổng tài sản của họ tăng 11,4 - hoặc 65,93 tỉ nhân dân tệ - lên 646,9 tỉ nhân dân tệ, với tài sản bình quân tăng 1.343 nhân dân tệ, hoặc 5,7, lên
25.000 nhân dân tệ. Hơn 80 cá thể doanh nghiệp cá nhân tham gia lĩnh vực dịch vụ, chủ
35
yếu là bán buôn và bán lẻ. Để hỗ trợ cho KTTN và các loại hình doanh nghiệp phát triển vững
chắc, có đóng góp ngày càng nhiều cho nền kinh tế. Trung quốc tiến hành thành lập nhiều cơ quan với các chức năng khác nhau hỗ trợ và quản lý phát
triển các doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN nói riêng và các loại hình doanh nghiệp nói chung như: ủy ban đổi mới và quản lý quốc gia, cơ quan xây dựng
các chiến lược nòng cốt để phát triển và đổi mới nền kinh tế, trong đó bao gồm một loạt các chính sách xúc tiến, quan tâm phát triển KTTN và các
doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân. Thành lập các phòng, các cơ quan nghiên cứu, hỗ trợ các doanh nghiệp về thị trường, nghiên cứu chính
sách, phát triển, đổi mới cơng nghệ, máy móc thiết bị. Ngoài việc thành lập các cơ quan chức năng ở Trung ương và các địa
phương nhằm hỗ trợ thúc đẩy sự phát triển kinh tế tư nhân. Chính phủ Trung Quốc còn thể hiện sự nhạy bén, tầm nhìn chiến lược trong việc hoạch định
chính sách và xây dựng các chương trình cụ thể nhằm thu hút tối đa các nguồn lực tư nhân trong và ngoài nước vào sự nghiệp phát triển kinh tế đất
nước. Thực hiện chính sách mở cửa, hỗ trợ xuất khẩu, miễn giảm thuế đối với khu vực KTTN đặc biệt khuyến khích các DNTN tại địa phương phát triển.
Có chính sách hỗ trợ về tài chính, tín dụng đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN trong việc đổi mới cơng nghệ,
máy móc thiết bị, nâng cao năng suất lao động. Các công ty tư nhân của Trung Quốc được phép xuất khẩu trực tiếp, chính sách hồn thuế và điều
chỉnh linh hoạt về tỷ giá là công cụ được sử dụng để hỗ trợ xuất khẩu cho doanh nghiệp.
Không ngừng cải thiện môi trường đầu tư bằng việc hồn thiện các chính sách kinh tế vĩ mơ, tạo mơi trường bình đẳng cho các doanh nghiệp và
36
các thành phần kinh tế phát triển. Cụ thể xây dựng cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật, xây dựng các khu công nghiệp tập trung, các khu chế xuất tại các vùng,
miền trong cả nước, đơn giản hóa các thủ tục hành chính, các thủ tục phê duyệt dự án đầu tư, giao quyền cho cơ sở, tạo sự tự chủ cho chính quyền địa
phương trong việc thực hiện chính sách phát triển kinh tế gắn với điều kiện thực tế của từng địa phương. Khuyến khích tư nhân nước ngồi cũng như
cơng dân Trung quốc ở nước ngồi về nước thành lập cơng ty, đầu tư vốn vào lục địa với chính sách khơng phân biệt, đối xử.
Chính phủ Trung Quốc đã sớm nhận biết được giá trị cũng như tầm quan trọng của KTTN đối với sự phát triển kinh tế đất nước, chính phủ có
những quan tâm, xây dựng các chiến lược cụ thể thành lập các cơ quan quản lý, tham mưu từ Trung ương tới địa phương thường xuyên hỗ trợ, đóng góp
cho sự phát triển của kinh tế tư nhân, từ đó khai thác được tối đa các nguồn lực từ tư nhân cho đất nước. Từng bước đi, Quyết sách của Trung Quốc trong
vấn đề phát triển KTTN là bài học kinh nghiệm sâu sắc mà Việt Nam cần quan tâm nghiên cứu, từ đó rút ra giá trị cho riêng mình.
