1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Thạc sĩ - Cao học >

Tình hình phát triển KTTN ở Việt Nam.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (669.55 KB, 174 trang )


kinh tế quốc tế diễn ra mạnh mẽ các quốc gia trên thế giới đều coi trọng sự phát triển và đóng góp của KTTN vào sự phát triển chung của nền kinh tế đất
nước, đây là bộ phận kinh tế quan trọng, khơng thể thiếu trong q trình phát triển đi lên của mỗi quốc gia. Vì vậy, căn cứ vào đặc điểm riêng, thế mạnh
của từng quốc gia, các nước ở trên đều đưa ra những chiến lược, biện pháp hỗ trợ cũng như phát huy tối đa giá trị của khu vực kinh tế tư nhân. Đây là những
bài học kinh nghiệm hết sức sâu sắc mà các nhà hoạch định chính sách của Chính phủ Việt Nam cũng như các doanh nghiệp Việt Nam cần nghiên cứu
học tập, rút kinh nghiệm cho mình.

2.6.2 Tình hình phát triển KTTN ở Việt Nam.


Ở Việt Nam vị trí và vai trò của KTTN ngày càng được khẳng định. Sự đổi mới về nhận thức, quan điểm và chính sách của đảng từ đại hội Đảng VI
đến nay đã tạo điều kiện để KTTN phát triển, quan điểm và chính sách khuyến khích phát triển KTTN ở Việt Nam được tóm lược như sau:
+ Thừa nhận khu vực tư nhân là một bộ phận quan trọng đóng góp vào sự phát triển kinh tế đất nước. Cho phép đảng viên được làm KTTN là một
bước đột phá trong quan điểm của Đảng ta. + Có biện pháp xây dựng hình ảnh tốt hơn về khu vực kinh tế tư nhân,
như tôn vinh các tư nhân làm kinh tế giỏi, xóa bỏ dần sự phân biệt đối xử với kinh tế tư nhân. Có những biện pháp khuyến khích KTTN phát triển như xây
dựng, sửa đổi Luật Doanh nghiệp, cải cách thủ tục hành chính, thủ tục thành lập doanh nghiệp, xóa bỏ các quy định gây phiền hà, kìm hãm sự phát triển
của các doanh nghiệp. + Sửa đổi luật, đơn giản hóa các thủ tục về tài chính, tạo điều kiện cho
các DNTN tiếp cận các nguồn vốn Ngân hàng một cách thuận lợi. Đơn giản hóa các thủ tục đi vay, loại bỏ lãi suất trần đối với việc đi vay bằng đồng Việt
Nam. Sửa đổi hệ thống kế toán và kiểm toán hiện hành…Sửa đổi luật đất đai
43
tạo điều kiện cho KTTN trong việc thực hiện quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở, tái xác nhận việc thế chấp quyền sử dụng đất để vay Ngân hàng
hoặc góp vốn trong các liên doanh. Những chính sách trên đã làm cho KTTN Việt Nam có những bước
phát triển nhanh chóng, lan rộng khắp các ngành kinh tế và các địa phương trong cả nước. Kể từ khi có Luật doanh nghiệp mới năm 2000, số lượng
doanh nghiệp mới đăng ký tiếp tục tăng nhanh. Năm 2003 có 72000 doanh nghiêp mới đăng ký, đưa tổng số doanh nghiệp đăng ký của khu vực KTTN
lên 120000 doanh nghiệp. Số doanh nghiệp đăng ký trung bình hằng năm hiện nay gấp 3,75 lần so với con số trung bình hằng năm của gian đoạn 1991-1999.
Xét trong cơ cấu doanh nghiệp năm 2002, số DNTN chiếm tới 39,5 tổng số doanh nghiệp, công ty Trách nhiệm hữu hạn chiếm 37,5, cơng ty CP chiếm
4,9, trong khi đó doanh nghiệp Nhà nước chỉ chiếm 8 trong tổng số doanh nghiệp. DNTN phát triển nhanh trong tất cả các lĩnh vực công nghiệp, nông
nghiệp và dịch vụ, đã và đang tạo ra cơ hội phân công lại lao động và tái cơ cấu kinh tế theo chiều hướng năng động hơn, năng suất và hiệu quả hơn [24].
Trong lĩnh vực công nghiệp: Số DNTN đã tăng từ 318 doanh nghiệp năm 1988 lên 770 doanh nghiệp giai đoạn 1991-1999 và tăng rất nhanh trong
giai đoạn 2001-2003, năm 2000 cả nước có 4193 DNTN hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp. Năm 1986 khu vực KTTN chiếm 15,6 giá trị sản xuất
công nghiệp cả nước, năm 1990 đạt 29,1, năm 2002 là 34,3 [24]. Trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ: Trong lĩnh vực này số DNTN
cũng phát triển rất nhanh. Năm 1986 cả nước có 568000 DNTN và hộ cá thể tham gia hoạt động thương mại và dịch vụ, năm 1990 đạt 835000 doanh
nghiệp và hộ kinh doanh, năm 2002, cả nước có trên 26421 doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN được thành lập và có khoảng 2381300 hộ cá thể đăng
ký kinh doanh lĩnh vực trên. Vào năm 2000, khu vực KTTN chiếm trên 80
44
doanh thu trong lĩnh vực thương mại bán lẻ hàng hóa và dịch vụ cả nước [24]. Trong lĩnh vực nông nghiệp: Khu vực KTTN tham gia hoạt động dưới
hình thức trang trại và hộ nông dân sản xuất trên quy mô lớn. Năm 2002 cả nước có 2525 doanh nghiệp tư nhân, 69 công ty trách nhiệm hữu hạn và 13
triệu hộ gia đình hoạt động trong lĩnh vực nơng lâm, ngư nghiệp, trong đó 77 là hoạt động trong lĩnh vực nơng nghiệp. Hiện nay, có tới 95 sản xuất
