1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Thạc sĩ - Cao học >

Điều kiện kinh tế

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (669.55 KB, 174 trang )


tế nhiều thành phần, có thế mạnh trong việc giao lưu kinh tế với các huyện trong tỉnh và tỉnh khác. Tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế tư nhân.

3.1.2 Điều kiện kinh tế


Kết quả phát triển kinh tế của huyện: Kinh tế huyện Kim Thành trong những năm gần đây có bước tăng
trưởng khá, giai đoạn 2000-2005 đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 7,9năm, giai đoạn 2006-2007 đạt 8,2năm. Trong giai đoạn 7 năm 2000-2007, giá trị
gia tăng của lĩnh vực công nghiệp và xây dựng tăng nhanh nhất đạt 17,1, tiếp theo là ngành dịch vụ đạt 8,9, ngành nông nghiệp và thủy sản đạt 5,0.
Tất cả các mức tăng trưởng trên của các ngành đều cao hơn mức trung bình của cả nước cùng thời kỳ. Tuy nhiên, do điểm khởi đầu phát triển của Kim
Thành không cao nên tăng trưởng kinh tế của huyện những năm qua nhanh nhưng thu nhập đầu người còn thấp đạt 4 triệu đồng ngườinăm.
Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện trong những năm qua là tương đối rõ ràng và đúng hướng, nhưng vẫn còn chậm và được thể hiện ở
một số điểm sau: + Cơng nghiệp và xây dựng có tốc độ tăng nhanh 17,1 trong giai
đoạn 2000-2007 nhưng chưa ổn định, sự chuyển dịch trong giá trị gia tăng còn chậm, từ 12,2 năm 2000 lên 21,4 năm 2007; các sản phẩm cơng
nghiệp còn nghèo nàn, chủ yếu là cơng nghiệp khai thác cát, sỏi…và chế biến nông sản với quy mơ nhỏ, chưa có các sản phẩm cơng nghiệp mũi
nhọn tạo ra giá trị gia tăng cao. + Ngành nơng nghiệp có tốc độ tặng bình qn 5năm, giai đoạn
2000-2007, tuy nhiên tỷ trọng ngành nông nghiệp trong tổng sản phẩm của huyện còn cao, chiếm 55.
+ Ngành dịch vụ cũng tương tự như công nghiệp và xây dựng, đạt tốc độ tăng 8,9 giai đoạn 2000-2007 nhưng cũng chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong
50
tổng giá trị gia tăng với 20,6 năm 2000 và 23,6 năm 2007. Sự chuyển dịch cơ cấu như trên của kinh tế huyện Kim Thành là sự
chuyển dịch đúng hướng, phù hợp với các lợi thế của huyện, góp phần đảm bảo cho nền kinh tế huyện phát triển nhanh và phù hợp với u cầu đẩy mạnh
tiến trình cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trong những năm qua đánh dấu sự phát triển của kinh tế tư nhân, khu
vực này đang chiếm vị trí quan trọng và có tác động lớn tới sự phát triển kinh tế của huyện. Trong giai đoạn tới, Kim Thành hồn tồn có thể đạt mức tăng
trưởng cao hơn nếu khai thác tốt hơn các tiềm năng, chuẩn bị tốt hơn các điều kiện về vốn, lao động, hạ tầng kỹ thuật…
Hạ tầng kỹ thuật: Nằm ở Vị trí trung tâm của vùng tam giác kinh tế trọng điểm phía Bắc
Hà Nội- Hải Phòng- Quảng Ninh, nên Kim Thành có hệ thống giao thơng thuận lợi, có đầy đủ các loại hình giao thơng: Đường bộ, đường sắt và đường
thủy. Về đường bộ có quốc lộ 5 chạy qua địa bàn với chiều dài 17,5km, đường tỉnh lộ 188 với chiều dài 16km, hệ thống đường giao thông nội địa với
tổng chiều dài 646 km toàn bộ đã được trải nhựa và bê tơng hóa 100. Đường thủy với hệ thống sông Kinh Môn, sông Rạng và sông Lạch Tray với
tổng chiều dài 55km, dọc tuyến các con sơng có 25 điểm tập kết vật liệu xây dựng là các bến cảng nội địa. Về đường sắt có tuyến đường sắt Hà Nội – Hải
Phòng chạy qua với chiều dài 17,5km có 3 điểm ga là Phú Thái, Lai Khê, Phạm Xá.
Việc phát triển các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn huyện có vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế- xã hội của Kim Thành, đảm bảo phát
triển nhanh và bền vững, sử dụng tốt và tiết kiệm quy đất, tạo công ăn việc làm cho người lao động. Hiện nay trên toàn địa bàn đã có 5 khu cơng nghiệp
tập trung đó là: Khu công nghiệp Tàu thủy Lai Vu 200ha, khu công nghiệp Cổ Dũng 200ha, Khu công nghiệp Phú Thái 75ha, cụm công nghiệp
51
Quỳnh Phúc 50ha, khu công nghiệp Kim Lương 70ha. Xây dựng các khu, cụm công nghiệp tập trung tạo điều kiện thu hút đầu tư vào địa bàn. Hiện nay