Tại Hungary: Hungary là một quốc gia nằm giữa Đơng Âu, phía bắc
giáp nước cộng hòa Slovakia, phía tây giáp nước Cộng hòa Áo, phía đơng giáp Cộng hòa Rumania và Ukraina, phía nam giáp Nam Tư cũ. Hungary là
nước có diện tích tự nhiên nhỏ 93.000 km
2
, đất đai tương đối bằng phẳng, phì nhiêu, điều kiện tự nhiên thuận lợi. Trong quan hệ đối ngoại Hungary có quan
hệ gần gũi với Việt Nam. Xét trong khối xã hội chủ nghĩa trước đây Hungary là một nước có nền kinh tế khá phát triển, với sự phát triển mạnh và cân đối
giữa công nghiệp và nông nghiệp. Sau khi chủ nghĩa xã hội sụp đổ ở Đơng Âu, Hungary đã tìm hướng đi
mới cho mình, thực hiện chuyển đổi nền kinh tế từ vận hành theo cơ chế kế
37
hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường bằng việc thực hiện tư nhân hóa các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế. Việc tư nhân hóa và thực hiện phát
triển KTTN ở Hungary được tiến hành rất bài bản. Chính phủ đã thành lập ủy ban tư nhân hóa Nhà nước do Hiệu trưởng trường đại học kinh tế Budapest
Corvinus làm chủ tịch. Ủy ban này vạch ra kế hoạch tư nhân hóa và phát triển KTTN ở các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế và trực tiếp chỉ đạo việc thực
hiện kế hoạch đó. Q trình phát triển KTTN ở Hungary được thực hiện một cách khoa
học, có định hướng và kế hoạch cụ thể dài hạn với yêu cầu và nội dung cụ thể như sau:
+ Quá trình phát triển KTTN ở Hungary được đặt trên tiêu chí phát triển bền vững và đảm bảo tính trong sạch. Những hành động gian lận, vi
phạm pháp luật trong sản xuất kinh doanh, điều hành quản lý sẽ bị các cơ quan bảo vệ pháp luật xử lý nghiêm minh.
+ Tiến hành huy động vốn từ các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước bước đầu bằng cách chuyển đổi các công ty, doanh nghiệp Nhà nước
thành các công ty Cổ phần, công ty Trách nhiệm hữu hạn. việc bán các doanh nghiệp Nhà nước được thực hiện chủ yếu thông qua thị trường, tức là tiến
hành bán các doanh nghiệp thơng qua đấu giá, ngồi ra việc mua bán cũng có thể được tiến hành thơng qua thị trường chứng khốn, những người mua
doanh nghiệp có thể thanh tốn trực tiếp bằng tiền mặt, bằng chuyển khoản hoặc bằng các hình thức tín dụng phổ biến trong nền kinh tế. Cán bộ, công
nhân trong các doanh nghiệp được bán đấu giá được tạo điều kiện mua một phần cổ phiếu của công ty. Trong giai đoạn đầu các Nhà đầu tư nước ngoài đã
cung cấp cho Hungary tới 60 vốn để thực hiện q trình tư nhân hóa. + Trong quá trình phát triển KTTN và tiến hành tư nhân hóa, những tổ
38
chức cá nhân bị thiệt hại kinh tế, sẽ được Nhà nước đền bù một phần. Kết quả: đến năm 2000 Hungary đã cơ bản hoàn thành quá trình tư
nhân hóa, từ năm 2001 đến nay là q trình hồn thiện, song song với q trình tư nhân hóa là tạo điều kiện thuận lợi về mơi trường cho khu vực KTTN
phát triển, đóng góp nhiều hơn cho đất nước. Theo thống kế đã có 1243 doanh nghiệp được bán cho công chúng và các nhà đầu tư tư nhân trong và ngoài
nước với số tiền 1979 tỷ forint, trong đó nhà đầu tư nước ngồi 53, nhà đầu tư trong nước 47 nguồn sách phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở
Hungary- NXB chính trị quốc gia. Bên cạnh việc thực hiện khuyến khích phát triển KTTN và tiến hành tư
nhân hóa các loại hình doanh nghiệp trên tồn quốc, Hungary thực hiện chính sách hỗ trợ cho sự phát triển của các doanh nghiệp bằng việc hình thành các
“Vườn ươm doanh nghiệp”, các trung tâm hỗ trợ doanh nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực khoa học công nghệ tại các tỉnh, thành phố. Với chức năng hỗ trợ,
tạo điều kiện tối ưu, giúp đỡ các doanh nghiệp trong việc hướng dẫn, cung cấp địa chỉ, các dịch vụ ưu đãi khi doanh nghiệp có nhu cầu đổi mới công
nghệ…là cầu nối giữa các doanh nghiệp với nhau và cầu nối giữa doanh nghiệp với thị trường.