nơng nghiệp và trên 80 xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp là do khu vực tư nhân đảm nhiệm [24].
Về quy mô vốn và đóng góp trong GDP của khu vực kinh tế tư nhân, đặc biệt là các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế này có xu hướng tăng lên.
Tỷ lệ đóng góp trong tổng GDP năm 1995 là 3,1, năm 2000 là 7,6. Tỷ trọng của các DNTN trong công nghiệp chế tạo cũng tăng nhanh, từ 2,7 lên
9 trong cùng giai đoạn [24]. KTTN phát triển góp phần giải quyết việc làm cho người lao động,
hằng năm có từ 1,6 đến 2 triệu chỗ làm mới được tạo ra từ khu vực kinh tế tư nhân, đưa số lao động làm việc trong khu vực KTTN lên ngang bằng với lao
động làm việc trong khu vực Nhà nước [24]. Ngồi ra khu vực KTTN còn góp phần tạo ra nhiều ngành nghề mới,
sản phẩm mới có khả năng khai thác hiệu quả những tiềm lực của đất nước và góp phần quan trọng vào chiến lược cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa, hướng
vào xuất khẩu của Việt Nam [24].
Một số hạn chế của khu vực KTTN trong quá trình phát triển trong giai đoạn vừa qua.
+ Số lượng doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN nhiều nhưng chưa có khả năng góp phần vào chuyển dịch cơ cấu sở hữu của các thành phần kinh tế
cũng như cơ cấu kinh tế theo hướng cơng nghiệp hóa và hiện đại hóa.
+ Các DNTN phát triển còn mang tính tự phát, chưa có quy hoạch, do vậy khơng tạo ra tính ổn định trong các lĩnh vực hoạt động và không tạo ra
45
sức bật quan trọng cho khu vực kinh tế này. + Năng lực cạnh tranh của khu vực KTTN nước ta còn yếu, đặc biệt
là cạnh tranh trên thị trường quốc tế trong điều kiện hội nhập kinh tế hiện nay.
Một số bài học kinh nghiệm rút ra: - Cần tiếp tục hoàn thiện nội dung và phương thức quản lý Nhà nước
đối với khu vực kinh tế tư nhân. + Tăng cường phân cấp quản lý Nhà nước về KTTN cho địa phương.
+ Nhà nước quản lý gián tiếp, điều tiết vĩ mô kinh tế, không can thiệp
trực tiếp và sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. + Tăng cường quản lý sản phẩm nhập khẩu, hầu hết các nước đều thực
hiện chế độ bắt buộc áp dụng các tiêu chuẩn quốc gia và tự nguyện áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế.
- Đa số các nước trong quá trình phát triển kinh tế của mình đều xác định phát triển KTTN là một nhiệm vụ quan trọng, KTTN có vai trò lớn đối
với sự phát triển kinh tế chung của quốc gia. Các nước đều chủ trương tiếp tục đẩy mạnh phát triển khu vực kinh tế tư nhân, chủ động đón nhận tồn cầu
hố và hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là ngành công nghiệp; phát triển kinh tế tri thức, phát triển các tập đoàn kinh tế đủ sức giữ vững thị phần trong nước
và cạnh tranh hiệu quả ở nước ngồi trên cơ sở đa dạng hố, linh hoạt hố và hiện đại hố cơng nghệ sản xuất và dịch vụ cung ứng sản phẩm, hoàn thiện
hơn cơ chế thị trường và tăng cường cải thiện môi trường kinh doanh theo các cam kết, tiêu chuẩn và thông lệ quốc tế.
- Để phát huy vai trò cũng như những đóng góp của KTTN với nền kinh tế đất nước, các nước đang phát triển cũng như các nước phát triển trên
thế giới đều xây dựng cho mình những cơ chế chính sách, những giải pháp hỗ trợ một cách phù hợp nhất đối với khu vực KTTN trong điều kiện nước mình.
+ Miễn giảm thuế, hỗ trợ gia cơng xuất khẩu, cho phép các công ty tư nhân được phép xuất khẩu trực tiếp.
46
+ Cải thiện môi trường kinh doanh + Thành lập các trung tâm hỗ trợ phát triển doanh nghiệp.
+ Tăng cường cung cấp thông tin về thị trường. + Có các chính sách hỗ trợ về vốn, ưu đãi đối với khu vực kinh tế
tư nhân. - Hầu hết các doanh nghiệp của các nước đều đặt trọng tâm ưu tiên vào
xây dựng phát triển thị trường có dung lượng lớn, sức tiêu thụ cao của các nước phát triển nhằm khai thác tối đa các lợi thế cạnh tranh của mình như tài
nguyên thiên nhiên, lao động rẻ...
Hệ thống xúc tiến thương mại được đặc biệt coi trọng phát triển. Trong những năm gần đây, đa số các nước đều từng bước đề ra và xúc tiến một loạt
các chính sách tự do hố thương mại, tự do hố đầu tư, khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Đối với các doanh nghiệp trong nước, thời gian đầu chỉ đảm nhận công việc đại lý, liên doanh, liên kết với các công ty lớn của nước ngồi. Từ đó họ
trưởng thành và đảm nhận các cơng việc phức tạp hơn có lợi nhuận cao hơn như: nhà thầu phụ, sản xuất linh kiện hoặc trở thành công ty con, rồi các công
ty độc lập sản xuất các sản phẩm có thương hiệu riêng.
47

3. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU


3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 3.1.1 Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý: Kim Thành là huyện đồng bằng, nằm ở phía Đơng của tỉnh Hải Dương,
trung tâm đồng bằng Bắc bộ, cách trung tâm thành phố Hải Dương 20 Km, cách thủ đơ Hà Nội 80 Km về phía tây, cách thành phố Hải Phòng 24 Km về
phía đơng. Tiếp giáp với 4 huyện: + Phía Bắc giáp huyện Kinh Mơn
+ Phía Đơng giáp huyện An Hải, Hải Phòng + Phía Nam giáp huyện Thanh Hà
+ Phía tây Bắc giáp huyện Nam Sách. Huyện Kim Thành có hệ thống mạng lưới giao thông đường bộ, đường
sắt, đường sông rất thuận lợi và phân bố khá đồng đều giữa các vùng trong huyện, tạo thế mạnh trong việc giao lưu kinh tế của huyện với các địa phương
khác. Đồng thời, Kim Thành gần các thị trường lớn để tiêu thụ sản phẩm như Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Hà Nội. Đây là thế mạnh lớn để huyện
hoà nhập vào khu vực phát triển kinh tế năng động phía bắc. Địa hình địa mạo: Địa hình của huyện nghiêng dần từ Đơng Bắc
xuống Tây Nam. Đất đai được hình thành do sự bồi đắp phù sa của hệ thống sông Thái Bình, địa hình tương đối bằng phẳng. Tuy nhiên do đặc điểm điều
kiện tự nhiên huyện Kim Thành tồn tại nhiều sơng ngòi ăn sâu vào nội đồng tạo thành những vùng úng cục bộ. Địa mạo đất đai nằm trong vùng đồng bằng
phù sa, thuộc dải đất của sản phẩm phù sa do các con sông lớn tạo thành: điển hình là sơng Hồng và sơng Thái Bình. Đất đai tương đối phì nhiêu và mầu
mỡ, độ sâu canh tác từ 15 đến 18 cm, vì vậy phù hợp với việc thâm canh cây
48

Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (174 trang)

×