các khu công nghiệp Lai Vu, Phú Thái, Kim Lương, Quỳnh Phúc đã cơ bản lấp đầy các diện tích và các dự án đã đi vào hoạt động, khu công nghiệp Cổ
Dũng đang xây dựng và kêu gọi các nhà đầu tư. Hệ thống cấp điện: Hệ thống cấp điện của Huyện Kim Thành được
đầu tư tương đối tốt. Năm 2007 tổng công suất của các máy biến áp đạt 20240KVA. 100 số xã có điện phục vụ sinh hoạt và sản xuất, Hệ thống lưới
điện có tổng chiều dài đường dây là 366 km, gồm 3 loại đường dây 35 KV, 10KV, 0,4KV.
Hệ thống cấp nước: Trên địa bàn huyện hiện có 4 điểm cấp nước sạch là nhà máy nước Thị trấn Phú Thái, Kim Tân, Cổ Dũng và Thượng Vũ, có 3
nhà máy đang được xây dựng tiếp là Đồng Gia, Kim Xuyên và Ngũ Phúc. Ngồi ra, có 22375 bể chứa nước mưa, 22393 giếng khơi, 1516 giếng khoan.
Nước sinh hoạt của dân hiện nay chủ yếu là sử dụng là nước máy, nước sông, nước ao, nước giếng khơi, nước mưa và nước giếng khoan. Các khu dân cư
tập trung đa phần sử dụng nước máy và nước giếng khoan có bể lọc, còn một bộ phận vẫn sử dụng nước tự nhiên từ nước mưa, sơng hồ. Tính đến năm
2007 có 50 hộ dân được sử dụng nước hợp vệ sinh. Hệ thống thơng tin liên lạc: Ngành bưu chính viễn thơng đã có sự tiến
bộ vượt bậc, từng bước phát triển nâng cao chất lượng phục vụ đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội của huyện. Các Bưu cục đều được mở điện thoại
đường dài, phát hành báo chí, chuyển tiền, bưu kiện qua Bưu điện… Hiện nay, Huyện đã có tổng đài tự động và đường dây cáp quang, có 21
điểm Bưu điện văn hóa xã, có 6782 máy điện thoại chiếm 8,6 tổng số máy điện thoại tồn Tỉnh, bình qn 3,9 máy trên 100 dân.
1.3- Điều kiện xã hội
52
Theo số liệu thống kê, tính đến 31 tháng 12 năm 2007, dân số tồn huyện Kim Thành là 129263 người, xếp thứ 10 của tỉnh Hải Dương, mật độ
dân số 1102 người km
2
, lớn hơn mức trung bình của tỉnh Hải Dương 1022 người km
2
. Tốc độ tăng dân số của huyện là 0,67 thấp hơn mức trung bình của cả
nước. Xu hướng giảm tốc độ tăng dân số của huyện trong 5 năm gần đây do 2 ngun nhân chính đó là: Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên thấp và có xu hướng
giảm dần, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên năm 2000 là 1,34năm, đến năm 2007 giảm xuống còn 1,129năm; Có hiện tượng giảm dân số cơ học do chuyển
đi chuyển đến. Về cơ cấu dân số: dân số sống ở đô thị chiếm 4,5, dân số sống ở nông
thôn chiếm 94,5, thấp hơn nhiều so với mức bình quân chung của cả nước về dân số đô thị 24,7 điều này chứng tỏ tốc độ đơ thị hóa ở Kim Thành diễn ra
còn chậm. Dân số phân bố khơng đều giữa các xã trong huyện. Xã có đơng dân nhất là Kim Tân 8378 người, xã có ít dân nhất là Kim Khê 2928 người. Nam
giới chiếm 48,43, nữ chiếm 41,57 tương đương mức trung bình của cả nước. Cơ bản dân số huyện Kim Thành có cơ cấu dân số trẻ, tỷ lệ trẻ em từ 1
đến 14 tuổi chiếm khoảng 31, từ 15 đến 59 là 57,7, trên 60 chiếm 11,3. Trí lực của dân số ở mức trung bình so với các địa phương khác trong
vùng. Là một trong những huyện đạt công tác phổ cập giáo dục cao, có 2121 xã, thị trấn hồn thành phổ cập giáo dục Trung học cơ sở, chất lượng giáo dục
ngày càng được nâng cao. Về chăm sóc Y tế: ở mức trung bình so với các huyện khác trong
tỉnh, tồn huyện có 2121 trạm y tế được xây dựng kiên cố và bán kiên cố, có 01 Bệnh viện đa khoa trung tâm phục vụ cho nhu cầu khám chữa
bệnh của nhân dân. Mức sống dân cư ngày càng được cải thiện, thu nhập bình quân đầu
53
người đạt từ 3,5 triệu, năm 2000 lên 4,1 triệu, năm 2005 và 4,6 triệu, năm 2007. Tỷ lệ hộ gia đình xếp loại nghèo ngày càng giảm, giảm từ 8,9 năm
2000 xuống còn 6,7 năm 2007. Chất lượng dân số ngày càng được cải thiện, đó vừa là mục tiêu vừa là
điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện phát triển kinh tế xã hội của huyện trong những năm tiếp theo.
3.2 Phương pháp nghiên cứu 3.2.1 Phương pháp thống kê mô tả, thu thập số liệu

Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (174 trang)

×