Tại Hoa Kỳ:
Hoa Kỳ là quốc gia đặc trưng của chủ nghĩa Tư bản, có nền kinh tế thị trường phát triển mạnh bậc nhất trên thế giới, tại thị trường Hoa kỳ khu vực
KTTN phát triển mạnh mẽ và đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế nước này, các doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN mà trong đó trên 90 là các
doanh nghiệp vừa và nhỏ, hàng năm đóng góp trên 50 giá trị tổng sản lượng của tồn nền kinh tế.
Một loại hình DNTN mới nhưng ngày càng đóng vai trò lớn trong nền
39
kinh tế Mỹ là các doanh nghiệp” Tại gia”. Các doanh nghiệp tại gia có thể gọi là các doanh nghiệp siêu nhỏ hiện chiếm tới 53 tổng số doanh nghiệp nhỏ ở
Mỹ. Các doanh nghiêp tư nhân tại gia này hoạt động trong các lĩnh vực dịch vụ 52, xây dựng 16, bán lẻ 14, ngoài ra các doanh nghiệp này còn
hoạt động trong lĩnh vực tài chính, bảo hiểm và bất động sản 5 giao thông vận tải và tiện ích 4, chế tạo 3 và bán buôn 3.
KTTN Mỹ khơng chỉ đóng góp về giá trị kinh tế cho nền kinh tế Mỹ mà còn thể hiện vai trò nổi bật trong tạo và giải quyết việc làm cho lao động.
Khu vực KTTN giải quyết trên 90 số việc làm trong nền kinh tế cũng như số chỗ làm mới hàng năm.
Để tạo điều kiện hỗ trợ, thúc đẩy KTTN phát triển tại Mỹ cơ quan chính phủ Mỹ chia ra các phòng ban khác nhau để hỗ trợ cho các doanh
nghiệp. Cục kinh doanh và kinh tế có vai trò xúc tiến các doanh nghiệp ra thị trường ngồi nước thơng qua đàm phán nhằm giảm các rào cản thương mại và
đầu tư, đòi hỏi ưu đãi, bảo vệ quyền sở hữu cho các doanh nghiệp Mỹ. một cơ quan khác là Ủy ban hỗ trợ hợp tác thương mại Liên bang, cơ quan hoạch
định các quyết định mang tính chiến lược về nguồn lực và chương trình hành động, tạo mối liên kết thương mại quốc tế hội nhập cao và hiệu quả, tổ chức
các chương trình phát triển doanh nghiệp Mỹ. Ngồi ra Mỹ còn thành lập các Ủy ban cố vấn thương mại, chính sách cho chính phủ trong việc ra các
quyết sách có liên quan đến các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp trong khu vực kinh tế tư nhân, thành lập các Trung tâm tại các địa phương
và Trung ương với nhiệm vụ hỗ trợ các doanh nghiệp về tài chính, marketing, sản xuất, tổ chức giải quyết các vấn đề về khoa học và kỹ thuật,
các nghiên cứu khả thi, thương mại quốc tế, hỗ trợ về khoa học công nghệ, về lợi nhuận... Có thể nói rằng những vấn đề liên quan đến phát triển KTTN
được chính phủ Mỹ hết sức quan tâm và có đường lối chính sách, giải pháp,
40
cơng cụ thực hiện có hiệu quả.
Tại các nước đang phát triển ở Châu Á:
Đối với khu vực Châu Á, tuy bị gián đoạn vào nửa cuối năm 2001, nhưng tư nhân hóa đang được khởi động lại với tốc độ dự kiến sẽ nhanh và
mạnh hơn trước. Một số quốc gia và vùng lãnh thổ như: Hồng Kông, Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan, Inđơnêxia, Philippin đều có chính sách khuyến
khích KTTN phát triển và đặc biệt là chủ trương thực hiện tư nhân hóa các cơng ty Nhà nước, tiến hành bán cho tư nhân trong một số ngành như Năng
lượng, Ngân hàng, Viễn thông… Thành công trong phát triển kinh tế ở các nền kinh tế Đông Á được thể
hiện ở thành tích vượt trội của các cơng ty tư nhân, thu hút một lượng lớn lao động, tạo nhiều chỗ làm việc và có đóng góp lớn cho nền kinh tế. Đặc biệt
như Đài Loan với chính sách ưu tiên phát triển kinh tế tư nhân, phát triển các doanh nghiệp có quy mơ vừa và nhỏ trong khu vực KTTN trong lĩnh vực
công nghiệp chế tạo, với chiến lược cơng nghiệp hóa hướng vào xuất khẩu được xây dựng từ những năm 1960 đã mang lại những thành công to lớn cho
Đài Loan. Khả năng sinh lời cao và đóng góp to lớn cho nền kinh tế Đài Loan một phần do các công ty tư nhân ở đây lựa chọn hướng đi đúng, và lựa chọn
một quy mô phù hợp, vừa đủ lớn để tạo được sự phù hợp cần thiết tạo nên sự linh hoạt, đây cũng là lý do chính giải thích sự tăng trưởng nhanh của những
nước trong khu vực thực hiện cơng nghiệp hóa hướng về xuất khẩu. Trong giai đoạn hiện nay, khi nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngồi
FDI vào các nước đang phát triển có xu hướng chững lại, việc phát huy nội lực được khuyến khích trong mọi nền kinh tế thì khu vực KTTN càng
có điều kiện sớm thể hiện vai trò tích cực của mình trong duy trì và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế quốc dân. Malaysia có thể được coi là một tấm
41
gương về hỗ trợ KTTN với nhiều chương trình quy mơ trong những năm gần đây.
Trong khi đó chính Phủ Nhật Bản đã cho các xí nghiệp tư nhân có quy mô vừa và nhỏ vay vốn không thế chấp, không người bảo đảm và không bảo
đảm của người lập nghiệp từ quỹ Đời sống quốc dân khoản vay trị giá 5,5 triệu Yên với thời gian 5 năm đối với vốn lưu động, 7 năm đối với vốn mua
máy móc thiết bị, Chính phủ có những cải cách, hồn thiện phương thức quản lý Nhà nước đối với khu vực kinh tế tư nhân, quan tâm tới vấn đề xúc
tiến thương mại, hỗ trợ các công ty tư nhân lựa chọn phát triển ngành, sản phẩm chủ lực, hướng ra xuất khẩu, tập trung và những ngành, lĩnh vực mà
sản phẩm có sự kết tinh hàm lượng khoa học kỹ thuật cao như chế tạo máy, Điện tử viễn thơng….
Ở Thái Lan, hậu quả của khủng hoảng tài chính tiền tệ 1997 đã buộc Chính phủ phải có chính sách thơng thống và biện pháp thiết thực hơn.
Trước hết là tiến hành cải tổ các hệ thống bảo lãnh tín dụng, tổ chức tài chính chuyên phục vụ các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các doanh nghiệp tư nhân,
trong đó ưu tiên cải thiện năng lực của cả người cho vay lẫn người đi vay. Ngoài ra để khuyến khích tinh thần sáng tạo, ý tưởng kinh doanh mới, chính
phủ cho lập Quỹ mạo hiểm để cung cấp vốn cho các hoạt động này. Chính phủ ưu tiên hỗ trợ xuất khẩu, coi trọng tự do hóa trong kinh doanh của khu
vực tư nhân, sử dụng linh hoạt các biện pháp về thuế, trợ giúp xuất khẩu và thực thi chính sách tỷ giá hối đối linh hoạt theo hướng duy trì đồng bản tệ
“rẻ”. Chính phủ cũng đặc biệt coi trọng các hoạt động xúc tiến thương mại để hỗ trợ quảng bá thương hiệu và tìm kiếm thị trường, bạn hàng cho doanh
nghiệp trong nước. Nhìn chung trong xu thế hiện nay, trước xu thế toàn cầu hóa, hội nhập
42
kinh tế quốc tế diễn ra mạnh mẽ các quốc gia trên thế giới đều coi trọng sự phát triển và đóng góp của KTTN vào sự phát triển chung của nền kinh tế đất
nước, đây là bộ phận kinh tế quan trọng, không thể thiếu trong quá trình phát triển đi lên của mỗi quốc gia. Vì vậy, căn cứ vào đặc điểm riêng, thế mạnh
của từng quốc gia, các nước ở trên đều đưa ra những chiến lược, biện pháp hỗ trợ cũng như phát huy tối đa giá trị của khu vực kinh tế tư nhân. Đây là những
bài học kinh nghiệm hết sức sâu sắc mà các nhà hoạch định chính sách của Chính phủ Việt Nam cũng như các doanh nghiệp Việt Nam cần nghiên cứu
học tập, rút kinh nghiệm cho mình.

2.6.2 Tình hình phát triển KTTN ở Việt Nam.


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (174 trang)

×